Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU TỈNH BẮC KẠN 1. Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng truyền thống 1.1 Khái niệm tín ngưỡng Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử xã hội, thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Tín ngưỡng ra đời, tồn tại và phát triển gắn với lịch sử phát triển của nhân loại. Có nhiều cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu nên có nhiều cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với quan niệm của Platon, Hêghen xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để giải thích về tôn giáo, tín ngưỡng. Họ cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm tín ngưỡng là thuộc tính vốn có bên trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện tượng khách quan và con người có thể cảm nhận được.Mác thì tín ngưỡng được hiểu theo nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định. Theo ông, con người đã sáng tạo ra tín ngưỡng, tôn giáo.
Tín ngưỡng chính là sản phẩm của con người sống trong những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa cụ thể nào đó. Tín ngưỡng thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của xã hội. Con người đã thần thánh hóa, khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên, tạo thành cái bản chất khác mình và trở thành chỗ dựa cho chính mình. Mác và Ăngghen hiểu tín ngưỡng là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo, tín ngưỡng được hiểu với hàm nghĩa tôn giáo.
Các ông coi tín ngưỡng là một hiện tượng 11 z lịch sử, phản ánh điều kiện kinh tế xã hội của thời đại, tín ngưỡng có quá trình hình thành phát triển và có ảnh hưởng nhất định tới lịch sử. Như vậy, Mác và Ăngghen cho rằng tín ngưỡng là một yếu tố của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội do con người sáng tạo ra. tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào sự rồn tại và sự cứu giúp của một thực thể siêu nhiên nào đó được thể hiện qua hệ thống nghi lễ.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về tín ngưỡng như sau: Theo Từ điển tôn giáo thì tín ngưỡng được hiểu: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí, lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng là “Trời”, “Phật”, “Chúa”, “Thánh”, “Thần” hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được con người tin là có thật và tôn thờ”. [13;634-635] Từ “tín ngưỡng” còn có cách hiểu khác như sau: “tín” nghĩa là lòng tin, “ngýỡng” là sự ngýỡng vọng, hýớng theo một cái gì đó. Cùng với lòng tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một lực lượng siên nhiên, siêu thần bí nào đấy, một lực lượng có sức mạnh huyền hoặc, hư ảo, vô hình, người ta gọi đó là thần thánh. [31;1] Theo nghiên cứu của GS.
Đặng Nghiêm Vạn, ở nước ta hiện nay, tín ngưỡng có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, khi nói về tự do tín ngưỡng thì có thể hiểu đó là tự do về ý thức, tự do về tín ngưỡng, tôn giáo. Thứ hai tín ngưỡng còn được hiểu với nghĩa bao trùm lên tôn giáo, là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành tôn giáo. Đặng Nghiêm Vạn cũng chỉ ra trong “Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới” của Bộ Chính trị thì không có sự phân biệt giữa hai phạm trù tín ngưỡng và tôn giáo [69;69].
12 z Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng: “tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1;283]. Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng: tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể quan sát được. Có nhiều loại niềm tin nhưng niềm tin tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào “cái thiêng” thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm…[61;16] Theo tác giả Trần Quốc Vượng thì tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa.
Tín ngưỡng là một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng thiêng, một sức mạnh thiêng, do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được mà chưa nhận thức được. Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng. Đời sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng).
Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng…. Ngoài ra, còn có một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm tín ngưỡng trong mối quan hệ với khái niệm tôn giáo. Có quan điểm cho rằng: tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Tôn giáo là sự phát triển của tín ngưỡng, tín ngưỡng có trước và là nền tảng để hình thành tôn giáo.
Những quan điểm khác lại đồng nhất tín 13 z ngưỡng và tôn giáo, cho rằng cả hai đều gọi chung là tôn giáo. Tuy nhiên có sự phân biệt giữa tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương và tôn giáo thế giới. Khi quan niệm rằng tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn tôn giáo và là cơ sở hình thành tôn giáo thì các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, đó là: Tín ngưỡng được hình thành từ chính cuộc sống của con người, tín ngưỡng phản ánh tự nhiên, chưa có cơ sở lý luận. Chính vì vậy mà tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian.
Cơ sở của tín ngưỡng là niềm tin, nhưng niềm tin này chủ yếu là sự sùng tín và tin vào các phép lạ, thần linh, tổ tiên. Do đó, tín ngưỡng gắn liền với các phong tục, tập quán của con người. Ở tín ngưỡng chưa có hệ thống giáo lý, nơi thờ cúng và nghi lễ còn mang tính đơn giản. Còn tôn giáo được hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ, có tính hệ thống và khái quát.
Ở trong tôn giáo, các nghi lễ có sự phức tạp và tính hệ thống, được quy định chặt chẽ bởi giáo lý, giáo luật, mang tính chất bắt buộc đối với các tín đồ. Đồng nhất với quan điểm trên, tác giả Ngô Đức Thịnh đã viết: “tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo.
Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức nào đó thì có thể thành tôn giáo” [61;16]. Ông cũng chỉ ra sự khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo: “Tôn giáo có hệ thống giáo 14 z lý, kinh điển…được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện…có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường…nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người.
Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lí mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng nghi lễ còn phân tán, chưa hình thành quy ước chặt chẽ”[61;50]. Như vậy, theo cách hiểu trên thì tín ngưỡng là điều kiện tiên quyết để tôn giáo tồn tại và niềm tin cũng chính là điều kiện để tôn giáo được duy trì.
Tuy nhiên, tín ngưỡng và tôn giáo cũng có sự tương đồng đó là: tín ngưỡng và tôn giáo đều thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào các thế lực siêu nhiên. Cả tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội đã sản sinh ra chúng. Tín ngưỡng và tôn giáo đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý. Cả hai đều mang chức năng đền bù hư ảo và hướng con người tìm đến sự giải thoát về mặt tinh thần.
Các nhà nghiên cứu khác như: Toan Ánh, Phan Kế Bính, Tân Việt…tiếp cận tín ngưỡng dưới góc độ văn hóa dân gian, xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán truyền thống của dân tộc Việt Nam. Dù hiểu theo góc độ nào thì tín ngưỡng – tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội. Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng – tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, nâng đỡ về tâm lý [63; 12]. 15 z Tín ngưỡng chính là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người đối với một lực lượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng và chi phối cuộc sống của họ.