CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE ROI LOAN GIAO TIẾP VA CAN THIEP TAM LY CHO TRE GAP ROI LOAN GIAO TIEP 1. Tổng quan về rối loạn giao tiếp 1. Nghiên cứu dịch té về rỗi loạn giao tiếp - Theo Udayan K.Shah at Thomas Jefferson University đưa ra thống kê đánh giá về mặt y tế: Có hơn 10% trên tổng số trẻ sinh ra sẽ có những rồi loạn giao tiếp Có hơn 6% trẻ em đến tuôi đến trường có vấn đề về giọng nói Có hơn 5% trẻ em đi học lớp 1 có rồi loạn lời nói, phát âm bị hạn chế Có khoảng 5% trẻ khỏe mạnh gặp khó khăn trong việc hiểu và biểu hiện ngôn ngữ - Khoảng hai trẻ em trong mỗi lớp 30 học sinh bị rối loạn ngôn ngữ, sẽ đủ nghiêm trọng để cản trở sự tiến bộ trong học tập (Norbury 2016).
Trên tap trí rỗi loạn nghe nói, tập 55 của trường đại hoc Brown về y khoa và bệnh viện Bradley 2014 dé cập về nội dung “rối loạn giao tiếp và cảm xúc hành vi ở trẻ em và người lớn” đề cập: Các nghiên cứu về tâm thần học trẻ em đã chứng minh một tỷ lệ cao các rối loạn về lời nói, ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ em được chuyển đến các cơ sở sức khỏe tâm thần cho các vấn đề về cảm xúc và hành vi. Đồng thời các trẻ em được chuyền đến các phòng khám ngôn ngữ và giao tiếp để điều trị rối loạn giao tiếp được phát hiện có tỷ lệ cao mắc các rối loạn tâm thần. Sự hiểu biết về mối liên hệ phức tạp giữa các rối loạn giao tiếp và các rồi loạn cảm xúc và hành vi, là rất quan trọng đề chân đoán, đánh giá và điều trị. Nghiên cứu chứng minh răng có mối liên hệ tương quan giữa rối loạn giao tiếp, rỗi loạn cảm xúc và rối loạn hành vi ở trẻ em (Baker & Cantwell, 1987a, Gualtieri, Koriath, Van Bourgondien, & Saleeby, 1983) tài liệu chứng minh rang trẻ em bị chậm phát trién, rối loan phát triển lời nói hoặc ngôn ngữ có nguy cơ đôi diện với cả rôi loạn tâm thân và học tập.
Các nhà nghiên cứu về bệnh học ngôn ngữ đã tìm hiểu van dé rối loạn ngôn ngữ băng cách nghiên cứu các chủ đề như các dạng rối loạn giao tiếp trong quần thé tâm thần trẻ em (Baltaxe & Simmons, 1988a, 1988b); Sự tự tin ở trẻ em rồi loạn giao tiếp (Brandell & Wirhanowicz, 1985); Rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em có rối loạn hành vi nhẹ/ trung bình (Camarata, Hughes, & Ruhk, 1988); Rối loạn ngôn ngữ và lời nói trong bệnh viện nội trú (Burks, 1987).Các nghiên cứu này ghi nhận một ty lệ cao về sự đồng xuất hiện của chứng chán ghét giao tiếp và rồi loạn cảm xúc/ hành vi của trẻ và thanh thiếu niên. Thực trạng ở Việt Nam: Ước tính có 1% dân số bị rối loạn giao tiếp năm 2000. Từ năm 2000 đến 2027 số lượng trẻ bị RLGT đã tăng gấp 50 lần. Tính đến năm 2009 Việt Nam có 200.000 trẻ có RLGT - Năm 2019 Việt Nam ước tính có 1 triệu trẻ em bị RLGT.
Và con số này ngày càng tăng lên trong những năm gần đây. - Các vấn đề của RLGT ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của trẻ: chất lượng cuộc sông và tinh than của trẻ gặp khó khăn, cảm xúc của trẻ bị rỗi loạn. Đặc biệt trẻ nhỏ có sự ảnh hưởng rất quan trong đến gia đình. Nên số lượng người bị ảnh hưởng trực tiếp ước tính khoảng 8 triệu người.
- Ngày nay ty lệ trẻ gặp RLGT ngày càng tăng và gây ra những khó khăn trong cuộc sống và khiến các trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên có những biểu hiện của rồi loạn cảm xúc. Điều này gây can trở cho cuộc sông sinh hoạt và học tập của trẻ 1. Nghiên cứu về hậu quả của rỗi loạn giao tiếp Rối loạn giao tiếp có tác động sâu rộng đối với trẻ và cha mẹ hoặc người chăm sóc của trẻ trong cả ngắn han và dài hạn. Các nghiên cứu chi ra rang chúng có thé có những tác động tiêu cực đến thành tích của trường học (Aram 1984; Baker 1987; Bishop 1990; Catts 1993; Tallal 1997).
Đã có báo cáo rằng "khoảng hai trẻ em trong mỗi lớp 30 học sinh bị rối loạn ngôn ngữ, sẽ đủ nghiêm trọng đề cản trở sự tiến bộ trong học tập" (Norbury 2016). Chúng cũng có thể liên quan đến các vấn đề xã hội, cảm xúc và hành vi mắc phải (Huney 1988; Rice 1991; Rutter 1992; Stothard 1998; Cohen 2000; Conti - Ramsden 2004), và với những khó khăn về tương tác đồng dang (Murphy 2014). Trẻ em bị rối loạn giao tiếp hoặc rối loạn ngôn ngữ cũng có thé gặp khó khăn lâu dai, kéo dài đến tuổi vị thành niên và hơn thế nữa (Rescorla 1990; Haynes 1991; Johnson 1999). Với khoảng 30% đến 60% gặp các van dé liên tục về đọc và đánh van.
Có những khó khăn ban dau trong việc dự đoán kết quả của người lớn về khả năng đọc viết, sức khỏe tâm thần và khả năng làm việc (Luật 2009a). Nghiên cứu về can thiệp tâm lý cho trẻ rỗi loạn giao tiếp DSM-5 cho thấy sự ra đời của Rối loạn Giao tiếp xã hội đặc trưng bởi những khó khăn dai dăng khi sử dụng giao tiếp bằng lời nói và không lời cho các mục đích xã hội, trong trường hợp không bị hạn chế thì sở thích và hành vi lặp di lặp lại. Hiện có nhiều nhằm lẫn về tiêu chuẩn chân đoán chính xác cho rối loạn giao tiếp. Rối loạn này liên quan như thé nào đến rối loan phố tự ky (ASD), các mô tả trước đây về ngôn ngữ thực dụng suy giảm (PLI) và rối loạn ngôn ngữ cu thể (LD).
Vì vậy các tiêu chí đề xuất cho rối loạn giao tiếp xã hội (SPCD) được đưa ra. Việc xem xét có chọn lọc các băng chứng xem liệu các tiêu chí này có tạo thành một công cụ chân đoán gắn kết và riêng biệt hay không. Các phương pháp tiếp cận dé đánh giá và can thiệp được thảo luận, và kết quả là: (1) việc triển khai chân đoán mới hiện đang bị thách thức bởi thiếu các biện pháp đánh giá được khoa học công nhận và đáng tin cậy. (2) sự liên quan giữa các rối loạn giao tiếp xã hội (SPCD) với các rối loạn phát triển thần kinh khác.
(3) tỷ lệ mắc bệnh đi kèm giữa rỗi loạn giao tiếp xã hội (SPCD) và các bệnh khác có vẻ khác nhau. Kết luận được đưa ra là: khái niệm rối loạn giao tiếp xã hội (SPCD) được hình thành như một hồ sơ triệu chứng, có thể xuất hiện trên một loạt các rối loạn phát triển thần kinh. Ngoài ra, giao tiếp xã hội và các khía cạnh của ngôn ngữ thực dụng có thể bị tách rời, vì các biện pháp đánh giá đáng tin cậy và hợp lệ về mặt văn hóa để đưa ra chân đoán phân biệt còn thiếu, và số lượng chương trình can thiệp được kiểm tra nghiêm ngặt còn ít. Khi ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết quả lâm sàng thực hành được nêu ra, từ đó có rât nhiêu các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đên các tiêu chí đánh giá về rối loan phổ tự kỷ, rối loạn ngôn ngữ, ngữ dụng, rối loạn giao tiếp xã hội (SPCD) được thực hiện Các tiêu chuẩn dé chân đoán những đứa trẻ có sự rối loạn phát triển về giao tiếp xã hội và ngôn ngữ thực dụng không điển hình đã được tranh luận từ lâu (x.Brooks & Bowler, 1992) và được thúc đây rất mạnh trong thời gian gan đây.
Allen giới thiệu và gọi tên rối loạn giao tiếp xã hội, rối loạn ngôn ngữ thực dụng như một thuật ngữ mô tả được áp dung phô biến nhất cho các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ em mắc chứng rối loạn phố tự ky (ASD). Nhưng họ thừa nhận rang giao tiếp xã hội và những khiếm khuyết về ngôn ngữ thực dụng cũng được nhìn thấy trong nhiều rối loạn phát triển khác. Bishop và Rosenbloom (1987) coi “rối loạn giao tiếp xã hội” đại diện cho một nhóm riêng biệt của trẻ em hoặc người lớn được chân đoán giữa rối loạn phố tự kỷ ASD và khiếm khuyết ngôn ngữ cụ thé (SLI). Cả hai hệ thống nhấn mạnh sự thiếu hụt trong giao tiếp xã hội về khả năng ngôn ngữ thực dụng trong bồi cảnh giao tiếp và ngữ pháp phù hợp với lứa tuổi.
Trong nỗ lực cải thiện về độ chính xác chân đoán và độ tin cậy, Bishop (1998) đã tạo ra danh sách kiểm tra thông tin liên lạc của Children”s Com, danh sách này đã nhanh chóng được sử dụng rộng rãi làm thước đo tiêu chuẩn về ngôn ngữ thực dụng, khả năng nghiên cứu và bối cảnh lâm sàng. Tuy nhiên, Bishop (1998) báo cáo rằng các mục ngữ nghĩa không phân biệt một cách đáng tin cậy ở trẻ em. Có sự nghi ngờ về mặt xã hội những thiếu hụt ngôn ngữ thực dụng từ những đứa trẻ đang phát triển điển hình hoặc ngang hàng với khiếm khuyết ngôn ngữ (SLI). Do đó, thuật ngữ “ngôn ngữ thực dụng suy giảm (PLI)” đã được chấp nhận chung cho trẻ em tiêu học gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh (xã hội hoặc ngôn ngữ học) và người không đạt tiêu chí chân đoán về rối loạn phát triển lan tỏa.
Các nghiên cứu tiếp theo chưa làm rõ rằng: nhiều trẻ em được xác định những thiếu sót ngôn ngữ thực dụng bằng cách sử dụng các công cụ chân đoán bị thiếu hụt về cấu trúc ngôn ngữ và thực dụng (Norbury, Nash, Baird, & Bishop, 2004). Sự thiếu hụt được biêu hiện trên một loạt các điêu kiện thị giác ở cap độ thân kinh, một sô liên quan đến việc làm suy giảm chức năng nhận thức nói chung của người bệnh (Luật & Bishop, 2004). Trong rối loạn phổ tự kỷ (ASD) sự thiếu hụt ở các khía cạnh thực dụng ngôn ngữ là một dấu hiệu được công nhận cua disor der (Tager- Flusberg, Paul, & Lord, 2005). Tuy nhiên, trẻ em bị rối loan phổ tự ky (ASD) thường được xác định là có rối loạn giao tiếp xã hội, chứ không phải ngôn ngữ thực dụng suy giảm (PLD), nhằm nhắn mạnh khó khăn với giao tiép mặt đối mặt mà các cá nhân mắc rỗi loạn phô tự ky (ASD) có thé gặp phải Ngày nay, có nhiều các công trình nghiên cứu trên khắp thế giới về các phương pháp hỗ trợ và khắc phục hậu quả những ảnh hưởng đến chức năng sinh sống, hành vi cảm xúc, học tap.
của các rỗi loạn giao tiếp xã hội, rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn ngôn ngữ thực dụng. đối với trẻ em và người lớn 1. Một số vấn đề lý luận về rối loạn giao tiếp 1.