Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở TRẺ MẦM NON 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, bên cạnh tình cảm, và hành vi. Nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người. Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân mình, trên cơ sở đó, con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động.
Lý luận về nhận thức được hình thành vào khoảng thế kỷ 17 với các tư tưởng sơ khai của các nhà triết học như René Descartes, Immanuel Kant. Đến nửa cuối thế kỷ 20 tâm lý học nhận thức hình thành và khái niệm nhận thức được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý bao gồm: tri giác, tư duy, động cơ…(dẫn lại theo Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2013) [1]. Thuật ngữ “tâm lý học nhận thức” lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1967 bởi nhà tâm lý học Mỹ Ulric Neisser trong cuốn sách “Tâm lý học nhận thức”. Theo Neisser, nhận thức liên quan đến tất cả các quá trình chuyển đổi, giảm bớt, hoàn thiện, lưu trữ, phục hồi, và sử dụng các cảm giác kể cả trong trường hợp không có sự kích thích liên quan, như trong hình ảnh và ảo giác.
Một cách chung nhất nhận thức tham gia vào mọi hoạt động của con người, tất cả các hiện tượng tâm lý đều có thể coi là hiện tượng nhận thức (dẫn lại theo Trần Văn Hô, 2012) [10]. Như vậy có thể hiểu nhận thức là những gì được nhận biết hoặc là tri thức có được thông qua kinh nghiệm cá nhân. Trước Neisser, Scheerer cũng đưa ra định nghĩa nhận thức là quá trình trung gian đại diện cho các sự kiện nội tâm và ngoại tâm: Nó là hình thức tổ chức các hiện tượng nằm giữa nguồn kích thích và sự điều chỉnh hành vi. Festinger đã định nghĩa các thành tố nhận thức là sự nhận thức, điều mà cá nhân biết về bản thân, về hành vi và môi trường xung quanh (dẫn lại theo Trần Văn Hô, 2012) [10].
Theo quan điểm Triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con 11 người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Quá trình này diễn ra ở các mức độ: Kinh nghiệm hàng ngày về sự vật, hiện tượng và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống; Khoa học các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ có hệ thống với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng sai. Theo đó, nhận thức là sự phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng trong mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Sống trong điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức được những quy luật của tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người (dẫn theo vi.org, từ khóa “Nhận thức”, truy cập ngày 20/06/2020).
Tác giả Bùi Minh Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” cho rằng: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất) [11]. Các nhà tâm lý học Mỹ coi nhận thức là một thuật ngữ khái quát hóa mọi dạng hiểu biết, bao gồm cảm giác, tri giác, sự nhận biết hình mẫu, ghi nhớ, suy nghĩ và giải quyết vấn đề.
Nhận thức là một quá trình thể hiện qua các khái niệm, các mệnh đề, các quy tắc, các điều nhớ lại. Một số quá trình nhận thức về thế giới xung quanh thể hiện qua tâm trí như quá trình phân loại thông tin và lý giải các trải nghiệm, một số quá trình nhận thức khác hướng vào nội tâm như những gì xảy ra trong giấc mơ và những chuyện tưởng tượng. Các quá trình nhận thức cho thấy ý nghĩa của các tín hiệu mã hóa của hệ thần kinh truyền tới từ mắt và từ các giác quan khác. Những điều này có nghĩa nhận thức bao gồm cả hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23].
Trong quá trình nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ khác nhau từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp. Mức độ thấp là nhận thức cảm tính, đó là cảm giác, tri giác, trong đó con người biết được những cái bên ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động tới giác quan của con người; mức độ 12 cao hơn là nhận thức lý tính, còn gọi là quá trình tư duy, con người nắm được cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật, bản chất của sự việc hiện tượng. Các quá trình này bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con người (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23]. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những mức độ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan.
Nhận thức bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Quá trình này phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người. Như vậy, quá trình nhận thức được hiểu là quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết được toàn bộ hiện thực. Quá trình này diễn ra liên tục và không bao giờ ngừng bởi hiện thực khách quan là vô cùng và luôn luôn phát triển (dẫn theo Nguyễn Quang Uẩn, 2000) [23].
Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1995) trong cuốn “Từ điển tâm lý học” đã định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ nhận thức hết hiệu lực, phải thấy dần đến cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực để đi hết bước này đến bước khác” [24]. Nguyễn Quang Uẩn (2000) định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tâm lý. Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ảnh hiện thực khách quan.
Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm. Theo định nghĩa này, nhận thức không chỉ đơn thuần là hiện tượng mà còn là hoạt động thực tiễn của con người có những mục đích nhất định, đồng thời tạo ra những sản phẩm mang tính thực tiễn về hình ảnh, hình tượng, khái niệm [23]… Tác giả Vũ Dũng (2012) trong cuốn “Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học” cho rằng: “Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng. Hiểu nhận thức là một 13 quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá” [6]. Nhìn chung có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về nhận thức.
Điểm chung của các khái niệm đó là đề cập đến mặt tích cực của con người, đề cập đến khả năng phản ánh những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất của hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của chủ thể. Con người sống trong điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải nhận thức được quy luật tự nhiên và xã hội, để cải tạo nó đồng thời cũng chính là cải tạo bản thân mình. Nhận thức phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm các quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại) đến hiểu (có thể áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới). Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục không ngừng, mang bản chất xã hội - lịch sử.
Kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức cho ta hiểu biết và giúp cho con người ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp cận chân lý. Kiến thức là những hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên và xã hội, nhờ học tập trong nhà trường và từng trải trong thực tế cuộc sống mà có. Kiến thức của loài người là kết quả của quá trình nhận thức. Kiến thức phong phú, đa dạng vì nó phản ánh đúng sự vật hiện tượng và các quan hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan nhưng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật chính xác.
Nhận thức của con người luôn có tính đối tượng; đối tượng phản ánh nhận thức của con người không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động nhận thức của mình vào đối tượng bên trong và bên ngoài của con người, vào những vật cụ thể và những vật trừu tượng. Như vậy, theo chúng tôi nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thật về thế giới khách quan trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng xung quanh và bản thân con người, trên cơ sở đó con người bày tỏ thái độ, tình cảm và hành động của mình. Bản chất của nhận thức Nhận thức là quá trình tâm lý, phản ánh bản thân hiện thực khách quan. Ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động có chủ đích.
Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan.