Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt ở trường mầm non. Nội dung chính bao gồm: a) Những khái niệm cơ bản (dự kiến gồm những khái niệm sau đây: Kỷ luật, hành vi, hành vi kỷ luật, chế độ sinh hoạt…); b) Lý luận việc vận dụng biện pháp giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi (bao gồm: Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 4 – 5 tuổi cần thiết cho việc giáo dục hành vi kỷ luật; Chế độ sinh hoạt ở trường mầm non; Nội dung giáo dục và phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi; Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hành vi 6 kỷ luật của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi; Tiêu chí và thang đánh giá hành vi kỷ luật của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi). - Chương 2: Thực trạng giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm biện pháp giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÀNH VI KỶ LUẬT CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ SINH HOẠT Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về những vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu này: Các nghiên cứu ở nước ngoài: Vấn đề giáo dục hành vi kỷ luật cho con người đã được nhắc đến từ các nhà triết học trước Mác trong các quan điểm của các trường phái khác nhau. Với quan điểm triết học của Khổng Tử về “lễ”, ông cho rằng, “để đạt được đức nhân thì phải chủ trương dùng lễ để duy trì trật tự xã hội”. Theo Khổng Tử, “Lễ còn là kỷ cương, trật tự xã hội, là những quy định đòi hỏi mọi người phải tuân theo.
Lễ là những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, ai làm trái những chuẩn mực đạo đức đó là trái với lễ”. Con người muốn thực hiện được các quy tắc đó cần có sự rèn luyện bản thân, biết chấp hành kỷ cương [13]. Nhà giáo dục người Mỹ, John Dewey với triết lý giáo dục được hình thành trên nền tảng dân chủ, quy định rằng giáo dục trong các trường học nhằm giúp trẻ em tiếp thu và phát triển kiến thức. Nó sẽ thúc đẩy mọi sự phát triển và học tập của trẻ em, mong muốn học tập suốt đời, ông cho rằng, “một người được huấn luyện để có thể cân nhắc các hành động của mình, để thực hiện chúng một cách có chủ tâm, tức là người ấy có kỷ luật trong chừng mực đó”.
Dạy học dựa trên hứng thú không là chưa đủ mà cần phải có thêm kỷ luật, “người ta có khuynh hướng đi tới một quan niệm phủ nhận kỷ luật, thay vì đồng nhất nó với sự tăng trưởng về năng lực thực hiện có tính xây dựng”. Do vậy, để hướng trẻ tham gia vào các hoạt động, vào nề nếp thì cần tạo cho trẻ sự hứng thú, ham thích và tham gia một cách thoải mái, không ép buộc. Nó có hàm nghĩa các bước trung gian, khi trẻ có hứng thú hoạt động thì dẫn đến thái độ chấp hành nghiêm túc và tự giác thực hiện các yêu cầu [24]. Maria Montessori – nhà giáo dục người Ý, người sáng lập phương pháp giáo dục Montessori với quan điểm nổi bật khẳng định quá trình “tự giáo dục” với môi 8 trường “tự do” để trẻ phát triển.
Tuy nhiên, với phương pháp này bà cũng đề cập đến “kỷ luật trong ngôi nhà trẻ thơ”. Việc duy trì trật tự trong lớp học chắc chắn không phải được xây dựng trên việc khiển trách, răn đe, trừng phạt hay những lời nói kiểu mệnh lệnh. Họ đã “bồi dưỡng kỉ luật cho trẻ thông qua các hoạt động tự phát” với các biện pháp củng cố hành vi thông qua hoạt động lao động tự phát, duy trì điều đó với các hoạt động thường ngày, trẻ làm theo mệnh lệnh của tự nhiên. Mỗi đứa trẻ đều biết cách tự kiểm soát bản thân mình để tham gia vào các hoạt động một cách điềm tĩnh, nhẹ nhàng, thoải mái, tự nhiên nhưng không thể được thực hiện một cách tùy tiện.
Các hoạt động này, con người cần có sự thích thú, phải ham muốn thực hiện và cần hoàn thành từng bước một. Phải hiểu được mong muốn của đứa trẻ cũng như sự phát triển thể lực, trí tuệ, năng lực của chúng thì mới từng bước giáo dục chúng đi vào nền nếp và có tính kỷ luật trong các hoạt động [31]. Dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau, nhà tâm lý học người Mỹ - Thomas Gordon đã chỉ ra rằng “việc áp đặt kỷ luật là vô tác dụng đối với sự phát triển tính tự chủ ở trẻ em”. Trong cuốn sách “Giáo dục không trừng phạt – Khuyến khích trẻ tự giác kỷ luật”, ông đã đưa ra các nghiên cứu cũng như quan điểm về vấn đề kỷ luật trong trường học cũng như trong gia đình.
Với nghiên cứu của mình, ông đề cập đến một số biện pháp nhằm khuyến khích trẻ có ý thức tự giác thực hiện các hành vi kỷ luật: Bằng việc thay đổi hành vi của trẻ, người lớn không nên dùng đến quyền kiểm soát, hãy tìm ra nhu cầu của trẻ, có sự linh động thay đổi hoàn cảnh, sử dụng thông điệp ở ngôi thứ nhất, phải báo trước cho trẻ những mong muốn của người lớn, biết điều chỉnh bản thân trước thái độ phản kháng của trẻ và cần hòa giải những xung đột giữa trẻ với trẻ [27]. Tác giả Chikara Oyano, từ kinh nghiệm giáo dục của mình cũng đã chia sẻ phương pháp “kỷ luật không nước mắt” trong giáo dục nhân cách và tố chất cho trẻ. Ông cho rằng, việc giáo dục hành vi kỷ luật không phải bằng sự trừng phạt hay thúc ép mà nó xuất phát từ sự nghiêm khắc có “tính nhất quán”, “tính liên tục” và “hành động của người lớn” sẽ dần đưa trẻ vào nề nếp ngay từ nhỏ. Người lớn cần giúp trẻ hiểu được lý do phải làm một việc và ý nghĩa của việc đó, dạy trẻ theo từng bước nhỏ.
Khi dạy trẻ, quan trọng nhất là phải làm cho trẻ hiểu được chính xác ý nghĩa của việc đó. 9 Chỉ cần thay đổi cách nói, ta có thể truyền đạt được ý nghĩa quan trọng của những việc mà mình muốn trẻ làm [34]. Bất kể tuổi của con bạn, điều quan trọng là phải nhất quán khi xét đến kỷ luật. Nếu cha mẹ không tuân theo các quy tắc và hậu quả mà họ đặt ra, thì con cái họ cũng không có khả năng.
Việc giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ cũng tùy thuộc vào mỗi độ tuổi mà người lớn có những biện pháp khác nhau, điều đó không chỉ tùy thuộc vào đặc điểm phát triển tâm sinh lý của mỗi đứa trẻ mà còn phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của mỗi gia đình. Việc gợi ý một số ý tưởng về cách thay đổi cách tiếp cận của người lớn để kỷ luật phù hợp nhất với mỗi gia đình, giúp cho việc giáo dục kỷ luật cho trẻ mang tính khoa học mà tránh làm tổn thương nhất đến những đứa trẻ [39].Phelan đã nêu lêu những biện pháp rèn luyện kỷ luật hiệu quả cho trẻ từ 2 – 12 tuổi dành cho giáo viên trong đó có cả các chiến lược phòng ngừa và can thiệp khi những vấn đề xuất hiện. Người lớn cần phải biết cách xử lý hành vi tiêu cực, khuyến khích hành vi tích cực và kiểm soát khía cạnh tiêu cực của quá trình thử và lôi kéo – sao cho công bằng, rõ ràng và không lạm dụng. Qua đó, ông cũng chỉ rõ các nội dung có thể giúp giáo viên xây dựng những kế hoạch và biện pháp cụ thể để giáo dục hành vi kỷ luật cho trẻ mà không cần sử dụng đến các biện pháp mạnh, tạo dựng được mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh [35].
Adele Faber & Elaine Mazlish là những chuyên gia nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực giao tiếp giữa người lớn và trẻ em, khi đề cập đến các phương pháp giáo dục tính kỷ luật cho trẻ đã trình bày về các kỹ năng giao tiếp để nói sao cho trẻ chịu nghe và rèn luyện kỹ năng lắng nghe sao cho trẻ chịu nói, giúp cho việc rèn tính kỷ luật của trẻ trở nên nhẹ nhàng hơn. Việc sử dụng lời nói sao cho trẻ thực hiện được những yêu cầu của người lớn không hề đơn giản, chính vì vậy mà trong việc giáo dục nề nếp cho trẻ người lớn luôn là tấm gương phản chiếu những điều trẻ học được. Họ đã đưa ra những giải pháp thay thế hình phạt, sử dụng những kỹ năng khuyến khích sự hợp tác ở trẻ như: Chỉ ra cho trẻ một giải pháp hữu ích, người lớn cần bày tỏ sự không đồng ý một cách dứt khoát, đề xuất sự lựa chọn và hãy hành động. Một phần vấn đề nằm ở những xung đột về nhu cầu, nhu cầu của người lớn là vẻ bề ngoài sạch sẽ, sự ngăn nắp, trật tự, sự nhã nhặn và nề nếp.
Trẻ con lại luôn chểnh 10 mảng, bày bừa, thậm chí không thể tự giác thực hiện những yêu cầu đó của người lớn. Thái độ, lời nói của người lớn cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc giáo dục đứa trẻ thực hiện những hành vi kỷ luật vì vậy người lớn cần có những thay đổi về biện pháp sẽ giúp trẻ thực hiện các nội quy đó một cách tự giác hơn [25]. Theo Linda & Richard Eyre thì việc tự kỷ luật và điều chỉnh hành vi là những giá trị phổ biến và quan trọng vì sự hiện diện của chúng có thể giúp đỡ trẻ và người khác. Do đó, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của người lớn trong việc giáo dục những hành vi kỷ luật cho trẻ, họ chính là tấm gương của trẻ chứ không phải bất cứ phương pháp hoặc thủ thuật nào khác có thể dạy giá trị này cho con cái mình.
Để làm được điều đó thì cần đặt ra những nội dung, quy định cụ thể và tương ứng với mỗi giai đoạn lứa tuổi người lớn sẽ có các phương pháp khác nhau hướng trẻ đến việc thiết lập hành vi kỷ luật [29].