Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Một số biện pháp hình thành thói quen giao tiếp văn hóa qua sinh hoạt hàng ngày cho trẻ 25-36 tháng" thuộc chuyên ngành Giáo dục Mầm non, do sinh viên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thị Phương (Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Ở lứa tuổi 25–36 tháng, trẻ em bắt đầu hình thành ý thức về bản thân và chuyển dần từ hoạt động tìm hiểu thế giới đồ vật sang việc tiếp nhận các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thông qua giao tiếp với người lớn và bạn bè xung quanh. Giao tiếp là phương thức cơ bản để hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách ban đầu của trẻ. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) – một địa bàn nông thôn nội đồng còn nhiều khó khăn – công tác giáo dục thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ còn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Nhận thức về văn hóa giao tiếp của một bộ phận phụ huynh chưa đầy đủ, người lớn trong gia đình chưa thực sự gương mẫu trong xưng hô, ứng xử.
- Tác động của phương ngữ địa phương và hiện tượng nói ngọng còn phổ biến.
- Giáo viên mầm non chưa lồng ghép thường xuyên, phương pháp tổ chức đôi khi còn áp đặt, chưa tạo được hứng thú tự nhiên cho trẻ.
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn chật hẹp, phòng học xuống cấp, thiếu thốn đồ dùng và đồ chơi trực quan.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là khảo sát thực trạng mức độ nhận thức và hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ 25–36 tháng tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên; từ đó xây dựng và kiểm nghiệm hệ thống biện pháp giáo dục thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo 3 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành thói quen giao tiếp có văn hóa qua sinh hoạt hàng ngày cho trẻ 25–36 tháng.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục hình thành thói quen giao tiếp có văn hóa thông qua các thời điểm sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục thói quen giao tiếp văn hóa qua sinh hoạt hàng ngày cho trẻ 25–36 tháng tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp văn hóa qua sinh hoạt hàng ngày cho trẻ 25–36 tháng tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Giả thuyết khoa học: Nếu áp dụng các biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp văn hóa qua sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm văn hóa địa phương thì mức độ nhận thức và hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ 25–36 tháng sẽ được nâng cao rõ rệt.
- Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Mẫu nghiên cứu: Khảo sát 6 giáo viên trực tiếp giảng dạy và thực nghiệm trên 30 trẻ nhóm 25–36 tháng tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên (chia thành nhóm thực nghiệm 15 trẻ và nhóm đối chứng 15 trẻ).
- Thời gian thực hiện: Tiếp nhận đề tài và xây dựng đề cương từ tháng 11/2007; điều tra thực trạng vào tháng 01/2008; tiến hành thực nghiệm sư phạm trong 3 tháng (tháng 2, 3, 4 năm 2008); nộp bản thảo tháng 5/2008 và hoàn thiện toàn văn vào tháng 8/2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên quan điểm tâm lý học – giáo dục học mầm non Mác-xít và các công trình nghiên cứu chuyên ngành của PGS.TS. Đào Thanh Âm, PGS. Ngô Công Hoàn, TS. Hoàng Thị Phương:
- Thói quen: Là những hành vi của cá nhân diễn ra trong các điều kiện ổn định về không gian, thời gian và quan hệ xã hội nhất định, gắn liền với nhu cầu sinh hoạt và được thực hiện một cách tự giác theo nền nếp.
- Giao tiếp của trẻ 25–36 tháng: Gồm giao tiếp bằng xúc giác (ôm ấp, vỗ về) với người thân và giao tiếp bằng ngôn ngữ/phi ngôn ngữ với người xung quanh. Giai đoạn này trẻ có nhu cầu giao tiếp cao, hứng thú nghe kể chuyện nhưng tâm lý còn mang tính tự kỷ, dễ xuất hiện hành vi bướng bỉnh, khó bảo song lại rất dễ uốn nắn.
- Văn hóa và giao tiếp có văn hóa: Văn hóa được tiếp cận theo định nghĩa của UNESCO và Từ điển Bách khoa; giao tiếp có văn hóa là việc nắm vững và vận dụng linh hoạt, đúng mực các quy tắc, chuẩn mực xã hội thừa nhận (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, xưng hô lễ phép, nói năng rõ ràng, trung thực, tôn trọng người khác) bằng cả phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
Hệ thống 6 chuẩn mực hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 25–36 tháng
- Thói quen chào hỏi: Biết chào hỏi lễ phép khi gặp gỡ và chia tay người lớn, bạn bè.
- Thói quen thể hiện nhu cầu cá nhân: Biết xin phép khi ra vào lớp, khi muốn lấy đồ dùng, đồ chơi hoặc phát biểu ý kiến.
- Thói quen thể hiện sự biết lỗi và tha lỗi: Biết nói lời xin lỗi khi làm sai và có thái độ ứng xử đúng mực khi người khác nhận lỗi.
- Thói quen thể hiện sự quan tâm và đáp lại sự quan tâm: Biết nói lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ, chăm sóc từ người khác.
- Thói quen tham gia hội thoại: Nói năng rõ ràng, xưng hô lễ phép, trả lời trọn câu đủ chủ ngữ – vị ngữ.
- Thói quen trung thực: Giữ lời hứa và không nói dối.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả phối hợp đồng bộ các nhóm phương pháp nghiên cứu sư phạm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên khảo về tâm lý học trẻ em, giáo dục học mầm non và văn hóa học nhằm xác lập cơ sở khái niệm và xây dựng tiêu chí đánh giá.
- Phương pháp điều tra thực tiễn: Sử dụng 20 phiếu thăm dò ý kiến kết hợp phiếu câu hỏi đóng/mở dành cho 6 giáo viên trực tiếp đứng lớp tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Theo dõi trực tiếp các biểu hiện hành vi, cử chỉ, lời nói của trẻ 25–36 tháng trong toàn bộ chế độ sinh hoạt một ngày ở trường.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và trẻ vào các thời điểm đón, trả trẻ hoặc trong hoạt động học tập.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm sư phạm: Tiếp thu kinh nghiệm thực tế từ các giáo viên dạy giỏi, giáo viên phụ trách chuyên đề của nhà trường.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm so sánh đối chứng song song trên 30 trẻ (15 trẻ thực nghiệm áp dụng hệ thống biện pháp mới; 15 trẻ đối chứng duy trì phương pháp chăm sóc giáo dục thông thường).
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức tính tỷ lệ phần trăm (%), tính điểm trung bình cộng (TBC) để xử lý, so sánh và kiểm định số liệu trước và sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ 25-36 tháng
Chương này tập trung làm rõ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhà trẻ (25–36 tháng), mục đích, nội dung và các con đường hình thành hành vi văn hóa (con đường tình cảm, con đường hành động với đồ vật). Đồng thời, tác giả trình bày kết quả khảo sát thực trạng công tác giáo dục tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên:
- Nhận thức của giáo viên: 100% giáo viên được hỏi khẳng định việc giáo dục thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ 25–36 tháng là rất cần thiết đối với sự hình thành nhân cách.
- Mức độ giáo dục thường xuyên các thói quen:
- Thói quen chào hỏi khi gặp gỡ, chia tay: 100% giáo viên thực hiện thường xuyên.
- Thói quen xin phép khi lấy đồ chơi, ra vào lớp: 80% thường xuyên; 20% thỉnh thoảng; 0% ít khi.
- Thói quen xin lỗi khi làm sai: 70% thường xuyên; 30% thỉnh thoảng.
- Thói quen cảm ơn khi được giúp đỡ: 80% thường xuyên; 20% ít khi.
- Rèn luyện nói năng rõ ràng: 70% thường xuyên; 30% ít khi.
- Giáo dục giữ lời hứa: 70% thường xuyên; 30% ít khi.
- Giáo dục không nói dối: 80% thường xuyên; 40% ít khi rèn luyện hành vi cư xử đúng mức.
- Nhận thức về thao tác chuẩn mực: 80% giáo viên đồng tình việc chào người lớn đúng cách là đứng thẳng, khoanh 2 tay trước ngực, hơi cúi đầu và xưng hô đúng vai vế; 90% chọn cách chào bạn là nhìn thẳng mặt vui vẻ và gọi tên bạn.
- Điều kiện thực tế tại trường: 90% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn; tuy nhiên chỉ có 30% được tiếp cận sâu về lý luận phương pháp giáo dục hành vi văn hóa; 60% phòng học được trang bị đồ chơi; 65% trường lớp đạt yêu cầu không gian; 70% phụ huynh có sự quan tâm phối hợp.
Chương II: Đề xuất một số biện pháp hình thành thói quen giao tiếp văn hóa qua sinh hoạt cho trẻ 25-36 tháng
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống 6 biện pháp tích hợp vào toàn bộ chu trình sinh hoạt một ngày của trẻ:
- Thông qua giờ đón trẻ: Giáo viên ân cần làm mẫu, nhắc nhở trẻ khoanh tay chào cô, chào bố mẹ, chào bạn bè; gợi mở đàm thoại bằng các câu hỏi gần gũi ("Hôm qua ở nhà con có ngoan không?", "Con có đồ chơi gì chia cho em không?") để rèn cho trẻ cách trả lời đủ câu, trọn vẹn chủ ngữ – vị ngữ; hướng dẫn trẻ xin phép cô trước khi lấy đồ chơi.
- Tổ chức thông qua hoạt động học tập: Lồng ghép giáo dục giao tiếp qua các tiết Làm quen văn học, Nhận biết tập nói, Giáo dục âm nhạc, Khám phá môi trường xung quanh. Sử dụng tranh ảnh minh họa, đặt hệ thống câu hỏi gợi mở để kích thích trẻ biểu đạt tình cảm đạo đức, nhận xét hành vi của nhân vật và trả lời lễ phép.
- Thông qua hoạt động ngoài trời: Tận dụng môi trường tự nhiên, hoạt động quan sát cây cỏ, thiên nhiên và trò chơi vận động để rèn luyện kỹ năng quan sát, giao tiếp tập thể và hướng dẫn trẻ trả lời câu hỏi hoàn chỉnh (ví dụ: "Thưa cô, cây bàng lá màu xanh ạ").
- Thông qua hoạt động vui chơi: Khai thác trò chơi đóng vai có chủ đề (trò chơi bế em thể hiện sự ân cần, chăm sóc; trò chơi bán hàng rèn kỹ năng mời chào, cảm ơn, trao – nhận đồ bằng hai tay) và trò chơi vận động nhằm giúp trẻ mô phỏng các mối quan hệ xã hội của người lớn.
- Thông qua giờ vệ sinh, ăn, ngủ:
- Giờ ăn: Rèn thói quen rửa tay, rửa mặt sạch sẽ trước khi ăn; ngồi ngay ngắn đúng chỗ; biết mời cô và mời bạn; cầm thìa tay phải, giữ bát tay trái; nhai ngậm miệng, không làm rơi vãi cơm, không để thừa thức ăn; sau khi ăn biết lau miệng, uống nước và xếp cất bát thìa đúng nơi quy định.
- Giờ ngủ: Tạo nền nếp đi vệ sinh trước khi ngủ; tạo không gian yên tĩnh, tránh tiếng ồn; cho trẻ nghe các làn điệu hát ru hoặc nhạc nhẹ êm dịu để đi vào giấc ngủ sâu.
- Thông qua giờ trả trẻ: Giáo viên thực hiện giao tiếp chuẩn mực với phụ huynh trước mặt trẻ (lời chào, cử chỉ lịch thiệp), nhắc nhở trẻ chào bố mẹ khi ra về; trao đổi ngắn gọn với phụ huynh về tình hình sinh hoạt trong ngày để tạo sự thống nhất giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
Chương này cũng chỉ rõ mối quan hệ tương hỗ, gắn kết chặt chẽ giữa 6 biện pháp; nhấn mạnh tính kiên trì, thường xuyên và yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa giáo viên và phụ huynh.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Chương thực nghiệm trình bày chi tiết quy trình kiểm chứng thực tế:
- Tiêu chí và thang đánh giá: Đánh giá trên 2 phương diện với 3 mức độ (thang điểm từ 0 đến 2 điểm):
- Về nhận thức: Loại Cao (2 điểm: biết hành vi, hiểu cách thực hiện, hiểu ý nghĩa); Loại Trung bình (1 điểm: biết hành vi, hiểu cách làm); Loại Thấp (dưới 1 điểm: không hiểu yêu cầu).
- Về thực hiện hành vi: Loại Cao (2 điểm: tự giác, chính xác, thành thạo); Loại Trung bình (1 điểm: có tính tự giác); Loại Thấp (dưới 1 điểm: không thực hiện được).
- Quy trình tiến hành: Khảo sát ban đầu cả 2 nhóm (30 trẻ); tiến hành tác động sư phạm theo hệ thống 6 biện pháp đối với nhóm thực nghiệm (15 trẻ), nhóm đối chứng (15 trẻ) tổ chức theo phương pháp cũ; sau 3 tháng đánh giá lại kết quả toàn diện trên cả 6 chuẩn mực hành vi.
Kết quả và đóng góp
Số liệu kết quả thực nghiệm sư phạm
Dữ liệu đo đạc trước và sau thực nghiệm (trích xuất từ Bảng 5 và Bảng tổng hợp của khóa luận) thể hiện sự chuyển biến rõ rệt giữa hai nhóm nghiên cứu:
| Chuẩn mực hành vi giao tiếp |
Nhóm đối chứng trước TN (Điểm) |
Nhóm thực nghiệm trước TN (Điểm) |
Nhóm đối chứng sau TN (Điểm) |
Nhóm thực nghiệm sau TN (Điểm) |
| Chuẩn mực 1 (Chào hỏi) |
NT: 1,1 | HV: 1,1 |
NT: 1,3 | HV: 1,1 |
NT: 1,5 | HV: 1,4 |
NT: 1,8 | HV: 1,6 |
| Chuẩn mực 2 (Thể hiện nhu cầu) |
NT: 0,9 | HV: 1,1 |
NT: 1,3 | HV: 1,1 |
NT: 1,4 | HV: 1,3 |
NT: 1,5 | HV: 1,5 |
| Chuẩn mực 3 (Biết lỗi / Xin lỗi) |
NT: 0,9 | HV: 1,1 |
NT: 1,3 | HV: 1,0 |
NT: 1,3 | HV: 1,3 |
NT: 1,5 | HV: 1,6 |
| Chuẩn mực 4 (Cảm ơn / Quan tâm) |
NT: 1,1 | HV: 0,9 |
NT: 1,2 | HV: 1,2 |
NT: 1,2 | HV: 1,4 |
NT: 1,7 | HV: 1,3 |
| Chuẩn mực 5 (Tham gia hội thoại) |
NT: 1,1 | HV: 0,9 |
NT: 1,3 | HV: 0,9 |
NT: 1,2 | HV: 1,3 |
NT: 1,6 | HV: 1,3 |
| Chuẩn mực 6 (Trung thực / Giữ lời) |
NT: 0,9 | HV: 1,1 |
NT: 1,1 | HV: 0,9 |
NT: 1,2 | HV: 1,2 |
NT: 1,6 | HV: 1,3 |
| Điểm Trung bình cộng (TBC) |
NT: 1,0 | HV: 1,03 |
NT: 1,25 | HV: 1,03 |
NT: 1,3 | HV: 1,3 |
NT: 1,62 | HV: 1,45 |
Ghi chú: NT: Nhận thức; HV: Hành vi thực hiện; TN: Thực nghiệm.
Phân loại tỷ lệ phát triển của nhóm thực nghiệm
- Về nhận thức: Trước thực nghiệm, nhóm thực nghiệm có 20% đạt loại tốt (3 trẻ), 20% trung bình (3 trẻ), 60% yếu (9 trẻ). Sau thực nghiệm, tỷ lệ đạt loại tốt tăng lên 100% (15/15 trẻ), không còn trẻ xếp loại trung bình hay yếu.
- Về thực hiện hành vi: Trước thực nghiệm, nhóm thực nghiệm có 20% đạt loại tốt (3 trẻ), 0% trung bình, 80% yếu (12 trẻ). Sau thực nghiệm, tỷ lệ đạt loại tốt đạt 93% (14/15 trẻ), loại yếu giảm xuống còn 7% (1 trẻ).
- Trong khi đó, nhóm đối chứng dù có tăng nhẹ do sự phát triển tự nhiên (TBC nhận thức đạt 1,3; TBC hành vi đạt 1,3) nhưng mức độ chuyển biến chậm hơn nhiều và không đồng đều giữa các chuẩn mực.
Đóng góp và đề xuất của tác giả
- Đóng góp thực tiễn: Khóa luận đã hệ thống hóa được quy trình lồng ghép giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa một cách tự nhiên vào 6 thời điểm sinh hoạt hàng ngày cho nhóm trẻ nhà trẻ (25–36 tháng) tại địa bàn nông thôn; chứng minh tính hiệu quả của phương pháp làm mẫu kết hợp tạo tình huống thực tế thay vì áp đặt lý thuyết.
- Kiến nghị sư phạm do tác giả đề xuất:
- Về cơ sở vật chất: Nhà trường và địa phương cần đầu tư thêm trang thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi trực quan, học liệu tranh ảnh và ứng dụng công nghệ thông tin.
- Về đào tạo, bồi dưỡng: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên mầm non về phương pháp và kỹ năng tổ chức giáo dục hành vi văn hóa giao tiếp cho trẻ nhỏ.
- Về phối hợp giáo dục: Xây dựng mối liên hệ chặt chẽ, định kỳ giữa nhà trường và gia đình nhằm thống nhất nội dung, yêu cầu và phương pháp rèn luyện thói quen cho trẻ tại nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận từ văn bản
- Quy mô mẫu hẹp: Thực nghiệm chỉ được tiến hành trên quy mô 30 trẻ (15 trẻ thực nghiệm và 15 trẻ đối chứng) tại một cơ sở giáo dục duy nhất là Trường Mầm non xã Thụy Duyên.
- Thời gian thực nghiệm ngắn: Thời gian can thiệp thực nghiệm sư phạm diễn ra trong vòng 3 tháng (tháng 2 đến tháng 4 năm 2008), do đó việc theo dõi tính bền vững lâu dài của thói quen ở các giai đoạn tuổi tiếp theo chưa được kiểm chứng đầy đủ.
- Điều kiện thực địa: Cơ sở vật chất của điểm trường còn phân tán, phòng học chật hẹp, chịu ảnh hưởng của phương ngữ địa phương và sự thiếu đồng đều về trình độ nhận thức của các bậc phụ huynh nông thôn.
Hướng phát triển của đề tài
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu và quy mô mẫu trên nhiều trường mầm non thuộc các vùng địa bàn khác nhau (đô thị, nông thôn, miền núi).
- Kéo dài thời gian nghiên cứu dọc để theo dõi sự chuyển hóa thói quen giao tiếp văn hóa của trẻ từ độ tuổi nhà trẻ lên các lớp mẫu giáo (3–6 tuổi).
- Xây dựng cẩm nang hướng dẫn chi tiết các tình huống xử lý nói ngọng, lệch chuẩn ngữ âm địa phương phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Bổ sung tư liệu thực tế về phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, kỹ thuật thiết kế phiếu điều tra xã hội học và xây dựng thang điểm đánh giá hành vi cho trẻ lứa tuổi 25–36 tháng.
- Giáo viên mầm non tại các nhóm trẻ/lớp nhà trẻ: Vận dụng trực tiếp quy trình 6 biện pháp giáo dục thói quen (chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, giao tiếp trong giờ ăn ngủ) vào kế hoạch tổ chức sinh hoạt một ngày.
- Cán bộ quản lý trường mầm non khu vực nông thôn: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và triển khai các chương trình phối hợp nuôi dạy trẻ giữa nhà trường và cha mẹ học sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề tài khảo sát và thực nghiệm dựa trên những chuẩn mực hành vi giao tiếp văn hóa cụ thể nào?
Tác giả xác định 6 chuẩn mực hành vi cụ thể phù hợp với lứa tuổi 25–36 tháng:
- Thói quen chào hỏi khi gặp gỡ và chia tay.
- Thói quen thể hiện nhu cầu cá nhân (xin phép khi ra vào lớp, lấy đồ chơi, phát biểu).
- Thói quen biết nhận lỗi và cư xử đúng mực khi người khác có lỗi.
- Thói quen cảm ơn khi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ.
- Thói quen tham gia hội thoại (nói năng rõ ràng, trả lời đủ câu).
- Thói quen giữ lời hứa và không nói dối.
2. Thực trạng cơ sở vật chất và nhận thức của giáo viên tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên trước thực nghiệm như thế nào?
Theo khảo sát:
- 100% giáo viên nhận thức việc giáo dục giao tiếp văn hóa là rất cần thiết; 90% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn nhưng chỉ có 30% được học tập lý luận chuyên sâu về nội dung này.
- Trường có lớp học phân tán tại nhiều thôn; phòng học chật hẹp, xuống cấp; đồ dùng đồ chơi còn thiếu; phụ huynh là nông dân còn chịu ảnh hưởng của phát âm ngọng và tiếng địa phương.
3. Biện pháp giáo dục thói quen văn hóa trong giờ ăn và giờ ngủ được tác giả hướng dẫn ra sao?
- Trong giờ ăn: Trẻ phải rửa tay mặt sạch sẽ; ngồi đúng vị trí; mời cô và các bạn; cầm thìa tay phải, cầm bát tay trái; nhai ngậm miệng, không làm rơi vãi, không bỏ thừa; sau ăn biết lau miệng, súc miệng và cất bát thìa gọn gàng.
- Trong giờ ngủ: Trẻ được tổ chức đi vệ sinh nền nếp trước khi ngủ; phòng ngủ giữ yên tĩnh; giáo viên bật nhạc nhẹ hoặc hát ru êm dịu để trẻ dễ ngủ.
4. Kết quả thực nghiệm sư phạm sau 3 tháng giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có sự khác biệt cụ thể như thế nào?
- Nhóm thực nghiệm: Điểm TBC nhận thức tăng từ 1,25 lên 1,62 (100% trẻ đạt loại tốt); điểm TBC hành vi tăng từ 1,03 lên 1,45 (93% trẻ đạt loại tốt, chỉ còn 7% loại yếu).
- Nhóm đối chứng: Điểm TBC nhận thức chỉ tăng từ 1,0 lên 1,3; điểm TBC hành vi tăng từ 1,03 lên 1,3; kết quả chuyển biến chậm hơn và tỷ lệ trẻ thực hiện thành thạo thấp hơn rõ rệt.
5. Tác giả đã sử dụng thang điểm và tiêu chí nào để đo lường mức độ phát triển của trẻ?
Đánh giá theo thang 3 mức độ (thang điểm tối đa 2 điểm):
- Nhận thức: Cao (2 điểm: biết hành vi, hiểu cách làm, hiểu ý nghĩa); Trung bình (1 điểm: biết và hiểu cách làm); Thấp (dưới 1 điểm: không thực hiện được yêu cầu).
- Thực hiện hành vi: Cao (2 điểm: tự giác, chính xác, thành thạo); Trung bình (1 điểm: tự giác thực hiện); Thấp (dưới 1 điểm: không thực hiện).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống 6 biện pháp hình thành thói quen giao tiếp văn hóa cho trẻ 25–36 tháng gắn liền với chế độ sinh hoạt hàng ngày. Kết quả thực nghiệm sư phạm kéo dài 3 tháng tại Trường Mầm non xã Thụy Duyên (Thái Bình) đã chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học khi điểm trung bình nhận thức của nhóm thực nghiệm đạt 1,62 và hành vi đạt 1,45, vượt trội so với nhóm đối chứng. Đây là công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp tài liệu phương pháp hữu ích cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ lứa tuổi nhà trẻ tại các trường mầm non khu vực nông thôn.