Chương 1: Tổng quan tài liệu; Chương 2: Đối tượng, địa bàn và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục. TONG QUAN TÀI LIEU 1. MOT SO DAC DIEN PHAT TRIEN CO THE TRE VI THANH NIEN 1. Các giai đoạn phát triển của trẻ vị thành niên Trong quá trình phát triển, cơ thé trẻ em có những đặc điểm về giải phẫu, sinh lý và bệnh lý mang tính đặc trưng cho từng lứa tuổi.
Dựa vào đặc điểm này, có thể chia ra thành 6 giai đoạn phát triển của trẻ [45]: Giai đoạn phát triển trong tử cung: Quá trình này kéo dài khoảng 270-280 ngày, chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn phôi còn gọi là giai đoạn biệt hóa (khoảng 3 tháng) và giai đoạn thai nhi (thời gian còn lại trong bung mẹ) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Giai đoạn sơ sinh, bú mẹ và trước khi đến trường: Giai đoạn này kéo dài từ lúc sơ sinh đến 5 tudi. Giai đoạn hoc tiêu học: Giai đoạn này kéo dai từ 6 đến 11 tuổi. Ở giai đoạn này sự tăng trưởng của trẻ thường chậm nhưng cũng có một số trẻ phát triển sớm.
Giai đoạn dậy thì: Ở nam từ 13 đến 16 tuổi, còn nữ từ 11 đến 15 tuổi. Trong giai đoạn này, dưới tác dụng của hocmon tuyến yên và tuyến sinh duc, trong cơ thé trẻ em diễn ra hàng loạt những biến đồi về hình thái cũng như chức năng, đây là thời kỳ biệt hóa giới tính lớn nhất [45]. Lửa tuổi vị thành niên kéo dài trong khoảng 10 năm từ 10 đến 19 tuổi. Đây là lứa tuổi chiếm tỉ lệ cao (34%) dân sé thế giới [3, 77].
Lita tuổi này được quan tâm bởi nó không những chiếm một tỉ lệ khá cao trong tháp dân số, mà lứa tuổi này tăng nhanh đáng ké so với các nhóm tuổi khác. Giữa những năm của thập ki 60 và 80 trong khi dân số thế giới tăng 46% thì lứa tuổi vị thành niên tăng 66%. Có một tỉ lệ rất cao thanh thiếu niên sống ở các nước đang phát triển và tỉ lệ này tăng lên rất nhanh [77]. Theo thống kê năm 1980 có 77% dân số là ở lứa tuổi vị thành niên sống ở các nước đang phát triển và đã tăng lên 83% vào năm 2000 [76].
Hơn nữa, lứa tuéi vị thành niên có giai đoạn dậy thì. Đây là một bước ngoặt cơ bản trong đời sống của mỗi con người. Day thì là thời kỳ quá độ chuyền biến từ trẻ tho sang người trưởng thành, tuy nhiên về hành vi trong giai đoạn này có những biến đổi bat thường, những biểu hiện 15 chứng tỏ đã có những thay đổi nhưng vẫn còn biểu hiện thé hiện không là trẻ con nhưng vẫn chưa han là một người lớn, là thời kỳ mà bat cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng [6]. Dậy thì là một giai đoạn phát triển vượt bậc về các chỉ số hình thé của cơ thé, chiều cao của trẻ tăng nhanh và đạt đến “Đỉnh của gia tốc tăng chiều cao — Peak Height Velocity” khi mà trẻ có thé tăng khoảng 8 -10 cm/1năm và mức tăng giảm dan sau đó.
Đây cũng là một trong hai giai đoạn mau chốt cho sự phát triển nhanh của cơ thê trong suốt quá trình tăng trưởng (có sự tham gia của hormon tăng trưởng GH và các hormone sinh dục: Testosteron ở nam và Oestrogen ở nữ). Giai đoạn này chăm sóc dinh dưỡng tốt, đặc biệt là cung cấp đủ canxi sẽ tạo nên một bộ xương với mật độ xương tối ưu cho cơ thé trưởng thành sau này [44]. Cũng trong giai đoạn day thì có nhiều hy vọng dé khắc phục các van đề chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng ở các giai đoạn trước [77]. Thời kỳ dậy thì bat đầu từ lứa tuôi thiếu niên khi có những biểu hiện tinh sinh dục thứ yếu (thay đổi tuyến vú và tinh hoàn, mọc lông ở nách và xương mu, bước “nhảy vọt tăng trưởng”.
Nó thay đổi theo giới, tình trạng dinh dưỡng, môi trường văn hoá, xã hội. Sự thay đổi thần kinh - nội tiết, mà nồi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh duc, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thé. Cân nặng của trẻ nữ tăng trung bình 3- 4 kg/năm; của trẻ nam tăng 5 - 6 kg/năm. Chiều cao trẻ nữ tăng 4 — 7 cm/năm, trẻ nam tăng 7 - 9 cm/năm [5].
Vì vậy, vấn đề cung cấp dinh dưỡng cần được quan tâm đặc biệt. Sau khi dậy thì hoàn toàn, thì tốc độ tăng trưởng giảm xuống rất nhanh và ngừng han ở nữ vào tuổi 19 — 20 [10]. Quy luật phát triển và và đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 1. Quy luật phát triển Tăng trưởng là tăng lũy tiễn kích thước hệ xương khớp và các mô trong cơ thé người.
Tăng trưởng chỉ về khối lượng, bắt đầu từ khi thụ thai đến khi trưởng thành. Phát triển biểu thị sự trưởng thành các chức năng sinh lý của tất cả các cơ quan và hệ thống cơ thé, đạt được những kỹ năng nhằm tối ưu hóa các chức năng trên cơ thé con người [45]. 16 Mỗi cá thể có một mô hình tăng trưởng riêng. Tốc độ cũng như tỷ lệ tăng trưởng các mô và cơ quan trong cơ thê cũng khác nhau.
Trẻ nam tăng trưởng và phát triển nhanh hơn trẻ nữ. Ngưỡng phát triển bình thường tương đối rộng, chức năng các cơ quan và hệ thống cơ thê hoàn thiện dần theo thời gian và kết thúc tại các thời điểm khác nhau. Tuổi dậy thì ở nam và nữ cũng khác nhau, ở nữ xuất hiện sớm từ 11 - 13 tuổi nhưng ở nam xuất hiện muộn hơn 2 - 3 năm. Trẻ ở nông thôn dậy thì muộn hơn ở thành thị.
Trước tuổi dậy thi, các thông số về thé lực ở nữ thấp hơn ở nam, nhưng sau khi dậy thì các thông số này ở nữ đuổi kịp và vượt nam, sau đó ở tuổi 16 thì các thông số này của nam lại đuổi kip nữ và vượt xa nữ. Đặc điển tâm sinh lý lứa tuổi học sinh * Thời kì từ 7 - 11 tuổi Đây là thời kì cảm xúc, trẻ đặc biệt dễ bị ấn tượng và tổn thương tam lý. Hệ sinh dục bắt đầu phát triển, những ham muốn đòi hỏi và tự do cá nhân, độc lập trong hành động, quan hệ tế nhị trên nguyên tắc tôn trọng và tế nhị là đảm bảo thành công trong việc giáo dục nhân cách. Việc giáo dục qua hành động cụ thể và sự gương mẫu của người lớn có ý nghĩa rất quan trọng.
Tính cách bắt đầu được hình thành trong giai đoạn này. Ở giai đoạn này trẻ thường chủ quan do thiếu kinh nghiệm sống, kĩ năng quan sát và nhận xét còn yếu, vốn từ xã hội phát triển nhưng chưa hoàn thiện. * Thời kì từ 12 - I5 tuổi: Đây là giai đoạn này trẻ phát triển nhanh các chỉ số thể lực, chân tay đài ra nhanh, các điểm uốn cong của cột sống được hình thành cũng chưa ôn định, do vậy cần chú ý đề phòng biến dạng cột sống. Hệ cơ bắt đầu phát triển mạnh về bé dày, khung xương cũng phát triển theo chiều trước sau và chiều ngang (nam giới thé hiện rõ nhất).
Hệ hô hấp và tim mạch phát triển và hoàn thiện dần nên học sinh tiếp tục được củng cố tố chất khéo léo, nhanh nhẹn và sức mạnh cơ bắp bắt đầu phát triển. Hệ miễn dịch được hoàn thiện và ồn định nên sức dé kháng với môi trường tăng lên [45]. * Thời kì 16 - 18 tuổi: Thời kì này giảm nhanh các chỉ số về tốc độ phát triển thé lực. Các tố chất thé 17 lực và sinh lý ở giai đoạn trước được hoàn thiện nên học sinh có thé được coi là người lớn cả về sinh lý, cả về thể chất, chỉ khác là ở kiến thức và kinh nghiệm từng trải thực tế.
Cần củng cố mọi tố chất thé lực đã hình thành từ các giai đoạn trước va bắt đầu chú trọng việc phát triển các tố chất sức mạnh và sức bền [45]. Yếu tố tinh thần phát triển theo hướng tự chủ, độc lập, có quan điểm, tư tưởng và ý thích riêng. Sự tế nhị và tôn trọng các em như một người lớn là một nguyên tắc sư phạm đối với tất cả người lớn (phụ huynh và giáo viên). Mọi sự cắm đoán và giáo điều sẽ phản tác dụng và càng làm sâu sắc thêm tính tự do và chống đối ngầm, nảy sinh sự nói dối.
Chức năng thần kinh được hoàn thiện; tỷ lệ các quá trình thần kinh giữa vỏ não và dưới vỏ não hài hòa và năng động nên có ít biến động. Các tô chat trí tuệ ở giai đoạn trước như: khả năng phân tích, cô đọng, tổng hợp thông tin cần được hoàn thiện; bắt đầu huấn luyện, phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế. Tiếp tục củng cố, hoàn thiện ki năng đọc nhanh [45]. Sự phát triển thể lực và khuynh hướng gia tăng tăng trưởng của lứa tudi học sinh Sự tăng trưởng của con người chịu ảnh hưởng của cả yếu tổ di truyền và yếu tố ngoại cảnh, đặc biệt là dinh dưỡng.
Thiếu dinh dưỡng, dinh dưỡng không đúng cách làm trẻ chậm lớn và tuổi dậy thì cũng muộn hơn so với trẻ được chăm sóc đầy đủ dinh dưỡng [77]. Công trình nhân trắc học đầu tiên phản ánh sự gia tăng tăng trưởng cơ thê ở người Việt Nam do Mondière tiễn hành năm 1875, các công trình về sau vào các thập niên 1930, 1940 đã cho thấy có biểu hiện về sự gia tăng tăng trưởng ở trẻ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chiều cao trung bình ở người trưởng thành trong thập kỷ 1990 đã cao hơn các thập kỷ trước đó (1938-1985) [77]. Khuynh hướng gia tăng về tăng trưởng ở người Việt Nam đã xuất hiện, đây là một biểu hiện sinh học quan trọng chứng minh sự cải thiện về tầm vóc, thé lực và cần được theo dõi, giám sát một cách khoa học.
Thể lực là khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thé, nó liên quan chặt chẽ tới thê trạng, hình thái, sức khỏe, sức lao động, thâm mỹ và khả năng vận động 18 của mỗi cá nhân con người. Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là số đo về kích thước cơ thể. Trong đó, chiều cao đứng, cân nặng là những chỉ số đặc trưng cơ bản phản ánh thê lực của con người. Từ các số đo này có thể tính các chỉ số biểu hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số WHR, chỉ số BMI,.