Chương 1. Cơ sở lý luận và khái quát về điểm nghiên cứu Chương 2. Các tập quán, nghi lễ trong thời kỳ mang thai và sinh đẻ của người Hmông Hoa. Các tập quán, nghi lễ trong thời kỳ nuôi dạy trẻ nhỏ của người Hmông Hoa.
Một số biến đổi trong tập quán, nghi lễ thời kỳ mang thai, sinh đẻ và nuôi dạy trẻ nhỏ của người Hmông Hoa. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐIỂM NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Phong tục:Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.
Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chí một dòng họ, gia tộc. Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại. Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão.
Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người. Tập quán: Là thói quen hình thành từ lâu đời và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và tuân theo [Từ điển Tiếng Việt, 2007]. Hay nói một cách khác, tập quán của một cộng đồng chi phối các thành viên sống trong đó. Tập quán không mang tính bắt buộc, cố định như nghi lễ, nghi thức nhưng cũng không tùy tiện theo hoạt động thường ngày.
Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững nhưng không tránh khỏi sự vận động và biến đổi, bởi chỉ có vận động và biến đổi theo thời gian thì tập quán mới thực sự tồn tại [26;tr. Nghi lễ: Theo Thomas Barfield trong từ điển Nhân học (1996), nghi lễ là các hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo, ví dụ một đại lễ Thiên chúa giao hay một buổi hiến tế tổ tiên…Thông thường các nhà Nhân học sử dụng “nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích phi bình quân chủ nghĩa. Sử dụng thuật ngữ nghi lễ theo cách hiểu như thế này hàm ý chỉ các hoạt động tôn giáo rõ ràng và sự kiện như lễ hội, hành quân, làm quen, trò chơi, thăm hỏi. Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động 11 của con người.
Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ một hành động con người nó có khía cạnh nghi lễ. Theo nghĩa này, một hành động trần tục như trồng cây và chế biến thực phẩm có chung khía cạnh nghi thức với hiến tế và quần chúng (Leach 1954). Như vậy, qua các nghi thức của các nghi lễ, những hành vi tín ngưỡng sùng bái thế lực siêu nhiên được trình diễn, nó biểu hiện một khía cạnh đời sống của con người, từ đời sống văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần. Vì vậy, qua nghi lễ các hành vi văn hóa của tộc người được thể hiện rõ nét [Nguyễn Thị Song Hà, tr.
Các nhà nhân học đã đưa ra nhiều quan điểm trong cách tiếp cận về nghi lễ, song phần lớn các nhà nhân học cho rằng: nghi lễ bao gồm nhiều hoạt động tìm hiểu rộng hơn cách hiểu chung bởi nghi lễ tạo ra hành động, nghi lễ hoàn toàn có quyền chuyển đổi, nghi lễ và vui chơi luôn gắn liền và bổ sung cho nhau [Nguyễn Thị Song Hà, tr. Sinh đẻ: Là công việc của phụ nữ khi họ cố gắng dùng cơ dạ con để đẩy đứa cin từ thế giới riêng bên trong tử cung ra xã hội và văn hóa rộng lớn hơn. Mặc dù sinh đẻ là một sự kiện phổ biến của sinh lý con người, nhưng sinh ở đâu, sinh như thế nào, với ai và đôi khi ngay cả khi nào người phụ nữ sinh con dường như lại được quyết định bởi văn hóa [Nguyễn Thị Song Hà, tr. Tư thế đứng thẳng cần thiết cho sự vận động bằng hai chân đã làm cho sự sinh đẻ của con người phức tạp hơn sự sinh đẻ của các loại linh trưởng khác, sự vận động bằng bốn chân cho phép khung xương chậu được trút thẳng cho việc xuôi ra của bào thai, trong khi đó đứa trẻ ở bào thai người phải xoay khi thoát ra ngoài qua khung xương chậu (Trevathan 1987).
Ngay sau khi sinh, các linh trưởng con đã có thể leo lên và bám chặt vào lưng mẹ chúng, những đứa trẻ sinh sớm hơn theo chu kỳ phát triển bởi bộ não của chúng to hơn, hầu như không giúp được gì khi sinh, đòi hỏi sự nuôi dưỡng ngay lập tức. Các nhân tố này có thể kích thích sự tiến hóa sinh đẻ như là một quá trình xã hội cao; ở một số xã hội phụ nữ tự sinh đẻ và không có ai trợ giúp. Thực ra, có thể giải thích một cách hợp lý rằng, đỡ đẻ dứt khoát đã phát triển ngay cùng với sự sinh đẻ của con người (Trevathan 1987). Sự có mặt của những người phụ nữ khác sẽ làm tăng khả năng thành công của quá trình sinh đẻ trong khi họ cần những kỹ năng xoay đứa bé trong dạ con, giúp xoay đầu và vai khi sinh hay xoa tử cung của người mẹ và áp dụng dược thảo để hạn chế mất máu.
Sinh đẻ là ước vọng của loài người, 12 là sự sôi nảy nở để bảo toàn nòi giống. Bản chất và ý nghĩa xã hội của sự sinh đẻ đảm bảo quá trình sinh học và rất cá nhân này có một lớp phủ văn hóa dày. Trong tất cả các văn hóa, sinh đẻ là một nghi lễ chuyển tiếp (Gennep 1960) nhấn mạnh những tín ngưỡng sâu sắc nhất của một văn hóa là các tín ngưỡng này được trao truyền và tái khẳng định trong thời gian chuyển tiếp cơ bản này. Các tập quán sinh đẻ hướng sự tập trung “nhọn như đầu mũi tên” vào những giá trị cơ bản của văn hóa, nói cho người quan sát biết về cách mà văn hóa quan niệm về thế giới và vị trí của người phụ nữ đó (Kitzinger 1978) [31, tr.
Nuôi dạy trẻ nhỏ:Người Hmông Hoa ở xã Lùng Phình quan niệm rằng nuôi dạy trẻ nhỏ là hoạt động sau khi đứa trẻ được người mẹ sinh ra đời thì chăm sóc chúng, dạy dỗ chúng những điều hay lẽ phải, những chuẩn mực đạo đức trong gia đình và xã hội. Nuôi dạy con cái bao gồm bao gồm cả việc chăm sóc chúng về thể chất như (ăn, uống, tắm rửa, giấc ngủ, ….) dạy dỗ chúng trở thành những công dân tốt cho cộng đồng và xã hội, dạy chúng các cách thức để tồn tại và phát triển [Hoàng Thùy Dương, tr.14] Kiêng kỵ: Là một khái niệm rất quen thuộc trong đời sống tín ngưỡng. Thuật ngữ kiêng kỵ nằm trong hệ thống với các khái niệm liên quan: kiêng, kỵ, cấm kỵ, kiêng cữ, hèm, húy, phạm… Tuy cùng một lớp nghĩa chung chỉ những vật, việc không nên làm, tránh làm, không được phép làm trong một không gian, hoàn cảnh cụ thể. Có thể nói, kiêng kỵ không chỉ gắn với quan điểm tín ngưỡng mà còn chứa đựng trong nó nhiều tri thức dân gian về mọi lĩnh vực đời sống nhằm mục đích bảo vệ, khuyến cáo con người khỏi những bất trắc và tạo ra nét văn hóa trong cộng đồng.
Lý thuyết chức năng (punctionalism): Lý thuyết chức năng ra đời gắn với tên tuổi của Browslao Manlinowski (1984 - 1942). Lý thuyết này được các nhà Dân tộc học và Nhân học thường xuyên sử dụng trong một thời gian dài trong các nghiên cứu của mình. Lý thuyết chức năng cho rằng, cũng giống như các bộ phận khác nhau trong cơ thể con người; mỗi thiết chế xã hội như nhà nước, tôn giáo, gia đình, dòng tộc… trong xã hội (cộng đồng) chiếm giữ những chức năng khác nhau, song lại luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau theo cơ chế phân công - hợp tác và chính điều này đã tạo cho từng cơ thể sống, cho cộng đồng, xã hội sự cân bằng trong vận động. Với những tiền đề xuất phát đó, thuyết chức 13 năng không chỉ định hướng vào việc giải thích, mà còn xác định cần nghiên cứu văn hóa - xã hội của mỗi dân tộc như là một bộ phận của một chỉnh thể thống nhất.
Hai chức năng cơ bản nhất của gia đình đối với xã hội là "tái tạo ra một thế hệ mới" (bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục con cái) và "nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình". Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình (chức năng kinh tế, giao tiếp tinh thần, tổ chức thời gian rỗi, giải trí,. Bên cạnh đó theo Manlinowski, chức năng của văn hóa chính là sự thỏa mãn nhu cầu sinh vật của mình. Bất kỳ văn hóa nào trong tiến trình phát triển đều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn định trong đó mỗi bộ phận của chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó.
Thuyết chức năng đã nhìn nhận chức năng cơ bản của văn hóa, trong đó có văn hóa của cộng đồng, quốc gia dân tộc chính là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân cả về vật chất (kế sinh nhai, nhà ở, quần áo) lẫn tâm lý (pháp thuật, tôn giáo, truyền thuyết, nghi lễ). Tác giả của lý thuyết này cũng khẳng định nếu một yếu tố nào đó trong văn hóa bị triệt tiêu thì toàn bộ hệ thống của tộc người đó, quốc gia đó sẽ bị suy thoái và hủy diệt; tiêu diệt truyền thống kéo theo tổ chức xã hội sẽ mất đi và dẫn đến cái chết là không tránh khỏi [Nguyễn Thị Song Hà, 2011; tr. Theo cách tiếp cận của lý thuyết chức năng, khi nghiên cứu về phong tục, tập quán trong sinh đẻ và nuôi con nhỏ đối với đề tài luận văn này, tôi luôn nhận thức rõ nội dung của nó để xem xét văn hóa tộc người Hmông Hoa gắn với môi trường, gia đình dòng họ cộng đồng và xã hội….