Tổng quan luận án

Đề tài "Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo), bảo vệ năm 2020 thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Giáo dục (mã số: 9.02).

Thông tin tổng quan Nội dung chi tiết
Tên đề tài Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Cơ sở đào tạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chuyên ngành & Mã số Lý luận và Lịch sử Giáo dục (Mã số: 9.02)
Năm bảo vệ & Địa điểm Năm 2020, Hà Nội
Cách tiếp cận nghiên cứu Tiếp cận hệ thống, tiếp cận hoạt động, tiếp cận cá biệt hóa
Phương pháp nghiên cứu Hỗn hợp (Nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng định lượng/định tính, thực nghiệm sư phạm nghiên cứu trường hợp)

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giao tiếp (GT) là điều kiện cơ bản để con người lĩnh hội tri thức, thiết lập các mối quan hệ xã hội và hình thành nhân cách. Đối với trẻ em, kỹ năng giao tiếp (KNGT) bằng lời nói là phương tiện biểu đạt nền tảng giúp trẻ tiếp nhận thông tin, chia sẻ cảm xúc và hòa nhập cộng đồng. Theo các số liệu quốc tế được tác giả dẫn chứng, trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN) chiếm khoảng 5% đến 10% tại Mỹ (theo điều tra của Đại học Chăm sóc Y tế Michigan) và khoảng 10% tại các quốc gia như Canada, New Zealand, Anh.

CPTNN ở trẻ 5-6 tuổi gây ra nhiều trở ngại trong việc tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ, dẫn đến nguy cơ rối nhiễu cảm xúc, hạn chế tương tác xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sẵn sàng học tập khi bước vào lớp 1. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào KNGT của trẻ phát triển bình thường hoặc trẻ có khuyết tật thực thể (tự kỷ, khiếm thính, khuyết tật trí tuệ). Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện từ khung lý luận, bộ công cụ đánh giá KNGT bằng lời nói theo từng pha giao tiếp đến hệ thống các biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN không do khuyết tật thực thể trong môi trường giáo dục mầm non hòa nhập.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng KNGT bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi CPTNN, đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN nhằm góp phần giúp trẻ đạt chuẩn phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:

  1. Xác định cơ sở lí luận về giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN.
  2. Nghiên cứu thực trạng KNGT bằng lời nói và giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN tại các trường mầm non.
  3. Đề xuất và thực nghiệm sư phạm các biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN.

Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp giáo dục phù hợp theo hướng xây dựng môi trường giao tiếp kích thích nhu cầu, tạo cơ hội cho trẻ CPTNN trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói, rèn luyện kỹ năng nghe hiểu, kỹ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ nói và rèn luyện từng KNGT bằng lời nói trong từng pha giao tiếp, đồng thời phối hợp chặt chẽ với gia đình thì sẽ phát triển được KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN ở trường mầm non.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KNGT cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa mức độ phát triển KNGT bằng lời nói của trẻ CPTNN với các biện pháp giáo dục KNGT được sử dụng cho trẻ CPTNN.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào kỹ năng nghe hiểu và kỹ năng biểu đạt bằng lời nói trong các pha giao tiếp; nghiên cứu trẻ CPTNN thuần túy (chậm từ 1-2 độ tuổi so với mốc phát triển điển hình, không đi kèm các khuyết tật trí tuệ, thính giác, thị giác hay tự kỷ). Về mặt ngữ âm, luận án chấp nhận đặc thù phương ngữ Nghệ Tĩnh (không phân biệt thanh ngã với thanh nặng).
  • Phạm vi không gian và khách thể khảo sát: Tiến hành sàng lọc trên 360 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; xác định và khảo sát sâu 34 trẻ có biểu hiện CPTNN; khảo sát 24 giáo viên mầm non (GVMN) trực tiếp dạy trẻ và 34 cha mẹ trẻ CPTNN.
  • Phạm vi thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm theo phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) trên 02 trẻ 5-6 tuổi CPTNN (viết tắt là K.L. và T.Đ.) tại trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh trong thời gian 4 tháng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính trong và ngoài nước

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 3 nhóm vấn đề chính:

  1. Nghiên cứu về chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non:

    • Khái niệm và biểu hiện: Tác giả điểm lại nghiên cứu của Whitehurst G.J. và Fischel J.E. (1994), Lowry (Trung tâm Hanen), Anderson N.B. (2006), phân loại ICD-10 của WHO (1992) và cẩm nang DSM-V của Hiệp hội Tâm thần Mỹ (2012). Các công trình xác định trẻ CPTNN có biểu hiện chậm khoảng 2 độ lệch chuẩn (SD) về tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ.
    • Nguyên nhân CPTNN: Các nghiên cứu của Capone & McGregor (2004), Roberts & Price (2003), Leung A.K. & Kao C.P. (1999), Punner D.H. (1990), Rae Pica (1999) chỉ ra các yếu tố di truyền (khoảng 30% trẻ CPTNN có cha mẹ từng CPTNN), yếu tố tổn thương thần kinh/thiếu oxy não cục bộ (HIE), và sự thiếu hụt kích thích từ môi trường tương tác xã hội.
    • Công cụ đo lường: Gina Conti-Ramsden & Kevin Durkin (2012) tổng kết các công cụ chuẩn hóa như British Ability Scales Third Edition (BAS3), British Picture Vocabulary Scale Third Edition (BPVSIII), Early Repetition Battery (ERB).
    • Ảnh hưởng của CPTNN: Các nghiên cứu của A. Xvetcova (1988), Catts, Fey, Tomblin & Zang (2002), Brinton, Fujiki & Higbee (1998), Rice, Alexander & Hadley (1993) khẳng định CPTNN làm suy giảm khả năng tương tác xã hội, hạn chế khả năng đọc hiểu và gây khó khăn khi trẻ bước vào trường phổ thông.
  2. Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và KNGT của trẻ mầm non:

    • Mặt kỹ thuật của kỹ năng: V. Cuzin, V. Tsebyseva, Trần Trọng Thủy, Đào Thị Oanh nhấn mạnh kỹ năng là chuỗi thao tác hành động được thực hiện thuần thục.
    • Mặt năng lực của kỹ năng: E. Gobulep, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, L. McCleneghan (2006), Hoàng Anh, Đinh Nguyễn Trang Thu nhìn nhận KNGT là năng lực thiết lập mối quan hệ và năng lực điều khiển quá trình giao tiếp.
    • Giao tiếp của trẻ mẫu giáo: R. Kolominxki, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Thạc, Nguyễn Xuân Thức, Hoàng Thị Phương phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ gia đình, nhà trường và vai trò của giao tiếp đối với việc hình thành nhân cách trẻ.
  3. Nghiên cứu về giáo dục KNGT cho trẻ CPTNN:

    • Charlotte Lynch & Julia Cooper (2016), Kak Hai Nodich, Steven Gutstin, Tara Winterton, Linda Maget, E. Nhicolova, Koegel (1995), Woods & Wetherby (2003) nhấn mạnh việc nhúng trẻ vào môi trường giao tiếp tự nhiên, tổ chức các hoạt động tương tác xã hội và tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường.
    • Tại Việt Nam, một số tác giả như Nguyễn Huy Cẩn, Lê Vân Anh, Hồ Lam Hồng, Nguyễn Xuân Khoa, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thị Oanh, Đinh Hồng Thái đã nghiên cứu ngôn ngữ trẻ mầm non; các tác giả Đinh Nguyễn Trang Thu, Trần Thị Lệ Thu nghiên cứu KNGT cho trẻ tự kỷ và trẻ khuyết tật.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy các công trình quốc tế chủ yếu tập trung vào công tác chẩn đoán, sàng lọc y tế hoặc can thiệp lâm sàng, trong khi các nghiên cứu trong nước chưa có công trình nào giải quyết toàn diện vấn đề giáo dục KNGT bằng lời nói cho nhóm trẻ 5-6 tuổi CPTNN thuần túy trong môi trường giáo dục mầm non thông thường. Luận án định vị vị trí nghiên cứu là kết hợp tiếp cận tâm lý học hoạt động, giáo dục học mầm non và ngôn ngữ học ứng dụng để thiết lập thang đánh giá 26 tiêu chí và xây dựng quy trình 4 nhóm biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói phù hợp với thực tiễn giáo dục mầm non tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án xây dựng khung lý luận dựa trên ba cách tiếp cận và ba lý thuyết phát triển tâm lý - giáo dục:

  • Tiếp cận hệ thống (cấu trúc - hệ thống): Xem xét KNGT bằng lời nói như một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều thành tố liên kết chặt chẽ (định hướng, nghe hiểu, biểu đạt, tương tác, duy trì/kết thúc) và xem quá trình giáo dục là hệ thống phối hợp giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và các lực lượng giáo dục.
  • Tiếp cận hoạt động: Khẳng định tâm lý và kỹ năng ngôn ngữ của trẻ được hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua các hoạt động chủ đạo (vui chơi, giao tiếp, trải nghiệm khám phá).
  • Tiếp cận cá biệt hóa: Xuất phát từ tính đa dạng về nguyên nhân, mức độ chậm và đặc điểm cá nhân của từng trẻ CPTNN để thiết kế các tác động sư phạm phù hợp mà không tách rời môi trường lớp học hòa nhập.
  • Thuyết tương tác xã hội và Vùng phát triển gần của L. Vygotsky: Ứng dụng kỹ thuật "giàn giáo" (scaffolding); sự trợ giúp của giáo viên và người lớn được thiết lập và giảm dần từng bước cho đến khi trẻ có thể độc lập thực hiện hành vi giao tiếp bằng lời nói.
  • Thuyết nhu cầu của A. Maslow: Vận dụng quy luật vận động của nhu cầu và nguyên tắc "3 không" trong can thiệp ngôn ngữ: không đáp ứng trước yêu cầu, không đáp ứng tức thì, không đáp ứng quá liều, nhằm kích thích trẻ nảy sinh nhu cầu và bắt buộc phải dùng lời nói để thể hiện mong muốn.
  • Thuyết hành vi (Locke, Skinner): Vận dụng việc làm mẫu, khen thưởng, tạo môi trường củng cố tích cực để trẻ rèn luyện KNGT thông qua bắt chước hành vi chuẩn mực.

Các khái niệm công cụ định nghĩa trong luận án:

  • Chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN): Là mức độ phát triển ngôn ngữ chậm hơn so với yêu cầu độ tuổi ít nhất 1 năm theo các tiêu chí điển hình về ngữ âm, vốn từ, ngữ pháp, được thể hiện trong tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ, gây khó khăn trong giao tiếp hàng ngày; không kèm theo các dạng khuyết tật trí tuệ, thính giác, thị giác hay tự kỷ.
  • Kỹ năng giao tiếp bằng lời nói: Là KNGT được chủ thể thực hiện chủ yếu thông qua phương tiện lời nói (sử dụng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp theo quy định) để thể hiện ý muốn của mình và tiếp nhận, xử lý thông tin trong những điều kiện, tình huống giao tiếp nhất định.
  • Giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ CPTNN: Là hệ thống các tác động có hướng đích của nhà giáo dục thông qua việc thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục giúp trẻ CPTNN trải nghiệm giao tiếp trực tiếp, rèn luyện các KNGT bằng lời nói (nghe hiểu và biểu đạt) trong các tình huống giao tiếp cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu khoa học để xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống khái niệm.
  2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Khảo sát 24 GVMN và 34 cha mẹ có con 5-6 tuổi CPTNN tại 4 trường mầm non ở TP. Vinh nhằm đánh giá thực trạng KNGT của trẻ và thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý mầm non, GVMN dạy trẻ CPTNN và chuyên viên Phòng Giáo dục Mầm non thuộc Sở GD&ĐT Nghệ An.
  4. Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp các biểu hiện KNGT của trẻ trong giờ học, giờ chơi và quan sát hoạt động tổ chức giáo dục của giáo viên.
  5. Phương pháp sử dụng bảng kiểm (Checklist): Xây dựng bảng kiểm 26 tiêu chí đánh giá mức độ KNGT bằng lời nói của trẻ CPTNN trước và sau thực nghiệm.
  6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích kế hoạch giáo dục cá nhân, giáo án của giáo viên và nhật ký ghi chép sự tiến bộ của trẻ.
  7. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (Nghiên cứu trường hợp): Can thiệp tác động sâu trên 02 trẻ 5-6 tuổi CPTNN tại trường mầm non trong 4 tháng.
  8. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và lượng hóa dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS 22.0, sử dụng phân tích tần số, phần trăm, giá trị trung bình, phân tích hồi quy tuyến tính đơn và hồi quy tuyến tính bội để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của trẻ.
  9. Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực Giáo dục mầm non và Giáo dục đặc biệt để hoàn thiện khung tiêu chí và quy trình biện pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ngôn ngữ, KNGT và đặc điểm phát triển của trẻ 5-6 tuổi CPTNN. Tác giả chỉ rõ trẻ 5-6 tuổi CPTNN có sự tụt hậu ít nhất 1 năm về các mốc phát triển ngôn ngữ, thể hiện qua ba bình diện:

  • Ngữ âm: Trẻ phát âm sai phụ âm đầu, phụ âm cuối, nói ngọng, phát âm thiếu chuẩn xác thanh điệu, ngữ điệu đều đều, thiếu linh hoạt.
  • Từ vựng: Vốn từ nghèo nàn, hạn chế về số lượng từ loại, gặp khó khăn khi hiểu nghĩa bóng hoặc câu nói gián tiếp, thường lặp lại từ ngữ quen thuộc.
  • Ngữ pháp: Trẻ chỉ nói được câu ngắn, câu cụt, thiếu thành phần ngữ pháp, diễn đạt lộn xộn, thiếu các kết từ liên kết câu (và, vì, nên, nhưng...).

Trên cơ sở phân tích cấu trúc của hành vi giao tiếp, tác giả xây dựng khung nội dung giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN gồm 26 kỹ năng thành phần thuộc 5 nhóm kỹ năng cơ bản:

Nhóm KNGT bằng lời nói Số lượng Danh mục các tiêu chí / kỹ năng thành phần cụ thể
A. Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp 04 1. Xác định được vị trí trong giao tiếp.
2. Bắt chuyện, làm quen với người mới gặp.
3. Gây thiện cảm cho người đối diện.
4. Sử dụng phương tiện, cách thức giao tiếp phù hợp.
B. Nhóm kỹ năng nghe hiểu lời nói 07 1. Nghe âm thanh/lời tả và nhận ra đối tượng được nói đến.
2. Nghe, hiểu thông tin và trả lời được thông tin đó.
3. Nghe thông tin có 4-5 sự kiện và truyền đạt lại thông tin đã nghe.
4. Nghe âm thanh, xem tranh và phân nhóm theo chủ đề.
5. Thực hiện được chỉ dẫn, yêu cầu liên quan đến 2-3 hành động liên tiếp.
6. Nghe, trả lời câu hỏi và kể lại câu chuyện theo trình tự sự việc.
7. Nhận ra sắc thái biểu cảm của lời nói, cử chỉ, ánh mắt người khác.
C. Nhóm kỹ năng biểu đạt 07 1. Xem tranh và mô tả rõ ràng các ký hiệu/hình ảnh đơn giản.
2. Miêu tả bạn thân hoặc người mà trẻ yêu quý.
3. Kể lại sự việc, hiện tượng hoặc câu chuyện đầy đủ diễn biến.
4. Sẵn sàng và chủ động trò chuyện theo các chủ đề khác nhau.
5. Sử dụng từ ngữ chỉ tên gọi, tính chất, hành động, từ biểu cảm để tạo câu mạch lạc.
6. Sử dụng cử chỉ, nét mặt phù hợp hoặc biết hỏi lại khi chưa hiểu.
7. Điều chỉnh giọng nói, dùng từ ngữ lễ phép phù hợp hoàn cảnh.
D. Nhóm kỹ năng tương tác 04 1. Nhìn vào mắt người đối diện khi giao tiếp.
2. Luân phiên lượt lời với người lớn và bạn bè.
3. Phản ứng nhanh với hành động và lời nói của người đối thoại.
4. Sẵn sàng và chủ động tương tác theo các chủ đề đa dạng.
E. Nhóm kỹ năng phát triển và kết thúc giao tiếp 04 1. Khởi xướng cuộc trò chuyện mới và chờ đợi sự đáp lại.
2. Duy trì nguồn thông tin trong cuộc hội thoại.
3. Chờ đến lượt trong trò chuyện, không nói leo, không ngắt lời.
4. Sử dụng lời nói hoặc hành động phù hợp để kết thúc giao tiếp.

Chương 1 cũng phân tích các nguyên tắc giáo dục (đảm bảo tính mục đích, tính phát triển, tính cá biệt hóa, tính tích cực tự giác), phương pháp giáo dục (dùng lời nói, trực quan, thực hành trải nghiệm, trò chơi), và xác định các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (đặc điểm tâm lý, cơ quan phát âm, nhu cầu giao tiếp của trẻ) và yếu tố khách quan (môi trường giao tiếp gia đình, năng lực của GVMN, điều kiện cơ sở vật chất nhà trường).

Chương 2: Thực trạng kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Quy trình khảo sát được tiến hành qua bước sàng lọc 360 trẻ 5-6 tuổi, qua đó nhận diện được 34 trẻ có biểu hiện CPTNN (chiếm tỷ lệ 9,44%, tương đương với các thống kê quốc tế). Tác giả tiến hành khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi và bảng kiểm đối với 24 GVMN và 34 cha mẹ trẻ.

Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy:

  • Về mức độ KNGT của trẻ: Đa số trẻ 5-6 tuổi CPTNN ở mức độ yếu và trung bình ở cả 5 nhóm KNGT. Kỹ năng nghe hiểu các mệnh lệnh phức tạp (liên quan 2-3 hành động) và kỹ năng biểu đạt câu mạch lạc đạt điểm số rất thấp. Trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc luân phiên lượt lời, duy trì cuộc hội thoại và thường bộc lộ cảm xúc tiêu cực (ăn vạ, mè nheo, thu mình) khi không thể diễn đạt ý muốn.
  • Về thực trạng giáo dục của GVMN và phụ huynh: Phần lớn giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục KNGT cho trẻ CPTNN nhưng gặp khó khăn lớn về thời gian, sĩ số lớp đông, thiếu tài liệu hướng dẫn chuyên sâu và thiếu kỹ năng xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân. Phía phụ huynh thường có xu hướng làm thay, nói hộ, thỏa mãn ngay lập tức các đòi hỏi của trẻ hoặc phó mặc hoàn toàn cho nhà trường, dẫn đến triệt tiêu động cơ giao tiếp bằng lời nói của trẻ.
  • Phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng bằng SPSS 22.0: Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đơn và hồi quy tuyến tính bội chỉ ra rằng các yếu tố: sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình, phương pháp tác động của giáo viên, môi trường giao tiếp gia đìnhtính tích cực hoạt động của trẻ có mối tương quan thuận và tác động trực tiếp đến điểm số KNGT tổng hợp của trẻ CPTNN.

Chương 3: Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN, tuân thủ 4 nguyên tắc: đảm bảo tính mục đích, tính phát triển, tính cá biệt hóa và tính tích cực, tự giác của trẻ.

Nhóm biện pháp Nội dung và kỹ thuật thực hiện trọng tâm
Nhóm 1: Thiết kế môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói - Tạo lập môi trường tâm lý an toàn, cởi mở, thân thiện tại lớp học mầm non.
- Bố trí góc hoạt động ngôn ngữ phong phú với sách tranh, rối tay, đồ chơi đóng vai.
- Ứng dụng nguyên tắc "3 không" (không đáp ứng trước, không đáp ứng tức thì, không đáp ứng quá liều) để kích thích trẻ phải chủ động bật ra lời nói.
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế, trò chơi đóng vai theo chủ đề để tạo tình huống buộc trẻ phải giao tiếp.
Nhóm 2: Thực hành, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ CPTNN - Rèn luyện kỹ năng nghe hiểu: tập nhận diện âm thanh, thực hiện mệnh lệnh nối tiếp từ đơn giản đến phức tạp (2-3 hành động), nghe hiểu truyện kể qua tranh.
- Rèn luyện kỹ năng biểu đạt: luyện phát âm chuẩn xác, mở rộng vốn từ qua trò chơi ngôn ngữ, tập đặt câu mở rộng với các liên từ, tập miêu tả tranh và kể lại chuyện.
- Rèn luyện kỹ năng tương tác và duy trì hội thoại: hướng dẫn trẻ quy tắc luân phiên lượt lời, nhìn thẳng vào mắt bạn khi nói, chào hỏi và kết thúc hội thoại lịch sự.
Nhóm 3: Hỗ trợ cá nhân trẻ CPTNN tăng cường chất lượng lời nói - Xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) phù hợp với mức độ chậm của từng trẻ.
- Sử dụng kỹ thuật can thiệp "giàn giáo" (scaffolding): làm mẫu lời nói rõ ràng, hỗ trợ trẻ nhắc lại, đặt câu hỏi gợi mở và rút dần sự trợ giúp để trẻ tự nói.
- Sửa lỗi phát âm, sửa cấu trúc câu cụt/câu đảo trật tự ngữ pháp trong các tình huống sinh hoạt hàng ngày.
Nhóm 4: Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non - Tổ chức các chuyên đề tập huấn về nhận diện sớm trẻ CPTNN và phương pháp can thiệp hòa nhập.
- Hướng dẫn GVMN kỹ năng thiết kế giáo án tích hợp phát triển ngôn ngữ và kỹ năng lập hồ sơ theo dõi sự tiến bộ của trẻ.
- Xây dựng quy chế phối hợp thường xuyên giữa giáo viên và cha mẹ trẻ (qua sổ nhật ký giao tiếp, trao đổi hàng ngày, hướng dẫn bài tập thực hành tại gia đình).

Thực nghiệm sư phạm - Nghiên cứu 2 trường hợp điển hình: Luận án tiến hành can thiệp thực nghiệm sư phạm trên 02 trẻ 5-6 tuổi CPTNN (trẻ K.L. và trẻ T.Đ.) tại trường mầm non ở TP. Vinh trong thời gian 4 tháng:

  • Trường hợp trẻ K.L.: Trước thực nghiệm, trẻ có vốn từ rất nghèo, chỉ nói từ đơn, phát âm ngọng nhiều âm đầu, né tránh nhìn vào mắt người đối thoại. Sau 4 tháng áp dụng tích hợp 4 nhóm biện pháp (kết hợp can thiệp cá nhân 30 phút/ngày và hòa nhập trong lớp), trẻ K.L. đã biết nói câu ghép 5-7 từ, biết sử dụng từ xưng hô lễ phép, chủ động tham gia trò chơi đóng vai và tự tin trả lời câu hỏi của giáo viên.
  • Trường hợp trẻ T.Đ.: Trước thực nghiệm, trẻ hiểu mệnh lệnh chậm, nói câu cụt, thường ăn vạ khi không được đáp ứng. Sau 4 tháng tác động bằng nguyên tắc "3 không" và rèn luyện luân phiên lượt lời, trẻ T.Đ. đã giảm hẳn các hành vi tiêu cực, biết chờ đến lượt trong trò chuyện, biết mô tả đồ vật theo tranh và chủ động bắt chuyện với bạn cùng lớp.
  • Điểm số đánh giá theo thang 26 tiêu chí của cả 2 trẻ sau thực nghiệm đều có sự tăng trưởng rõ rệt so với trước thực nghiệm, minh chứng cho tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lí luận

  1. Hệ thống hóa, bổ sung và làm phong phú cơ sở lý luận về giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi CPTNN không do khuyết tật thực thể trong điều kiện giáo dục mầm non hòa nhập.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ: làm rõ nội hàm khái niệm chậm phát triển ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp bằng lời nói, giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ CPTNN.
  3. Xác lập cấu trúc KNGT bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi CPTNN gồm 5 nhóm kỹ năng với 26 tiêu chí cụ thể gắn với các pha của quá trình giao tiếp, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá và xây dựng chương trình can thiệp.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh chân thực bức tranh thực trạng mức độ KNGT bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi CPTNN và thực trạng giáo dục KNGT của giáo viên, phụ huynh tại 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
  2. Đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ, có tính ứng dụng cao, giúp GVMN và cha mẹ trẻ có công cụ cụ thể để hỗ trợ trẻ CPTNN chuẩn bị tâm thế và kỹ năng ngôn ngữ sẵn sàng vào lớp 1.
  3. Cung cấp khung tài liệu tham khảo có giá trị cho việc biên soạn tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Đặc biệt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT: Cần ban hành văn bản hướng dẫn về phát hiện sớm và can thiệp giáo dục hòa nhập cho trẻ CPTNN trong các cơ sở giáo dục mầm non; đưa nội dung giáo dục KNGT cho trẻ có khó khăn về ngôn ngữ vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên.
  • Đối với các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm: Bổ sung học phần hoặc chuyên đề về "Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ" vào chương trình đào tạo giáo sinh ngành Giáo dục Mầm non.
  • Đối với các trường Mầm non và Giáo viên: Chủ động rà soát, sàng lọc trẻ CPTNN ngay từ đầu năm học; xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân; thiết kế môi trường lớp học giàu tính tương tác; duy trì trao đổi thông tin chặt chẽ với phụ huynh.
  • Đối với gia đình và phụ huynh: Dành thời gian trò chuyện, đọc sách tranh cùng con; kiên trì áp dụng nguyên tắc "3 không", không làm thay/nói thay trẻ; phối hợp thống nhất phương pháp giáo dục với nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Khảo sát thực trạng chỉ được thực hiện trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (với 360 trẻ sàng lọc, 34 trẻ CPTNN, 24 GVMN và 34 phụ huynh), chưa mở rộng ra các vùng nông thôn, miền núi hoặc các tỉnh thành khác.
  • Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm mới chỉ tiến hành dưới dạng nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trên 02 trẻ điển hình trong thời gian 4 tháng, chưa tiến hành thực nghiệm diện rộng có nhóm đối chứng quy mô lớn.
  • Về mặt ngữ âm, nghiên cứu chấp nhận đặc thù phương ngữ Nghệ Tĩnh (không phân biệt thanh ngã và thanh nặng), do đó một số tiêu chí về ngữ âm cần có sự điều chỉnh khi áp dụng tại các vùng phương ngữ Bắc Bộ hoặc Nam Bộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng và kiểm nghiệm các biện pháp giáo dục trên quy mô mẫu lớn hơn ở nhiều vùng miền, địa phương đại diện cho các vùng phương ngữ khác nhau trên cả nước.
  • Triển khai thực nghiệm sư phạm can thiệp theo nhóm trẻ hoặc toàn thể lớp mầm non hòa nhập có đối chứng để đánh giá sâu hơn tác động tương hỗ giữa các trẻ trong tập thể.
  • Xây dựng các ứng dụng công nghệ hoặc phần mềm hỗ trợ giáo viên và phụ huynh đánh giá trực tuyến sự tiến bộ KNGT bằng lời nói của trẻ CPTNN.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về phương pháp luận nghiên cứu giáo dục hòa nhập, kỹ thuật phân tích định lượng SPSS (hồi quy đơn/bội) trong khoa học giáo dục, và phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study).
  • Cán bộ quản lý và Giáo viên mầm non: Cung cấp trực tiếp bộ công cụ bảng kiểm 26 tiêu chí đánh giá KNGT và hệ thống bài tập, trò chơi, kỹ thuật can thiệp "giàn giáo", nguyên tắc "3 không" để ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy hàng ngày.
  • Cha mẹ trẻ: Giúp phụ huynh nhận diện đúng các dấu hiệu CPTNN của con, thay đổi quan điểm chăm sóc (tránh nuông chiều, nói hộ) và nắm vững cách thức tương tác ngôn ngữ tại gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ như thế nào và có giới hạn đối tượng nghiên cứu không?

Trẻ 5-6 tuổi CPTNN trong luận án được định nghĩa là những trẻ có mức độ phát triển ngôn ngữ chậm hơn so với yêu cầu độ tuổi ít nhất 1 năm theo các tiêu chí điển hình về ngữ âm, vốn từ, ngữ pháp, thể hiện qua khó khăn trong nghe hiểu và biểu đạt bằng lời nói, gây cản trở giao tiếp hàng ngày. Luận án giới hạn nghiên cứu ở những trẻ CPTNN thuần túy, hoàn toàn không kèm theo các dạng khuyết tật thực thể như khuyết tật trí tuệ, khiếm thính, khiếm thị hay rối loạn phổ tự kỷ.

2. Bộ tiêu chí đánh giá KNGT bằng lời nói của luận án gồm những nhóm nào?

Bộ tiêu chí gồm 26 kỹ năng thành phần được phân bổ trong 5 nhóm kỹ năng chính tương ứng với các pha giao tiếp:

  1. Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp (4 tiêu chí).
  2. Nhóm kỹ năng nghe hiểu lời nói (7 tiêu chí).
  3. Nhóm kỹ năng biểu đạt (7 tiêu chí).
  4. Nhóm kỹ năng tương tác (4 tiêu chí).
  5. Nhóm kỹ năng phát triển và kết thúc giao tiếp (4 tiêu chí).

3. Nguyên tắc "3 không" được luận án vận dụng trong can thiệp ngôn ngữ là gì?

Dựa trên thuyết nhu cầu của A. Maslow, nguyên tắc "3 không" được đề xuất để kích thích động cơ giao tiếp của trẻ:

  • Không đáp ứng trước yêu cầu: Không tự ý đoán và làm thay khi trẻ chưa có biểu hiện đòi hỏi.
  • Không đáp ứng tức thì: Trì hoãn việc đáp ứng một khoảng thời gian ngắn để kích thích trẻ nỗ lực giao tiếp.
  • Không đáp ứng quá liều: Chỉ đáp ứng vừa đủ nhu cầu để duy trì động lực tương tác tiếp theo, bắt buộc trẻ phải sử dụng lời nói thay vì chỉ dùng cử chỉ, điệu bộ hay ăn vạ.

4. Bốn nhóm biện pháp giáo dục KNGT được đề xuất trong luận án gồm những nội dung gì?

Hệ thống biện pháp gồm:

  1. Nhóm 1: Thiết kế môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu và tạo cơ hội cho trẻ CPTNN trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói.
  2. Nhóm 2: Thực hành, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ CPTNN (nghe hiểu, biểu đạt, tương tác).
  3. Nhóm 3: Hỗ trợ cá nhân trẻ CPTNN tăng cường chất lượng lời nói (lập kế hoạch cá nhân, kỹ thuật giàn giáo, sửa lỗi phát âm/ngữ pháp).
  4. Nhóm 4: Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non và phối hợp với gia đình.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 02 trường hợp điển hình đã chứng minh điều gì?

Thực nghiệm sư phạm trên 02 trẻ 5-6 tuổi CPTNN (K.L. và T.Đ.) trong 4 tháng tại trường mầm non ở TP. Vinh cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về điểm số đánh giá ở cả 5 nhóm KNGT. Trẻ từ chỗ chỉ nói từ đơn, phát âm ngọng, né tránh giao tiếp hoặc ăn vạ đã tiến bộ thành nói được câu ghép, biết sử dụng từ ngữ lễ phép, biết luân phiên lượt lời, chủ động tương tác với cô và bạn bè, khẳng định tính hiệu quả và khả thi của 4 nhóm biện pháp đã đề xuất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ trong môi trường giáo dục mầm non hòa nhập. Bằng việc phối hợp các cách tiếp cận hệ thống, hoạt động, cá biệt hóa cùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, luận án đã xây dựng thành công khung lý luận, bộ công cụ đánh giá 26 tiêu chí và hệ thống 4 nhóm biện pháp can thiệp sư phạm đồng bộ. Kết quả khảo sát thực trạng trên 360 trẻ (sàng lọc 34 trẻ CPTNN) và thực nghiệm sư phạm nghiên cứu trường hợp trên 02 trẻ tại Nghệ An đã chứng minh tính khoa học, hiệu quả và khả thi của các biện pháp đề xuất. Công trình là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cao cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non và hỗ trợ các bậc cha mẹ trong việc chuẩn bị tâm thế, kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1.