Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi. Chương 2: Cơ sở thực tiễn của giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi. Chương 3: Tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực nghiệm. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CHƠI 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về kĩ năng và kĩ năng hợp tác Vấn đề KN và KNHT ở trẻ em được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực Tâm lý học, Giáo dục học với các tác giả tiêu biểu như: J. Zaporozet [10], Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Đặng Thành Hưng, Trần Trọng Thủy. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: quan niệm về KN, quá trình hình thành KN, đặc điểm của KN, cấu trúc tâm lý của KN.
Nghiên cứu về khái niệm kĩ năng Qua rà soát các nghiên cứu liên quan cho thấy chưa hoàn toàn thống nhất quan niệm về KN. Tuy nhiên, quan niệm chung đều thừa nhận rằng kỹ năng là một quá trình tâm lý, được hình thành khi con người áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Có thể thấy 3 xu hướng chủ yếu như sau: a) Nhìn nhận KN ở góc độ là năng lực của chủ thể hành động, tiêu biểu như: N.Kixegof, Nguyễn Thị Ánh Tuyết [66], Ngô Công Hoàn [18], Nguyễn Quang Uẩn [68], Nguyễn Thạc, Trần Quốc Thành [56], Vũ Dũng [13]…Theo xu hướng này, KN luôn gắn liền với năng lực hoạt động của con người, được thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi cụ thể, do vậy hoàn toàn có thể nhìn thấy, đo đạc và đánh giá được. KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo.
Đây là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về KN. Tuy nhiên, đồng nhất KN và năng lực trong cùng một điều kiện có lẽ là chưa toàn diện và thỏa đáng. KN chỉ là một dạng năng lực hoặc là một phần của năng lực mà thôi. b) Nhìn nhận KN ở góc độ kỹ thuật hành động.
Đại diện tiêu biểu cho quan điểm này là A.Cudin, Trần Trọng Thủy.Theo xu hướng này, con người nắm được cách thức hành động (tức là có kỹ thuật hành động) là có KN. Như vậy, cách hiểu này thực chất nhấn mạnh nhiều hơn đến tính kĩ thuật của KN. Thực tế, biết phương thức hành động (tức là biết kĩ thuật của hành động) nhưng không hành động thì chưa thể coi là có KN. c) Nhìn nhận KN chính là hành động cụ thể được thực hiện, tiêu biểu như Đặng Thành Hưng [25], Nguyễn Thị Thu Hà [17], Lê Đức Phúc, Nguyễn Thị Thanh [55], Nguyễn Thành Kỉnh [32].Đặng Thành Hưng quan niệm “KN chính là hành động có kĩ thuật, được thực hiện dựa vào các điều kiện sinh học, tâm lí và xã hội (kinh nghiệm) 9 của cá nhân, cho phép cá nhân hoàn thành công việc có kết quả theo chuẩn đã định trong điều kiện nhất định.
KN không phải là khả năng thực hiện hành động mà chính là hành động cụ thể” [26, 64]. Nghiên cứu về kĩ năng hợp tác Dưới góc độ xã hội học, tâm lý - giáo dục học, KNHT là vấn đề được một số nhà khoa học quan tâm. Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua: a) Về cấu trúc của KNHT: David Johnson & RogerJohnson [30] [91] đã chỉ ra và phân tích sâu 5 yếu tố cơ bản của sự hợp tác, đó là: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác mặt đối mặt, trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các KN nhóm nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm. Khi nghiên cứu về các KN thành phần của KNHT, theo David Johnson & Roger Johnson, có 4 nhóm KNHT nhóm nhỏ cần hình thành cho người học là: KN giao tiếp; KN xây dựng và duy trì niềm tin; KN chia sẻ vai trò lãnh đạo; KN giải quyết xung đột trên tinh thần xây dựng [92].
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến tính tương tác, KNHT như là một trong số các KN quan trọng, đặc trưng của nhóm KN xã hội. Ngô Thị Thu Dung [12], Lê Văn Tạc [54] trong các nghiên cứu của mình đã đi sâu vào phân loại KN hoạt động hợp tác trong nhóm. Ngô Thị Thu Dung [12] đã đưa ra 18 KNHT trong 3 nhóm (Nhóm thành phần nhận thức học tập; Nhóm thành phần tổ chức; Nhóm thành phần giao tiếp). Một trong số 18 KN đó là: biết tự liên kết thành nhóm, biết phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, biết lập kế hoạch giải quyết nhiệm vụ nhóm, biết cộng tác, chia sẻ giải quyết nhiệm vụ của nhóm, biết lắng nghe, thống nhất ý kiến hoặc chấp nhận ý kiến trái ngược.
Lê Văn Tạc [54] trong nghiên cứu“Dạy học hoà nhập có trẻ khiếm thính bậc tiểu học theo phương thức hợp tác nhóm” đã đưa ra 4 nhóm KN học tập hợp tác trong nhóm, đó là: Nhóm các KN hình thành nhóm; Nhóm các KN giao tiếp trong nhóm; Nhóm các KN xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau; Nhóm các KN giải quyết mối bất đồng trên tinh thần xây dựng. Các KN cụ thể trong mỗi nhóm cũng hướng đến hình thành ở người học sự liên kết với nhau trong thực hiện hoạt động có mục đích chung. Một số tác giả khác (tiêu biểu như Nguyễn Hữu Châu [7], Thái Duy Tuyên [60], Đoàn Thị Thanh Phương [48], Phạm Thị Thu Hương, Dương Giáng Thiên Hương [29], Bùi Thế Hợp [21], Hoàng Công Kiên [31], Vũ Thị Nhân [43], Trần Thị Bích Trà [58].) đã đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản của dạy học hợp tác nhóm và vấn đề bồi dưỡng các KN học hợp tác cho người học trong dạy học hợp tác nhóm. Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên ở Việt Nam mới tập trung về vấn đề KNHT, các KN thành phần của KNHT nói chung và tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác cho đối tượng là học sinh phổ thông.
10 b) Về các thành tố của KNHT trong hoạt động chơi: Nghiên cứu sâu về các KNHT cụ thể trong hoạt động chơi theo nhóm, theo A. c) Các kỹ năng hợp tác cơ bản ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Tìm hiểu một số nghiên cứu trên thế giới gần đây [42], [52], [69], [80], [118], [119] cho thấy: các KNHT cơ bản ở trẻ mẫu giáo được đề cập đến khá toàn diện, bao gồm các KN cần thiết để giúp trẻ tham gia vào một nhóm - nơi có diễn ra các hoạt động hợp tác và các KN giúp đứa trẻ thực hiện được nhiệm vụ của cá nhân, đồng thời hợp tác hiệu quả với người khác. Nghiên cứu kĩ năng hợp tác trong Chương trình giáo dục mầm non, Chuẩn đầu ra của GDMN ở một số nước trên thế giới [98], [111], [99], [117], [83] [110] [114], [115] cho thấy: Các KNHT ở trẻ 5-6 tuổi được thể hiện trong đa số các chương trình GDMN đó là: hoàn thành nhiệm vụ cá nhân, tương tác với bạn khác, cùng nhau làm để vượt qua khó khăn khi tham gia các hoạt động; chia sẻ và biết chờ đến lượt; yêu cầu sự trợ giúp khi cần thiết; trao đổi, thỏa thuận, nhượng bộ để giải quyết xung đột…Bên cạnh đó, Chương trình GDMN của các nước cũng chú ý đến các KN liên quan đến vấn đề đánh giá, nhận xét người khác cùng làm việc trong nhóm (như: Biểu lộ sự phản đối và quan điểm đối lập một cách phù hợp, chấp nhận ý kiến khác mình với một sự đồng cảm…). Các nước rất chú trọng đến giáo dục KNHT cho trẻ, coi KNHT như là một tiêu chuẩn để đánh giá trẻ vào cuối độ tuổi mẫu giáo, kể cả các nước có chương trình khung quốc gia/chuẩn đầu ra GDMN quốc gia như Singapore [98], [111], Hàn Quốc [99] hoặc các nước có chương trình GDMN chi tiết Trung Quốc [15], [16], Australia [76], đảo Cook [86], một số bang của Mỹ [83], [85], [110], [114], Nepal [88], New Mexico [94], Canada [100], NewZeland [115], chương trình GDMN quốc tế IPC 11 (International Preschool Curriculum), hướng dẫn chương trình giảng dạy của bang Queensland [103], chương trình dạy trẻ của Úc [117].
KNHT của trẻ mẫu giáo cũng được đưa vào như là 1 trong 76 tiêu chí quan trọng trong Bộ công cụ đánh giá GGA (Global Guidelines Assessment) 4 để đánh giá 3F toàn diện về chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tiêu chí thứ 7 trong Bộ công cụ đề cập đến nội dung liên quan đến sự tương tác của trẻ trong môi trường giáo dục, đó là: “Có các cơ hội cho tương tác giữa các trẻ và giữa trẻ với người lớn một cách thường xuyên và tích cực”. Chương trình GDMN hiện hành ở Việt Nam [5] đã coi năng lực hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là một thành phần trong nội dung giáo dục phát triển tình cảm và KN xã hội (phần nội dung cụ thể về giáo dục hành vi và quy tắc ứng xử xã hội). Trong Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, chuẩn số 11 (thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội) đề cập tới biểu hiện của KNHT “Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh” và 5 chỉ số thuộc chuẩn này đều có nội dung liên quan đến sự hợp tác của trẻ trong giao tiếp, đó là: “Lắng nghe ý kiến của người khác” (Chỉ số 48); “Trao đổi ý kiến của mình với các bạn” (chỉ số 49); “Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè” (chỉ số 50); “Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn” (chỉ số 51) và “Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác” (chỉ số 52).
Như vậy, điểm chung trong các nghiên cứu có liên quan, là: Khẳng định rằng: Hợp tác là việc con người cùng chung sức hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm hướng tới một mục đích chung. Những dấu hiệu cơ bản của sự hợp tác thành công: [123] + Có nhóm người cùng thực hiện hoạt động; + Có chung mục đích. + Mọi người trong nhóm cùng có trách nhiệmđể thực hiện mục đích chung. + Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người.
+ Từng cá nhân chấp hành kỷ luật, tuân theo những quy định chung và theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của người đứng đầu. + Chia sẻ nguồn lực và thông tin trong quá trình hoạt động. + Khích lệ tinh thần tập thể hơn là đề cao sự ganh đua giữa các cá nhân.