phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ Chƣơng 2: Thực trạng kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI CHO TRẺ 5-6 TUỔI CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Nghiên cứu về chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 1.1 Quan niệm chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em CPTNN ở trẻ em đƣợc quan niệm khác nhau do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhƣng có thể nhận ra một số điểm chung là: trẻ CPTNN là trẻ bị chậm khoảng 2 độ lệch chuẩn (SD) dƣới trung bình theo độ tuổi về các dấu hiệu ngôn ngữ điển hình: tiếp nhận ngôn ngữ (từ ngữ, lời nói và các biểu cảm), biểu đạt ngôn ngữ; CPTNN có dạng thứ phát (kèm theo những khó khăn ho c khuyết tật nhƣ tự kỷ, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ…) và khởi phát (không kèm theo khó khăn nêu trên). [118] và Whitehurst GJ, Fischel JE. [132], cho rằng sự chậm trễ ngôn ngữ xảy ra khi ngôn ngữ của trẻ phát triển chậm hơn so với những đứa trẻ khác cùng tuổi theo các mốc phát triển điển hình.
Ví dụ, một đứa trẻ có thể 4 tuổi, nhƣng hiểu và / ho c sử dụng ngôn ngữ điển hình của một đứa trẻ chỉ có thể 2,5 tuổi. Trẻ có thể có sự phát triển chậm về hiểu ngôn ngữ (tiếp nhận ngôn ngữ) ho c chậm phát triển sử dụng ngôn ngữ (ngôn ngữ biểu cảm). Sự CPTNN có thể là khởi phát ho c thứ phát. Khi sự CPTNN khởi phát là chính, sẽ không kèm theo khó khăn khác.
Còn CPTNN thứ phát thì thƣờng là hệ quả của những khó khăn ho c khuyết tật khác nhƣ: tự kỷ, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ. Theo điều tra của Đại học Chăm sóc y tế Michigan, Mỹ, tỷ lệ trẻ CPTNN và lời nói chiếm từ 5 - 10% trong số trẻ trong cùng độ tuổi [134]. Phân loại quốc tế về bệnh ICD-10 (Tổ chức Y tế Thế giới 1992) trẻ CPTNN có mức độ phát triển chậm hơn có 2 độ lệch chuẩn (SD) dƣới trung bình, với các kỹ 9 năng nói ít nhất 11 độ lệch bên dƣới các biện pháp của chức năng nhận thức phi ngôn ngữ. Trong Hƣớng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn thần kinh DSM-V (Hiệp hội Tâm thần Mỹ năm 2012) đề xuất ngoài chức năng lệch chuẩn về nhận thức bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ còn thêm yếu tố độ lệch chuẩn có ảnh hƣởng đến thành tích học tập ho c nghề nghiệp, hay với sự tƣơng tác xã hội.
Những trẻ CPTNN thƣờng rơi vào những trẻ có chỉ số IQ 1 độ lệch chuẩn (khoảng 85 ho c cao hơn) hay thƣờng gọi là chậm phát triển ranh giới.2 Các biểu hiện của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em Theo Lowry, ngƣời có nhiều năm làm việc tại Trung tâm Writer và Hanen, Mỹ [108], CPTNN đƣợc biểu hiện qua việc: hiểu ngôn ngữ, biểu đạt ngôn ngữ qua các câu, và rối loạn trong ngữ pháp. Nghiên cứu của Anderson N.H, (2006), trong “Rối loạn giao tiếp” [81] đã chỉ ra các biểu hiện là chậm tiếp nhận và chậm biểu đạt bằng lời nói; ho c khi trẻ học ngôn ngữ thứ 2 sau ngôn ngữ mẹ đẻ bị chệch khỏi mẫu ngôn ngữ điển hình cùng độ tuổi, khả năng ngữ âm, từ vựng và các biểu cảm kém. Theo Trung tâm Thính học, Lời nói, Ngôn ngữ và học tập, Mỹ [87] CPTNN đƣợc biểu hiện bằng các yếu tố sau đây: - Hạn chế trong khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Các kỹ năng bao gồm làm theo các hƣớng dẫn đơn giản, trả lời tên của trẻ khi đƣợc gọi, chỉ vào hình ảnh khi đƣợc đ t tên và xác định các bộ phận cơ thể và quần áo.
- Khả năng tiếp nhận từ ngữ rất hạn chế. Số lƣợng từ vựng mới đƣợc đứa trẻ tiếp nhận trở thành vốn từ riêng của mình sau mỗi thời gian hạn định, có thể là tháng, quý ho c năm ngay cả khi không đƣợc dạy trực tiếp. - Khả năng sử dụng cử chỉ điệu bộ hạn hẹp. Tất cả trẻ em ban đầu sử dụng cử chỉ nhƣng thƣờng vƣợt xa chúng khi chúng phát triển ngôn ngữ.
Trẻ em có thể sử dụng cử chỉ thay lời nói để truyền đạt ý định của chúng. Các cử chỉ có thể bao gồm chỉ vào đối tƣợng khi cần yêu cầu, chỉ vào ngƣời khác, vẫy tay chào và tạm biệt. - Độ rõ ràng của lời nói. Ngay cả trẻ nhỏ cũng có thể truyền đạt một thông điệp, kể một câu chuyện và mô tả các sự kiện ho c hình ảnh bằng lời nói.
- Khó khăn trong một số vấn đề về học tập hoặc hành vi có liên quan đến ngôn ngữ ở nhà trƣờng. - Sử dụng GT bằng ngôn ngữ cử chỉ và GT bằng lời nói với ngƣời khác trong 10 sinh hoạt, học tập, trong các trò chơi xã hội với bạn, cũng nhƣ sự quan tâm của chúng đối với bạn và ngƣời lớn khác, đ c biệt là sử dụng GT bằng mắt.3 Nghiên cứu về nguyên nhân của hiện tượng CPTNN Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tƣợng CPTNN, tuy nhiên các nguyên nhân cơ bản đƣợc chỉ ra qua các nghiên cứu đó là do yếu tố bẩm sinh- di truyền; các yếu tố về thể chất- sinh lý, thần kinh tạo ra những khó khăn ho c bệnh tật cản trở sự PTNN bình thƣờng; và môi trƣờng tƣơng tác xã hội không đáp ứng đƣợc nhu cầu PTNN. Các nghiên cứu của Capone & McGregor (2004), Roberts & Price (2003), Cablandrella & Wilcox (2000), Rosetti 1996, Burchinal & Neebe (2002), McCaythren, Were & Yoder (1996), Wetherby, Yonclas & Bryan (1989), trong “Rối loạn giao tiếp” của Anderson N.B & Shames (2006) [81] chỉ ra rằng, nguyên nhân của CPTNN của trẻ là không đáp ứng đƣợc nhu cầu PTNN trong các giai đoạn tiền ngôn ngữ nói. Đó là tƣơng tác ngôn ngữ nói thấp, nghèo vốn từ, tƣơng tác hạn chế, sai lệch về phát âm và các cử chỉ thông thƣờng trong giao tiếp, và thiếu kết nối, các kỹ năng xã hội đối với những trẻ có đ c điểm phát triển khác nhau trong từng giai đoạn.
Các nghiên cứu của Rockville, Md. (2006) trong “Sàng lọc chậm ngôn ngữ và lời nói ở trẻ mầm non” [124], và các công trình của tác giả nhƣ Leung AK, Kao CP (1999) [111] trong “Đánh giá và quản lý trẻ chậm phát triển tiếng nói”; Punner D.H (1990) “Kỹ năng giao tiếp” [121], Rae Pica (1999) [122] trong “Tiến tới và học thông qua chương trình - hoạt động và trò chơi tạo sự vui vẻ” đã nêu đƣợc một số đ c điểm và nguyên nhân gây ra CPTNN ở trẻ nhƣ sau: - Yếu tố di truyền có liên quan đến CPTNN: Tiểu sử gia đình của những trẻ CPTNN: 30% trẻ CPTNN có bố/mẹ CPTNN. Có khoảng 3% đến 10% trẻ CPTNN trong tổng dân số nói chung [121], [122]. - Một số tác động về bệnh lí cũng có thể ảnh hƣởng đến sự CPTNN nhƣ bệnh viêm tai giữa, cân n ng tăng chậm, nhƣng vẫn không có đủ bằng chứng chứng minh chúng là những yếu tố chính gây ra rối loạn PTNN đ c hiệu.
Ngoài ra, cũng có những yếu tố liên quan đến gen di truyền trong gia đình. Bên cạnh đó là cả yếu tố môi trƣờng cũng có tác động lớn tới việc CPTNN ở trẻ. - Chấn thƣơng não do bệnh não do thiếu oxy - thiếu máu cục bộ (HIE) ảnh hƣởng đến các kết nối trong não dẫn đến chậm phát triển khả năng nói và ngôn ngữ và các m t phát triển khác [92]. 11 - Ở trẻ trƣớc tuổi đến trƣờng, trong số các rối loạn phát triển nhận thức, các bệnh lý về ngôn ngữ nói chiếm tỷ lệ tƣơng đối lớn từ 2% đến 12%.
Có thể là các bệnh lý về ngôn ngữ nói với các rối loạn phát triển phân ly (ho c rối loạn đ c hiệu, ho c chứng khó đọc, viết) và các rối loạn thứ phát (nhƣ trong một hoàn cảnh nhất định, đó là rối loạn cảm xúc thần kinh có nguồn gốc trƣớc, trong và sau sinh, ho c từ các dạng chậm phát triển ho c thiếu hụt cảm giác). Nghiên cứu của Gina Conti-Ramsden & Kevin Durkin (2012) trong “Phát triển và đánh giá ngôn ngữ trẻ mầm non” [101], đã chỉ ra rằng ở trẻ CPTNN có mật độ chất xám và trắng trong cấu trúc bán cầu não trái ít hơn ở trẻ em có ngôn ngữ điển hình và ngƣời lớn. Từ những nghiên cứu nguyên nhân gây ra CPTNN ở trẻ, các tác giả cũng chỉ ra các biểu hiện và ảnh hƣởng của nó tới sự phát triển nói chung và phát triển khả năng GT nói riêng.4 Nghiên cứu về đánh giá mức độ chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ Việc đánh giá mức độ CPTNN ở trẻ em nói tiếng Anh đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu. đã đƣa ra nhận định: mức độ CPTNN phụ thuộc vào quá trình, các điều kiện ảnh hƣởng đến PTNN, các lĩnh vực ngôn ngữ nhƣ tiếp nhận, và ngôn ngữ biểu đạt từ nhiều góc độ khác nhau nhƣ môi trƣờng tƣơng tác và tần suất GT độ chuẩn của âm thanh tiếng nói, ngƣời tƣơng tác trong quá trình GT,… nhƣ bố thƣờng giao tiếp với con kém hơn mẹ.
Để đánh giá các mốc PTNN, trên cơ sở đó xác định mức độ CPTNN và lời nói của trẻ nói tiếng Anh, hiện tại có thể thống kê khoảng 100 loại công cụ khác nhau dành cho phụ huynh trẻ, dành cho các trung tâm, trạm y tế và trƣờng học sử dụng, hay dành cho các chuyên gia đƣợc đào tạo chuyên sâu. Gina Conti-Ramsden & Kevin Durkin [101] đã tổng hợp một số công cụ đƣợc sử dụng nhiều và đáp ứng tƣơng đối đầy đủ các tiêu chí về độ tin cậy, tính hiệu lực, hiệu quả, khả thi nhƣ: (1) British Ability Scales Third Edition (BAS3) Elliot, C.