Luận Án Tiến Sĩ Về Kỹ Năng Quản Lý Cảm Xúc Của Giáo Viên Mầm Non

Tài liệu Kỹ năng quản lý cảm xúc cho giáo viên mầm non tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành giai đoạn 2020-2025

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

231
112
6

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1. Những nghiên cứu về quản lý cảm xúc

1.2. Hướng nghiên cứu về quản lý cảm xúc của các đối tượng khác nhau

1.3. Hướng nghiên cứu về lao động cảm xúc, công việc cảm xúc và quản lý cảm xúc của giáo viên

1.4. Những nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc

1.5. Hướng nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc với tư cách là một thành phần của trí tuệ cảm xúc

1.6. Hướng nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc trong giáo dục kỹ năng sống

1.7. Những nghiên cứu về yêu cầu nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non

1.8. Hướng nghiên cứu về phẩm chất, năng lực và trí tuệ cảm xúc của giáo viên mầm non

1.9. Hướng nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.10. Hướng nghiên cứu về giải pháp đổi mới, phát triển phẩm chất, năng lực và kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.11. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON

2.1. Lý luận về quản lý cảm xúc

2.2. Các lý thuyết về cảm xúc

2.3. Cấu trúc của cảm xúc

2.4. Vai trò của cảm xúc

2.5. Phân loại cảm xúc

2.6. Cảm xúc của giáo viên mầm non

2.7. Lý luận về giáo viên mầm non

2.8. Tính đặc thù trong nghề nghiệp của giáo viên mầm non

2.9. Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non

2.10. Lý luận về kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

2.11. Kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

2.12. Tiêu chí và mức độ đánh giá kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non trong quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ

2.13. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

2.14. Nhận thức của giáo viên mầm non về quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc

2.15. Áp lực công việc của GVMN

2.16. Cách thức giao tiếp trong tập thể sư phạm

2.17. Cơ hội phát triển trong công việc

2.18. Mức độ gắn bó với tổ chức

2.19. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.2. Các giai đoạn nghiên cứu

3.3. Địa bàn và mẫu nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.4.2. Phương pháp chuyên gia

3.4.3. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

3.4.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.4.5. Phương pháp bài tập tình huống

3.4.6. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý

3.4.7. Phương pháp quan sát

3.4.8. Phương pháp phỏng vấn

3.4.9. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

3.4.10. Phương pháp thực nghiệm

3.4.11. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Thực trạng cảm xúc của giáo viên mầm non trong quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ

4.2. Mức độ xuất hiện cảm xúc tích cực và tiêu cực trong công việc của giáo viên mầm non

4.3. Mức độ ảnh hưởng của cảm xúc đến hiệu quả công việc của giáo viên mầm non

4.4. Thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.5. Thực trạng chung về kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.6. Thực trạng các kỹ năng thành phần thuộc kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.7. So sánh kỹ năng quản lý cảm xúc chung của giáo viên mầm non với các biến nhân khẩu

4.8. Mối tương quan giữa các kỹ năng thành phần trong kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.10. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.11. Một số mô hình dự báo sự thay đổi kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh từ các yếu tố ảnh hưởng

4.12. Nghiên cứu trường hợp về kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.12.1. Trường hợp 1: Cô giáo Đ

4.12.2. Trường hợp 2: Cô giáo B

4.12.3. Nhận xét chung về 2 trường hợp

4.13. Đề xuất các biện pháp nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.13.1. Cơ sở đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng quản cảm xúc của giáo viên mầm non

4.13.2. Một số biện pháp nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non

4.13.3. Thực nghiệm biện pháp rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc cho giáo viên mầm non thông qua tập huấn chuyên đề

4.14. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU NÀY

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề tài và lý luận

Luận án Tiến sĩ "Kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non" của Lê Thị Thanh Huyền tập trung vào một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực giáo dục mầm non. Đề tài này rất cấp thiết bởi cảm xúc đóng vai trò then chốt trong hiệu quả công việc của giáo viên, đặc biệt là với trẻ mầm non – đối tượng nhạy cảm và dễ bị tổn thương. Luận án chỉ ra rằng cảm xúc vừa là động lực, vừa có thể là rào cản trong hoạt động của giáo viên. Vì vậy, kỹ năng quản lý cảm xúc là yếu tố then chốt, giúp giáo viên nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc để nâng cao hiệu quả chăm sóc và giáo dục trẻ. Như Izard (1977) đã nói: “Cảm xúc tạo nên hệ động cơ chính của con người… không nên nghĩ cảm xúc là yếu tố đối lập hoàn toàn với trí tuệ” [175]. Luận án nhấn mạnh vào tính đặc thù của nghề giáo viên mầm non, đòi hỏi sự kết hợp giữa tình yêu trẻ, sự tận tâm và kỹ năng quản lý cảm xúc. Việc Bộ GD&ĐT đưa “Quản lý cảm xúc bản thân của người GVMN” vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên càng khẳng định tính cấp thiết của vấn đề này [9]. Về mặt lý luận, luận án dựa trên các nguyên tắc tâm lý học như nguyên tắc hoạt động - nhân cách, nguyên tắc phát triển tâm lý, nguyên tắc tiếp cận hệ thống và nguyên tắc tiếp cận tâm lý học sư phạm. Điều này giúp xây dựng nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp thực tiễn.

II. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi

Luận án sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu để thu thập và phân tích dữ liệu một cách toàn diện. Các phương pháp được sử dụng bao gồm: nghiên cứu văn bản tài liệu, phương pháp chuyên gia, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bằng bảng hỏi, bài tập tình huống, trắc nghiệm tâm lý, quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp và thực nghiệm. Việc kết hợp nhiều phương pháp này giúp tăng tính khách quan và độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu đa dạng với 479 giáo viên mầm non tại 25 trường (công lập, tư thục, quốc tế) ở các quận Bình Thạnh, Tân Bình, Quận 1, Quận 3 và Quận 5, TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu còn bao gồm hiệu trưởng, hiệu phó và phụ huynh để có cái nhìn đa chiều về vấn đề. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào biểu hiện và mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ. Luận án tiếp cận kỹ năng quản lý cảm xúc như một năng lực, dựa trên lý thuyết trí tuệ cảm xúc và lý thuyết nhận thức. Khung phân tích bao gồm ba kỹ năng thành phần: nhận diện, kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc. Hai tiêu chí đánh giá được sử dụng là tính linh hoạt và tính hiệu quả.

III. Kết quả nghiên cứu và đóng góp

Nghiên cứu cho thấy kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh ở mức trung bình, với tính hiệu quả và linh hoạt chưa cao. Luận án cũng chỉ ra sự khác biệt về kỹ năng quản lý cảm xúc giữa các giáo viên có thâm niên công tác, trình độ đào tạo và loại hình trường khác nhau. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc được xác định bao gồm: kiểu tính cách, nhận thức về quản lý cảm xúc, áp lực công việc, cách thức giao tiếp, cơ hội phát triển và mức độ gắn bó với tổ chức. Luận án đã đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc cho giáo viên mầm non, ví dụ như tập huấn chuyên đề. Kết quả thực nghiệm cho thấy các biện pháp can thiệp có tác động tích cực đến việc cải thiện kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên. Về đóng góp, luận án đã bổ sung vào kho tàng kiến thức về quản lý cảm xúc trong lĩnh vực giáo dục mầm non, một lĩnh vực còn ít được nghiên cứu. Luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non, giúp họ phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kiến nghị

Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn giáo dục mầm non. Các phát hiện về thực trạng, yếu tố ảnh hưởng và biện pháp can thiệp có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên mầm non. Cụ thể, các trường mầm non có thể tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo về quản lý cảm xúc, cung cấp cho giáo viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết để kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của mình trong quá trình làm việc. Ngoài ra, việc xây dựng môi trường làm việc tích cực, hỗ trợ và tạo điều kiện cho giáo viên phát triển nghề nghiệp cũng góp phần nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của họ. Luận án cũng kiến nghị cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa từ các cơ quan quản lý giáo dục trong việc nghiên cứu và phát triển các chương trình hỗ trợ giáo viên mầm non về mặt tâm lý, đặc biệt là kỹ năng quản lý cảm xúc. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe tinh thần và sự phát triển bền vững của đội ngũ giáo viên.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non; Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non; Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh; Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON Liên quan đến vấn đề kỹ năng quản lý cảm xúc của GVMN, đã có một số nghiên cứu ở trong và ngoài nước được tiến hành và thu về kết quả. Khi tổng quan các kết quả nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành hệ thống và bình luận theo ba hướng chính: những nghiên cứu về quản lý cảm xúc; những nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc; những nghiên cứu về yêu cầu nghề nghiệp đối với GVMN. Những nghiên cứu về quản lý cảm xúc Làm thế nào để quản lý được cảm xúc của bản thân và của người khác nhằm đạt được mục đích giao tiếp? Đây là câu hỏi kéo theo rất nhiều các nghiên cứu của các nhà khoa học đi tìm kiếm câu trả lời.

Dựa trên mục đích tìm hiểu, những nghiên cứu này được chúng tôi chia thành hai khuynh hướng, một là những nghiên cứu về quản lý cảm xúc của các đối tượng khác nhau; hai là những nghiên cứu về lao động cảm xúc, công việc cảm xúc và quản lý cảm xúc của giáo viên. Hướng nghiên cứu về quản lý cảm xúc của các đối tượng khác nhau A.Bandura (1985) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình nhận thức trong quản lý hành vi cảm xúc, đề cao vai trò của tự quản lý hành vi, trong đó có đề cập đến tự quản lý cảm xúc bản thân. Ông cho rằng học tập thông qua việc bắt chước hành vi mẫu là một dạng quản lý cảm xúc. Việc quản lý cảm xúc không chỉ sử dụng các kích thích khác nhau nhằm củng cố hay kìm hãm một hành vi nào mà còn tạo ra hành vi mới bằng cách đưa ra hành vi mẫu.

Phương pháp quản lý này là giúp con người nhận diện những nhân tố duy trì cảm xúc cần quản lý và tìm cách loại bỏ chúng. Như vậy, quá trình nhận thức cảm xúc bản thân đóng vai trò rất quan trọng, mục đích của phương pháp quản lý cảm xúc bằng hành vi là giúp cá nhân nhận diện ra những cảm xúc không mong muốn của bản thân và quản lý chúng. Tuy nhiên trong quá trình quản lý, sự thay đổi của những cảm xúc diễn ra trên cơ sở những nhận thức sai lầm của người được quản lý sẽ làm xuất hiện những cảm xúc âm tính và những khó khăn. Mục đích của quản lý cảm xúc theo hướng tiếp cận này là điều chỉnh nhận thức [123].

Erber R, Wegner DM, Thierrault N. (1996) nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác xã hội để dự đoán việc điều chỉnh tâm trạng. Nghiên cứu này gồm 3 nghiên cứu nhỏ: Nghiên cứu 1 tìm hiểu cảm xúc vui và buồn thông qua tiếp xúc với âm nhạc. Tất cả những người tham gia sẽ thực hiện một nhiệm vụ thử nghiệm không liên quan với chính họ và những người tham gia khác.

Những người tham gia sẽ thực hiện nhiệm vụ 7 một mình bằng cách chọn các câu chuyện tích cực và tiêu cực, và tương tác các câu chuyện ưa thích có chứa nội dung không phù hợp với tâm trạng của họ. Nghiên cứu 2 đã xác nhận kết quả này, nó cho thấy có sự giới hạn trong dự đoán điều chỉnh tâm trạng khi tương tác với các đối tượng có tâm trạng trung lập hoặc tốt. Trong nghiên cứu 3, những người tham gia có tâm trạng trung lập hoặc tốt sẽ giảm khả năng tiếp xúc với các video vui vẻ hoặc buồn bã khi họ muốn tương tác với người khác [148]. (2003) kết luận rằng, cảm xúc tốt hay xấu không phải là bất biến và động lực điều chỉnh cảm xúc chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà trong đó cảm xúc xảy ra.

Nói cách khác, điều tiết cảm xúc không phải là cân bằng nội tại, mà là sự linh hoạt năng động trong trải nghiệm cảm xúc, khả năng theo đuổi và ưu tiên các mục tiêu khác nhau, khả năng vận động có chọn lọc và chủ động lựa chọn cảm xúc, nhận thức trong những hoàn cảnh cụ thể [140]. và cộng sự (2004) nghiên cứu động cơ và chuẩn mực điều tiết cảm xúc, nhóm tác giả tập trung trả lời câu hỏi lý do tại sao các cá nhân điều chỉnh cảm xúc của họ và các động cơ thúc đẩy được gợi ra trong bối cảnh xã hội. Trước hết, nhóm tác giả xem xét nghiên cứu về các chuẩn mực cảm xúc, cả trong quan hệ cá nhân và trong quan hệ công việc. Kết quả cho thấy các chuẩn mực cảm xúc chung liên quan đến những gì cá nhân cảm nhận và làm thế nào để thể hiện những cảm xúc này đang dần suy yếu.

Thay vào đó, các chuẩn mực cá nhân được chú ý nhiều hơn và đặc biệt là các động cơ liên quan đến các tác động dự kiến của các biểu hiện cảm xúc của mỗi cá nhân đã đạt được tầm quan trọng. Nghiên cứu cũng cho thấy các chuẩn mực cảm xúc và động cơ điều chỉnh ít tuân thủ các chuẩn mực chung mà ưu tiên cho các mục tiêu xã hội ở mức độ vi mô [150]. (1984) [219] trong nghiên cứu “Ứng phó, hỗ trợ xã hội và kết quả tâm lý: Vai trò trung tâm của cảm xúc” và Collins, N. (2009) đã nghiên cứu về sự chia sẻ xã hội và cảm xúc và chỉ ra sự chia sẻ xã hội không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin 8 mà có thể phục vụ chức năng quan trọng về tâm lý và xã hội.

Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi [207]. Dưới góc độ nghiên cứu sự nghiền ngẫm hay ngăn cản cảm xúc, Nolen- Hoeksema, S. (1997) khi tìm hiểu “Sự nghiền ngẫm và rối nhiễu tâm lý ở những người mất người thân” và Nolen-Hoeksema, S. (1994) nghiên cứu “Sự công kích trong quá trình khống chế tâm lý” và cho thấy có một lý thuyết về “sự công kích trong quá trình kiểm soát tinh thần” được đề xuất để giải thích cho các tác động có chủ ý và phản tác dụng do các nỗ lực tự kiểm soát các trạng thái tinh thần.

Lý thuyết này cho rằng một nỗ lực kiểm soát tâm trí bao gồm 2 quy trình: (1) một quy trình vận hành nhằm thúc đẩy sự thay đổi dự định bằng cách tìm kiếm nội dung tinh thần phù hợp với trạng thái dự định và (2) một quy trình giám sát để kiểm tra xem liệu quy trình vận hành có cần thiết không, bằng cách tìm kiếm nội dung tinh thần không phù hợp với trạng thái dự định. Quá trình hoạt động đòi hỏi năng lực nhận thức lớn hơn và thông thường có tác dụng nhận thức rõ rệt hơn quá trình theo dõi, và cả hai làm việc cùng nhau do đó thúc đẩy bất kỳ mức độ kiểm soát tâm thần nào được hưởng [228]. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn hành vi biểu cảm đến từ một nghiên cứu của Gilbert, D. (1999) đã tiến hành nghiên cứu hệ quả về nhận thức trong quá trình con người cố gắng ngăn chặn cảm xúc và cho thấy: ngăn chặn biểu hiện cảm xúc làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn.

Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn [208]. (1995) nghiên cứu về hành vi cảm xúc trong những cuộc hôn nhân lâu dài và Levenson, R. (1994) nghiên cứu về ảnh hưởng của tuổi tác, giới tính, sinh lý và mối quan giữa chúng trong các cuộc hôn nhân lâu dài đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của cá nhân [133], [181].

Nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và tuổi tác, tại Hội nghị lần thứ VII Biennial của Hiệp hội Châu Âu về Nghiên cứu tuổi vị thành niên, Oliva (2000) [195] đã trình bày nghiên cứu về sự liên quan giữa cá nhân, xã hội và gia đình với sự tự chủ cảm xúc ở vị thành niên. Trong nghiên cứu của mình, tác giả nghiên cứu trên 513 thanh thiếu niên thuộc 13 trường công lập và tư nhân ở Seville, nội dung nghiên cứu về mối quan hệ gia đình, quan hệ nhóm và các khía cạnh khác nhau của sự phát triển cá nhân. Trong đó, tập trung kiểm tra mối quan hệ giữa quyền tự chủ về tình cảm của tuổi thanh thiếu niên và các loại cảm xúc tồn tại giữa cha mẹ và con cái; Thứ hai, phân tích các đặc điểm cảm xúc xã hội liên quan đến mức độ tự trị cao trong cảm xúc nữ và nam thanh niên; Thứ ba là nghiên cứu vai trò trung gian của chất lượng môi trường gia đình trong quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và phát triển vị thành niên; Cuối cùng, ngoài việc nghiên cứu hoàn cảnh gia đình và văn hóa là các điều kiện chắc chắn của quan hệ giữa quyền tự chủ cảm xúc và phát triển (hoặc điều chỉnh tâm lý) thì giới tính là một điều kiện quan trọng cần nghiên cứu (theo Scott, 1998) [dẫn theo 212]. Daniel Goleman trong một số ấn phẩm về trí tuệ cảm xúc đã chứng minh rằng: cấu tạo của bộ não khiến chúng ta thường không làm chủ hoặc hiếm khi làm chủ được khi chúng ta bị các cảm xúc cuốn đi.

Tuy nhiên, chúng ta có thể biết được cảm xúc đó kéo dài bao lâu, những cảm xúc buồn bã, lo lắng hay giận dữ thoáng qua không phải là vấn đề nảy sinh thông thường chúng sẽ qua đi theo thời gian, nhưng những cảm xúc này nếu vượt quá giới hạn nhất định, chúng sẽ trở thành nỗi đau khổ cùng cực như lo sợ thường trực, cuồng nộ hay trầm cảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến sĩ về Kỹ năng Quản lý Cảm xúc của Giáo viên Mầm non: Khám phá bí mật của giáo dục mầm non hiệu quả!

Luận án "Luận Án Tiến Sĩ Về Kỹ Năng Quản Lý Cảm Xúc Của Giáo Viên Mầm Non" của tác giả Lê Thị Thanh Huyền, được hướng dẫn bởi GS.TS Trần Quốc Thành tại Học viện Khoa học Xã hội, là một nghiên cứu sâu sắc về vai trò của kỹ năng quản lý cảm xúc trong giáo dục mầm non. Luận án tập trung phân tích những yếu tố tác động đến kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên mầm non, đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả của kỹ năng này, góp phần tạo dựng môi trường giáo dục tích cực, giúp trẻ phát triển toàn diện.

Đọc luận án này, bạn sẽ được trang bị kiến thức chuyên sâu về quản lý cảm xúc, hiểu rõ tầm quan trọng của kỹ năng này đối với giáo viên mầm non, đồng thời học hỏi những phương pháp thực tiễn giúp giáo viên tự quản lý cảm xúc và tạo dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh cho trẻ.

Bên cạnh luận án này, bạn có thể tìm hiểu thêm về giáo dục mầm non qua những tài liệu liên quan như:

Hãy click vào các link được cung cấp để khám phá thêm những kiến thức bổ ích về giáo dục mầm non, giúp bạn nâng cao năng lực chuyên môn, góp phần xây dựng môi trường giáo dục tốt đẹp cho thế hệ tương lai!