Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Ngọc Minh thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục, mã số: 9 14 01 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh và PGS.TS Hoàng Thanh Thúy, bảo vệ năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu con người không chỉ nắm vững chuyên môn, kỹ thuật số mà còn phải làm chủ các kỹ năng mềm, trong đó năng lực hợp tác giữ vị trí thiết yếu để nâng cao hiệu quả lao động. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Tuyên bố của UNESCO về bốn trụ cột giáo dục thế kỷ XXI cũng nhấn mạnh mục tiêu "học để cùng chung sống". Đồng thời, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể xác định "năng lực giao tiếp và hợp tác" là một trong ba năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho học sinh. Theo kết quả nghiên cứu năm 2011 của đề tài Khoa học công nghệ trọng điểm cấp Bộ, kỹ năng hợp tác (KNHT) được xác định là một trong những kỹ năng quan trọng nhất trong tổng số 19 phẩm chất và kỹ năng cần giáo dục cho trẻ mầm non.

Giai đoạn 5-6 tuổi là thời kỳ chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học, trong đó hoạt động chủ đạo chuyển dịch từ "chơi" sang "học". Việc hình thành KNHT từ lứa tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi tạo nền tảng cần thiết giúp trẻ thích ứng với các yêu cầu tương tác và làm việc nhóm ở lớp một. Chương trình Giáo dục mầm non (GDMN) hiện hành đã đưa năng lực hợp tác vào nội dung phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội; Bộ Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi cũng quy định Chuẩn số 11 về "Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh" với 5 chỉ số cụ thể (Chỉ số 48: Lắng nghe ý kiến của người khác; Chỉ số 49: Trao đổi ý kiến của mình với các bạn; Chỉ số 50: Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè; Chỉ số 51: Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn; Chỉ số 52: Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác).

Tuy nhiên, trong thực tiễn, giáo viên mầm non (GVMN) còn lúng túng khi tổ chức giáo dục KNHT; trẻ chủ yếu hoạt động "cạnh nhau", "cùng nhau" mà chưa biết cách hợp tác thực sự. Nguyên nhân cơ bản là GVMN chưa nắm được phương thức tổ chức hoạt động chơi như một phương tiện để giáo dục KNHT. Đây là khoảng trống thực tiễn và lý luận mà đề tài lựa chọn giải quyết.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Đề xuất quy trình và cách thức tổ chức hoạt động chơi như một phương tiện nhằm giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi.
    2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi.
    3. Đề xuất và thực nghiệm sư phạm quy trình tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
  • Giả thuyết khoa học: KNHT gồm có 3 nhóm kỹ năng với 15 kỹ năng thành phần. Hiện nay, các KNHT này ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đang ở mức trung bình, trong đó nguyên nhân cơ bản là GVMN chưa tổ chức tốt hoạt động chơi theo một quy trình hợp lý để giáo dục KNHT cho trẻ. Nếu đề xuất và tổ chức hoạt động chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo quy trình sư phạm chặt chẽ gồm 3 giai đoạn, mà ở mỗi giai đoạn đều chú ý tạo ra các hoạt động để trẻ có cơ hội thể hiện hành vi hợp tác, tạo ra sự tương tác tích cực giữa các trẻ; xây dựng mối quan hệ giữa tính độc lập và tính phụ thuộc ở từng cá nhân trẻ; lấy chơi là hoạt động chủ đạo, đồng thời tiếp tục củng cố, rèn luyện KNHT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục khác ở trường mầm non thì sẽ giúp cho sự phát triển các KNHT ở trẻ được tốt hơn.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KNHT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và cách thức tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào giáo dục KNHT trong hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, trọng tâm là hoạt động chơi ở các góc theo hình thức nhóm trong chế độ sinh hoạt tại trường mầm non.
  • Phạm vi khảo sát thực trạng: Địa bàn thành phố Hà Nội (đại diện khu vực nội thành và ngoại thành), triển khai từ tháng 10/2016 đến tháng 12/2016. Khách thể khảo sát gồm 297 GVMN tại 16 trường mầm non thuộc các quận Đống Đa, Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm và huyện Hoài Đức; cùng 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Trường Mầm non Quang Trung (quận Đống Đa) và Trường Mầm non Di Trạch (huyện Hoài Đức).
  • Phạm vi thực nghiệm sư phạm: Tiến hành từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2017 tại Hà Nội. Vòng 1 (thăm dò) trên 20 trẻ tại Trường Mầm non thực hành Hoa Hồng (quận Đống Đa). Vòng 2 (chính thức) trên 60 trẻ nhóm thực nghiệm và 60 trẻ nhóm đối chứng tại Trường Mầm non Quang Trung (30 trẻ thực nghiệm, 30 trẻ đối chứng) và Trường Mầm non Di Trạch (30 trẻ thực nghiệm, 30 trẻ đối chứng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng trọng tâm:

1. Nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng hợp tác

  • Về khái niệm kỹ năng: Tác giả phân tích ba xu hướng tiếp cận chính:
    • Xu hướng coi kỹ năng là năng lực của chủ thể: N. Kixegof, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Trần Quốc Thành, Vũ Dũng.
    • Xu hướng coi kỹ năng là kỹ thuật hành động: A. Cudin, Đặng Vũ Hoạt, Trần Trọng Thủy.
    • Xu hướng coi kỹ năng là hành động cụ thể: Đặng Thành Hưng, Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Đức Phúc, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thành Kỉnh.
  • Về kỹ năng hợp tác và cấu trúc: David Johnson và Roger Johnson xác định 5 yếu tố cơ bản của hợp tác (sự phụ thuộc tích cực, tương tác mặt đối mặt, trách nhiệm cá nhân, sử dụng kỹ năng nhóm nhỏ/liên cá nhân, nhận xét nhóm) và 4 nhóm KNHT. Tại Việt Nam, Ngô Thị Thu Dung xác định 18 KNHT trong 3 nhóm; Lê Văn Tạc đưa ra 4 nhóm kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh tiểu học; các tác giả Nguyễn Hữu Châu, Thái Duy Tuyên, Đoàn Thị Thanh Phương, Phạm Thị Thu Hương, Dương Giáng Thiên Hương, Bùi Thế Hợp, Hoàng Công Kiên, Vũ Thị Nhân, Trần Thị Bích Trà nghiên cứu dạy học hợp tác ở bậc phổ thông.

2. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non

  • Về sự cần thiết: L. S. Vygotsky với lý thuyết "Vùng phát triển gần"; các nhà giáo dục Liên Xô (cũ); Slavin (1990), Rosenshine và Meister (1994), Renkl (1995), Robert J. Pollock, Raja Roy Singh. Tại Việt Nam có Nguyễn Thanh Bình, Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai.
  • Về nội dung, phương pháp, hình thức: Roger Cousinet với phương pháp làm việc tự do theo nhóm; Eleskonler về thiết lập môi trường sư phạm; Joseph Lancaster và Andrew Bell về chia nhóm hoạt động; mô hình tổ chức của Kottl. Nghiên cứu chương trình GDMN quốc tế tại Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, Cook Islands, Hoa Kỳ, Nepal, New Mexico, Canada, New Zealand, chương trình IPC, bang Queensland và Bộ công cụ đánh giá GGA (Global Guidelines Assessment).

3. Nghiên cứu về hoạt động chơi với sự phát triển kỹ năng hợp tác

Các nghiên cứu của D. B. Elkonin, A. V. Zaporozhets, A. P. Usova, E. A. Arkin, N. K. Krupskaya, A. S. Makarenko, D. W. Winnicott, Alicia F. Lieberman, Ramani (2012), J. Piaget, G. S. Ashiabi (2007), A. D. Pellegrini, Dupuis & Smith (2007), Rogers & Evans (2008), Fawcett & Garton (2005), Kuczmarski E. Marie (1993). Tại Việt Nam có công trình của Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Minh Thuận, Vũ Thị Nhân. Các tác giả khẳng định chơi là hoạt động chủ đạo, tạo bối cảnh để trẻ mô phỏng quan hệ xã hội, chuyển hóa từ quan hệ chơi sang quan hệ thực.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào học sinh phổ thông hoặc chỉ dừng lại ở việc xem hợp tác như một phương thức tổ chức dạy học nói chung. Chưa có công trình nào xác lập tường minh hệ thống cấu trúc 15 KNHT thành phần cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và xây dựng quy trình sư phạm cụ thể gồm 3 giai đoạn để tổ chức hoạt động chơi (đặc biệt là chơi góc theo nhóm) nhằm mục tiêu giáo dục KNHT cho trẻ em lứa tuổi này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm công cụ

  • Khái niệm Kỹ năng: Là một phần của năng lực, cho phép cá nhân thực hiện có kết quả hành động trên cơ sở vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm một cách hợp lí, linh hoạt vào các tình huống khác nhau để đạt được mục tiêu đã xác định.
  • Khái niệm Hợp tác: Quá trình tương tác xã hội trong đó các cá nhân tự nguyện cùng chung sức, hỗ trợ nhau trong một công việc hay một lĩnh vực nào đó nhằm đạt được mục đích chung trên cơ sở bình đẳng (phân biệt với tương tác và cộng tác).
  • Khái niệm Kỹ năng hợp tác: Là một phần của năng lực, cho phép cá nhân thực hiện có kết quả các hành động phối hợp với nhau dựa trên cơ sở sự phụ thuộc, sự tương tác tích cực và trách nhiệm cá nhân để giải quyết vấn đề, nhằm đạt được mục tiêu chung trong những điều kiện nhất định.
  • Khái niệm Giáo dục KNHT qua tổ chức hoạt động chơi: Quá trình tác động sư phạm có mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức cụ thể của giáo viên đến trẻ thông qua cách tổ chức hoạt động chơi với quy trình gồm các giai đoạn cụ thể, ở mỗi giai đoạn đều chú ý tạo ra sự tương tác, phụ thuộc tích cực giữa các trẻ, nhằm giúp trẻ hình thành năng lực tương tác, phối hợp có hiệu quả với người khác khi thực hiện hành động nhằm đạt được mục tiêu.
  • Cấu trúc kỹ năng hợp tác ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Được luận án xác lập gồm 3 nhóm với 15 kỹ năng thành phần:
Nhóm kỹ năng Các kỹ năng thành phần
1. Nhóm kỹ năng tổ chức nhóm 1. KN tham gia vào nhóm
2. KN thỏa thuận với các thành viên trong nhóm về nhiệm vụ của mỗi người
3. KN nhận nhiệm vụ cá nhân
2. Nhóm kỹ năng thực hiện nhiệm vụ 4. KN thực hiện nhiệm vụ cá nhân trong mối quan hệ với nhiệm vụ chung của nhóm
5. KN quản lí thời gian để hoàn thành các công việc theo nhóm
6. KN lắng nghe tích cực
7. KN trình bày ý kiến trong nhóm
8. KN đối thoại hợp tác trong nhóm
9. KN phối hợp hành động
10. KN điều chỉnh và tự điều chỉnh
11. KN thể hiện thái độ hợp tác
12. KN giải quyết mâu thuẫn, bất đồng, xung đột xảy ra khi làm việc cùng nhau trong nhóm
13. KN giúp đỡ người khác và yêu cầu sự giúp đỡ khi cần thiết
3. Nhóm kỹ năng đánh giá, phản hồi 14. KN nêu nhận xét và phản hồi ý kiến
15. KN đánh giá, tự đánh giá

Cách tiếp cận nghiên cứu

Luận án vận dụng 4 cách tiếp cận: Tiếp cận hoạt động – giao tiếp; Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận tích hợp; Tiếp cận phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp; phân loại - hệ thống hóa lý thuyết; khái quát hóa lí luận để xây dựng khung lý thuyết.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Thu thập dữ liệu về mức độ tham gia và biểu hiện KNHT của trẻ trong khi chơi; quan sát quy trình tổ chức của GVMN.
    • Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi cho GVMN; phỏng vấn, trao đổi sâu; thiết kế bài tập tình huống đo mức độ KNHT của trẻ.
    • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Đúc rút các bài học kinh nghiệm trong thực tiễn chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm quy trình 3 giai đoạn để kiểm chứng giả thuyết khoa học.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu chân dung tâm lý và mức độ cải thiện KNHT của 2 trẻ em trong quá trình thực nghiệm.
  • Nhóm phương pháp bổ trợ:
    • Phương pháp thống kê toán học: Tính điểm trung bình (TB), độ lệch chuẩn (SD), tỷ lệ phần trăm (%), phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính (mô hình dự báo điểm KNHT với hệ số $R^2$).
    • Phương pháp nghiên cứu đối sánh: Đối chiếu kết quả với các nghiên cứu tương đồng.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia về khung lý thuyết, công cụ đo lường và quy trình thực nghiệm.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo sát từ 297 GVMN tại 16 trường mầm non và 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Hà Nội (tháng 10 - 12/2016); dữ liệu thực nghiệm sư phạm trên 20 trẻ thăm dò và 120 trẻ (60 trẻ thực nghiệm, 60 trẻ đối chứng) tại Trường Mầm non Quang Trung và Trường Mầm non Di Trạch (tháng 1 - 5/2017).

Giai đoạn nghiên cứu Khách thể / Đối tượng Địa bàn nghiên cứu Quy mô mẫu Thời gian thực hiện
Khảo sát thực trạng Giáo viên mầm non 16 trường MN thuộc Đống Đa, Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm, Hoài Đức (Hà Nội) 297 GVMN 10/2016 – 12/2016
Khảo sát thực trạng Trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi MN Quang Trung (Đống Đa) và MN Di Trạch (Hoài Đức) 60 trẻ 10/2016 – 12/2016
Thực nghiệm thăm dò (Vòng 1) Trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi Trường MN thực hành Hoa Hồng (Đống Đa, Hà Nội) 20 trẻ 01/2017 – 05/2017
Thực nghiệm chính thức (Vòng 2) Trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi MN Quang Trung (30 TN, 30 ĐC) và MN Di Trạch (30 TN, 30 ĐC) 120 trẻ (60 TN, 60 ĐC) 01/2017 – 05/2017

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện cho đề tài:

  • Hệ thống hóa các khái niệm kỹ năng, hợp tác, KNHT, hoạt động chơi và giáo dục KNHT qua hoạt động chơi.
  • Xác định cấu trúc KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm 3 nhóm với 15 kỹ năng thành phần.
  • Phân tích 5 đặc điểm của hoạt động chơi ở trẻ 5-6 tuổi: Chơi tự do và chơi có cấu trúc; Hoạt động chơi mang tính tự điều khiển; Hoạt động chơi mang tính sáng tạo; Hoạt động chơi mang đậm tính cảm xúc; Hoạt động chơi mang tính tượng trưng.
  • Làm rõ vai trò của hoạt động chơi: Chơi là hoạt động chủ đạo, cung cấp môi trường tự nhiên để trẻ tập luyện hành vi hợp tác, nuôi dưỡng khả năng tự điều chỉnh cảm xúc và giải quyết vấn đề xã hội thông qua cơ chế "bắc giàn" (Vygotsky) và tương tác đồng trang lứa (Piaget).
  • Xác lập các thành tố của quá trình giáo dục KNHT: Mục tiêu, nội dung (cung cấp kiến thức và tập luyện kỹ năng), phương pháp (Hướng dẫn; Trao đổi gợi mở và khuyến khích tìm tòi; Trải nghiệm; Sử dụng tình huống sư phạm), hình thức tổ chức (theo số lượng: nhóm nhỏ 2-4 trẻ, nhóm lớn 6-7 trẻ; theo không gian: trong/ngoài lớp; theo hoạt động trong chế độ sinh hoạt như chơi góc 40-50 phút, chơi ngoài trời 30-40 phút, chơi tự chọn 70-80 phút; theo 7 loại trò chơi trong chương trình GDMN).
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Yếu tố cá nhân trẻ (nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc, kinh nghiệm chơi), môi trường giáo dục, cơ sở vật chất và năng lực sư phạm của giáo viên (yếu tố giữ vai trò quyết định).

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn qua điều tra khảo sát:

  • Đánh giá nội dung giáo dục KNHT trong Chương trình GDMN hiện hành và Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi (Chuẩn 11 gồm các chỉ số 48, 49, 50, 51, 52).
  • Khảo sát 297 GVMN tại 16 trường mầm non ở Hà Nội:
    • Thống kê cơ cấu mẫu GVMN theo độ tuổi, trình độ đào tạo và thâm niên công tác.
    • Đa số GVMN nhận thức được sự cần thiết của giáo dục KNHT nhưng mức độ chú trọng chưa đồng đều giữa các nhóm kỹ năng; việc lựa chọn hình thức, phương pháp và tài liệu tham khảo còn có sự chênh lệch giữa khu vực nội thành và ngoại thành.
    • Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc biến hoạt động chơi thành công cụ giáo dục kỹ năng, chủ yếu để trẻ chơi tự phát hoặc can thiệp quá sâu làm mất tính chủ động của trẻ.
  • Khảo sát thực trạng trên 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi:
    • Mức độ KNHT của trẻ nhìn chung ở mức trung bình; điểm các kỹ năng thuộc nhóm tổ chức nhóm và nhóm đánh giá, phản hồi thấp hơn nhóm thực hiện nhiệm vụ.
    • Phân tích so sánh cho thấy có sự khác biệt về mức độ KNHT theo giới tính, môi trường sống gia đình và địa bàn cư trú (nội thành/ngoại thành).
  • Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính: Xác định mối tương quan giữa tổng điểm KNHT của trẻ với các yếu tố môi trường giáo dục, gia đình và năng lực tổ chức của giáo viên; thiết lập mô hình hồi quy dự báo điểm KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ($R^2$).

Chương 3: Tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực nghiệm

Chương 3 đề xuất giải pháp sư phạm và báo cáo kết quả thực nghiệm:

  • Đề xuất 5 yêu cầu sư phạm:
    1. Đảm bảo các đặc điểm cơ bản của hoạt động chơi ở trẻ mẫu giáo.
    2. Đảm bảo lựa chọn các kỹ năng hợp tác để giáo dục cho trẻ phù hợp với ưu thế của mỗi giai đoạn trong quá trình tổ chức hoạt động chơi.
    3. Đảm bảo sự tham gia của mọi trẻ em, trọng tâm là tạo ra các mối quan hệ hợp tác giữa trẻ với bạn bè trong quá trình chơi theo hướng trẻ có nhiều cơ hội trải nghiệm, tập luyện, củng cố kỹ năng hợp tác.
    4. Đảm bảo tính nhất quán trong giáo dục kỹ năng hợp tác.
    5. Đảm bảo tính phát triển trong quá trình giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ.
  • Thiết kế quy trình tổ chức hoạt động chơi gồm 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1 - Chuẩn bị cho trẻ chơi: Thiết lập các nhóm hoạt động và khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động theo nhóm ngay trong giai đoạn chuẩn bị.
    • Giai đoạn 2 - Hướng dẫn trẻ chơi: Thúc đẩy các hoạt động tương tác giữa trẻ trên nền tảng củng cố các kỹ năng đã có và mở rộng kỹ năng mới; coi KNHT vừa là đích hướng đến vừa là điểm tựa liên kết trẻ trong khi chơi.
    • Giai đoạn 3 - Kết thúc hoạt động chơi: Giáo viên đánh giá, nhận xét quá trình chơi của trẻ và hướng dẫn trẻ đánh giá, nhận xét quá trình chơi của bản thân và bạn chơi.
  • Tiến hành thực nghiệm sư phạm:
    • Thực nghiệm thăm dò (vòng 1) trên 20 trẻ tại Trường Mầm non thực hành Hoa Hồng nhằm chuẩn hóa quy trình tác động.
    • Thực nghiệm chính thức (vòng 2) trên 120 trẻ (60 thực nghiệm, 60 đối chứng) tại Trường Mầm non Quang Trung và Trường Mầm non Di Trạch.
    • Kết quả định lượng cho thấy nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ vượt bậc so với nhóm đối chứng ở cả 3 nhóm kỹ năng và từng kỹ năng cụ thể sau thực nghiệm; phân tích kết quả theo khu vực, giới tính, môi trường sống gia đình, nghề nghiệp của bố và mẹ.
    • Nghiên cứu trường hợp điển hình trên 2 trẻ đã minh chứng sự chuyển biến tích cực về thái độ, hành vi hợp tác và khả năng tự điều chỉnh trong quá trình chơi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi ở trường mầm non.
  • Xác lập quan điểm về KNHT dưới góc độ là một thành phần của năng lực xã hội; chỉ rõ cấu trúc KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm 3 nhóm với 15 kỹ năng cụ thể.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ báo hành vi và mức độ đánh giá KNHT ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
  • Làm rõ khái niệm, các thành tố của quá trình giáo dục KNHT và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực trạng giáo dục KNHT của GVMN tại địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Đề xuất và chứng minh tính hiệu quả của quy trình 3 giai đoạn tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
  • Cung cấp bộ tư liệu thực nghiệm, bài tập tình huống và hồ sơ nghiên cứu trường hợp điển hình làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý giáo dục (Bộ GD&ĐT, Sở/Phòng GD&ĐT): Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý và GVMN về kỹ năng tổ chức hoạt động chơi định hướng phát triển kỹ năng xã hội; đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi phù hợp cho hoạt động nhóm.
  • Đối với cơ sở đào tạo giáo viên mầm non: Đưa nội dung giáo dục KNHT qua hoạt động chơi vào chương trình giảng dạy phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non.
  • Đối với giáo viên mầm non: Vận dụng linh hoạt quy trình 3 giai đoạn vào hoạt động góc và chế độ sinh hoạt một ngày; giảm dần can thiệp trực tiếp để phát huy tính tự chủ của trẻ; tạo môi trường tương tác đa dạng.
  • Đối với cha mẹ học sinh: Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, tạo cơ hội cho trẻ rèn luyện KNHT trong các hoạt động sinh hoạt gia đình và giao lưu xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án được giới hạn tại một số trường mầm non thuộc khu vực nội thành và ngoại thành thành phố Hà Nội; chưa mở rộng khảo sát trên các vùng miền sinh thái, văn hóa khác nhau (miền núi, vùng sâu vùng xa). Nội dung thực nghiệm tập trung chủ yếu vào hoạt động chơi góc theo nhóm trong chế độ sinh hoạt hằng ngày.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu và thử nghiệm quy trình trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đa dạng; mở rộng sang các lứa tuổi mầm non khác (3-4 tuổi, 4-5 tuổi); nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu về khung lý thuyết kỹ năng hợp tác ở lứa tuổi mầm non, hệ thống cấu trúc 15 kỹ năng thành phần và phương pháp luận thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm kết hợp phân tích định lượng (tương quan, hồi quy) và định tính (nghiên cứu trường hợp điển hình).
  • Đối với cán bộ quản lý và giảng viên sư phạm mầm non: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng nội dung tập huấn chuyên môn, biên soạn giáo trình và bài giảng về phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi, giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non.
  • Đối với giáo viên mầm non: Cung cấp quy trình 3 giai đoạn cụ thể, các phương pháp sư phạm (hướng dẫn, trao đổi gợi mở, trải nghiệm, tình huống) và tiêu chí đánh giá hành vi để áp dụng trực tiếp vào tổ chức hoạt động chơi góc tại lớp học.
  • Đối với cha mẹ trẻ: Cung cấp hiểu biết về các biểu hiện hợp tác của trẻ 5-6 tuổi, giúp gia đình phối hợp rèn luyện kỹ năng cho trẻ chuẩn bị bước vào lớp một.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được luận án xác lập gồm những nhóm nào?

Luận án xác định KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là một hệ thống gồm 3 nhóm với 15 kỹ năng cụ thể:

  • Nhóm kỹ năng tổ chức nhóm (3 KN): Tham gia vào nhóm; Thỏa thuận về nhiệm vụ; Nhận nhiệm vụ cá nhân.
  • Nhóm kỹ năng thực hiện nhiệm vụ (10 KN): Thực hiện nhiệm vụ cá nhân trong quan hệ với nhóm; Quản lý thời gian; Lắng nghe tích cực; Trình bày ý kiến; Đối thoại hợp tác; Phối hợp hành động; Điều chỉnh và tự điều chỉnh; Thể hiện thái độ hợp tác; Giải quyết mâu thuẫn/xung đột; Giúp đỡ người khác và yêu cầu sự giúp đỡ.
  • Nhóm kỹ năng đánh giá, phản hồi (2 KN): Nêu nhận xét và phản hồi ý kiến; Đánh giá, tự đánh giá.

2. Quy trình tổ chức hoạt động chơi nhằm giáo dục KNHT gồm những giai đoạn nào?

Quy trình sư phạm gồm 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 - Chuẩn bị cho trẻ chơi: Thiết lập các nhóm hoạt động và khuyến khích trẻ tham gia theo nhóm.
  • Giai đoạn 2 - Hướng dẫn trẻ chơi: Thúc đẩy tương tác giữa các trẻ, củng cố kỹ năng đã có và mở rộng kỹ năng mới.
  • Giai đoạn 3 - Kết thúc hoạt động chơi: Giáo viên nhận xét, đánh giá và hướng dẫn trẻ tự đánh giá, phản hồi về quá trình chơi.

3. Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành với quy mô mẫu như thế nào?

  • Khảo sát thực trạng: Tiến hành trên 297 GVMN tại 16 trường mầm non và 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 2 trường mầm non (Quang Trung và Di Trạch) thuộc Hà Nội.
  • Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm vòng 1 (thăm dò) trên 20 trẻ tại Trường Mầm non thực hành Hoa Hồng; thực nghiệm vòng 2 (chính thức) trên 120 trẻ (60 trẻ nhóm thực nghiệm, 60 trẻ nhóm đối chứng) tại Trường Mầm non Quang Trung và Trường Mầm non Di Trạch.

4. Bốn phương pháp giáo dục KNHT cơ bản qua hoạt động chơi được luận án xác định là gì?

Bốn phương pháp gồm: (1) Phương pháp Hướng dẫn (bằng lời nói và hành động trực quan); (2) Phương pháp Trao đổi gợi mở và khuyến khích tìm tòi; (3) Phương pháp Trải nghiệm (qua vai chơi và qua hoạt động thực); (4) Phương pháp Sử dụng tình huống sư phạm.

5. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự phát triển KNHT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi?

Luận án chỉ ra rằng sự phát triển KNHT của trẻ chịu ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân trẻ, môi trường giáo dục, điều kiện cơ sở vật chất, trong đó năng lực và kỹ năng sư phạm của người giáo viên mầm non trong tổ chức hoạt động chơi là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Ngọc Minh đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động chơi. Bằng việc xây dựng cấu trúc 3 nhóm với 15 kỹ năng thành phần và đề xuất quy trình sư phạm 3 giai đoạn chặt chẽ, luận án đã bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị cho chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục. Kết quả khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm có đối chứng đã khẳng định tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp tác động, đóng góp thiết thực cho công tác đổi mới phương pháp giáo dục mầm non và chuẩn bị tâm thế cho trẻ chuyển tiếp vào lớp một.