Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm với đề tài "Nghiên cứu văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm" tập trung khảo cứu nhóm văn bản dân ca nghi lễ thành văn của người Tày hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Người Tày là dân tộc có dân số đông thứ hai tại Việt Nam (với 1.392.000 người theo kết quả điều tra dân số năm 2009), cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một phần ở Tây Nguyên. Cùng với lịch sử lâu đời, người Tày đã sáng tạo và lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa ghi chép bằng chữ Nôm Tày như truyện thơ, phong slư, lượn cọi và hát Then. Trong hệ thống các nghi lễ Then, Then cấp sắc là một đại lễ có quy mô tổ chức lớn nhất, đánh dấu việc công nhận tư cách hành nghề chính thức của thầy Then, phản ánh thế giới quan, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất và tổ chức xã hội miền núi. Mặc dù Then đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu dưới góc độ văn hóa dân gian, dân tộc học và âm nhạc học, song khối di sản văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm 06 văn bản chép tay chưa từng được khảo sát toàn diện về mặt văn bản học, chưa được phiên dịch và công bố. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhóm văn bản này là một yêu cầu khoa học cấp thiết nhằm xác lập diện mạo văn bản, bảo tồn và phát huy giá trị di sản chữ Nôm của các dân tộc thiểu số theo định hướng văn hóa của Nhà nước.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
Luận án hướng tới giải quyết các vấn đề về văn bản học của các văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày; tiến hành đối chiếu, thẩm định để xác định văn bản tin cậy (thiện bản); nghiên cứu các giá trị nội dung phản ánh trong văn bản; đồng thời phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn bản chữ Nôm Tày trong đời sống văn hóa đương đại.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ chính được đánh số):
- Hệ thống hóa các văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, giới thiệu văn bản, so sánh và đối chiếu văn bản, xác định bản tin cậy để khảo sát, nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm văn bản, kết cấu văn bản, chữ Nôm, xác định số lượng các chương, khúc hát trong các văn bản; từ đó xác định khái niệm “đường Then” và “đường Then cấp sắc” ghi chép trong văn bản Then cấp sắc.
- Nghiên cứu giới thiệu giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa dân tộc Tày xưa, từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa đương đại.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu chính: Nhóm 06 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang các ký hiệu: NVB.1, VNv.671, ST.557, NC.50, ST.2227, ST.2201. Ngoài ra, luận án khảo sát bổ trợ 05 văn bản chữ Hán và Hán xen Nôm có liên quan đến thực hành nghi lễ cấp sắc (gồm: A.881, AB.518, ST.1998/93, ST.1998/100, VHv.10460).
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các thuộc tính văn bản học (lý lịch, tên gọi, niên đại, người chép, thể loại, kết cấu chương khúc), đặc điểm cấu tạo và sử dụng chữ Nôm Tày, khái niệm "đường Then cấp sắc", cùng giá trị nội dung lịch sử, văn hóa, xã hội phản ánh trong văn bản. Không gian địa lý của các văn bản thuộc ba địa bàn: Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn. Về thời gian, các văn bản khảo sát có niên đại sao chép vào cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Luận án giới hạn phạm vi ở góc độ văn bản học đối với lời ca thành văn, không đi sâu vào nghệ thuật diễn xướng âm nhạc và múa nghi lễ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại chi tiết lịch sử nghiên cứu Then và Then cấp sắc theo ba hướng tiếp cận chính:
1. Hướng nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng
- Nghiên cứu về Then nói chung: Khởi đầu từ các khảo cứu của Nguyễn Văn Huyên (1939) trên tạp chí tiếng Pháp về điện thờ Lão Tử và phương thuật chữa bệnh của thầy phù thủy người Tày. Giai đoạn tiếp theo có các công trình của Dương Kim Bội (1974) về Then cầu hoa; Nông Minh Châu (1974) về giá trị hiện thực của bài ca Khảm hải; Nông Quốc Thắng (1977) về quá trình chuyển hóa của Then; Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1984) trong Văn hóa Tày Nùng phân tích bản chất tín ngưỡng và ảnh hưởng Đạo giáo; Hoàng Quyết (1995) về phong tục tập quán; Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn (1996) trong Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày; Đỗ Hồng Kỳ (1997) về truyện thơ Khảm hải trong nghi lễ; Hà Đình Thành (1999 chủ biên, 2002) về tín ngưỡng Then, Tào, Mo; Hoàng Đức Chung (1999) khảo cứu Lẩu Then bjoóc mạ ở Hà Giang; Đoàn Thị Tuyến (1999) về Đạo Then và hình thái Shaman giáo; Ngô Đức Thịnh (2002) tổng luận Then như một hình thức Shaman giáo và sân khấu tâm linh; Hoàng Nam (2006); Hà Anh Tuấn (2008); Vũ Thị Nhung (2013) về Then cầu an tại Bắc Kạn; cùng hệ thống các bài viết của Nguyễn Thị Yên (1997, 1998, 2002, 2006, 2007, 2008, 2009) phân tích quá trình hình thành Then từ Sliên, Pụt, các đối tượng thờ cúng và cuốn sách tổng hợp Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng (2009).
- Nghiên cứu về Then cấp sắc: Tiêu biểu là công trình của Nguyễn Thị Yên (2000, 2005, 2006) với luận án và sách chuyên khảo Then Tày khảo sát Then cấp sắc của dòng Then nam tại huyện Quảng Uyên (Cao Bằng); bài viết của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013); công trình của Dương Thị Lâm và Trần Văn Ái (2015) khảo sát Lẩu Then cấp sắc hành nghề của người Tày ở xã Tân Lập, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2. Hướng nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật
- Nghiên cứu về Then: Tập sách Mấy vấn đề về Then Việt Bắc (1978) của nhiều tác giả; Dương Kim Bội (1978) về yếu tố ca dao trong lời Then; Vi Hồng (1979) về mối quan hệ giữa Then và sli lượn; Nguyễn Thị Hiền (1998, 2000) xác định vị trí của người diễn xướng Then vừa là nghệ nhân dân ca vừa là thầy Shaman; Dương Thị Lâm (2002); Nguyễn Thị Hoa (2002) về Then giải hạn ở Lạng Sơn; Nông Thị Nhình (2004) với chuyên khảo Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày Nùng; Đỗ Trọng Quang (2005); Lê Thị Điền (2005); Lương Thị Hạnh (2006); Nguyễn Thanh Hiền (2007) về lời ca Then cầu tự; Phạm Thị Thu Hà (2008, 2010) về phương thức diễn xướng Then giải hạn tại Chi Lăng; Nguyễn Minh Tuân (2009) về tính giáo dục trong Then bách thú; Đinh Thị Liên (2012) về đặc điểm ngôn từ trong Then; Tô Ngọc Thanh (2012); Trần Mạnh Tiến (2013) so sánh Then với chầu văn; Hoàng Nam (2013); Nguyễn Thị Luân (2014).
- Nghiên cứu về Then cấp sắc: Hà Diệu Thu (2006) khảo sát nghệ thuật múa trong Then cấp sắc Lạng Sơn; Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2017) với luận án tiến sĩ về nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then tại Bắc Sơn (Lạng Sơn).
3. Hướng sưu tầm, phiên dịch và giới thiệu văn bản Then
Bao gồm các công trình của Hoàng Hạc (1964); Dương Kim Bội (1975) với tập Lời hát Then; Lục Văn Pảo (1992 với Pụt Tày, 1996 với Bộ Then tứ bách); Vi Hồng (1992, 1993 với Khảm hải - Vượt biển, 1994); Hoàng Tuấn Cư, Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc (1994) dịch tập Then bách điểu; Triều Ân (2000 với Then Tày những khúc hát, 2011 với Lễ hội dàng Then); Phạm Tuất (2006) với Then Tày đăm; Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (2008) bộ Thư mục sách Hán Nôm của các dân tộc thiểu số Việt Nam (3 tập) và bộ Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam (18 tập); Nguyễn Thị Yên (2008 chủ biên Quyển Đẳm, 2009 với Then chúc thọ của người Tày); Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Hạc, Nguyễn Thanh Huyền (2012); Ma Văn Đức (2017) với 4 tập Then cổ Tuyên Quang; Nông Phúc Tước (2017); Phương Bằng (1990); Nguyễn Minh Tuân (2001); Đinh Nữ Bình Minh (2008) khảo cứu văn bản Then Tày Cao Bằng.
- Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận Then dưới góc độ diễn xướng văn hóa, âm nhạc dân gian, nhân học tín ngưỡng hoặc sưu tầm, phiên âm một số khúc hát đơn lẻ qua truyền khẩu dân gian. Chưa có công trình nào tiến hành khảo sát đồng bộ, đối chiếu văn bản học chuyên sâu đối với khối 06 văn bản chép tay Then cấp sắc chữ Nôm Tày lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc thẩm định lai lịch, xác định niên đại, đối chiếu kết cấu chương khúc, nghiên cứu hệ thống văn tự Nôm Tày, tái hiện lộ trình "đường Then" thành văn và lựa chọn bản tin cậy nhất để phiên âm, dịch nghĩa, chú thích phục vụ nghiên cứu lâu dài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm
- Quan điểm lý luận: Vận dụng đường lối bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của Đảng và Nhà nước, kết hợp lý thuyết văn bản học Hán Nôm, văn tự học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa - lịch sử.
- Khái niệm "Then": Luận án điểm lại 7 quan điểm giải thích (Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Nông Văn Hoàn, Hoàng Phê, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nguyễn Thị Yên...). Then được xác định là loại hình văn hóa tín ngưỡng đa tầng của người Tày, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Trời (phạ), dung hợp với Phật giáo và Đạo giáo dân gian; đồng thời chỉ thầy Then (người kết nối trần gian với thế giới thần linh) và các làn điệu dân ca nghi lễ.
- Khái niệm "Then cấp sắc": Là đại lễ có quy mô lớn nhất trong hệ thống Then, có chức năng công nhận tư cách hành nghề chính thức cho người làm nghề Then, gắn liền với việc thờ cúng tổ nghề và thiết lập đạo hiệu, cấp quân binh bản mệnh dưới sự chứng kiến của thần linh và cộng đồng.
- Khái niệm "Văn bản Then cấp sắc": Là hệ thống lời hát diễn xướng trong đại lễ cấp sắc được ghi chép và lưu truyền bằng văn tự Nôm Tày, chủ yếu do dòng Then nam (slàng/dàng) ghi chép lại làm tư liệu học nghề và thực hành nghi lễ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành và thao tác khoa học cụ thể:
- Phương pháp văn bản học: Tiến hành khảo sát ngoại quan, giám định tình trạng vật lý, giám định lai lịch, đối chiếu kết cấu chương đoạn của 06 văn bản chữ Nôm Tày; phân loại dị bản và chọn lọc thiện bản để phiên dịch, chú giải.
- Phương pháp phiên dịch (thuyên thích học / thông diễn học): Sử dụng để đọc, phiên âm chữ Nôm Tày, dịch nghĩa và giải thích ngữ nghĩa văn bản từ góc độ ngôn ngữ, văn hóa tín ngưỡng và ngữ cảnh biểu đạt cổ.
- Phương pháp văn tự học: Khảo cứu cấu trúc tạo chữ Nôm Tày dựa trên các mô hình: chữ Nôm Tày tự tạo, chữ Nôm Tày mượn chữ Nôm Kinh (Việt) và chữ Nôm Tày mượn chữ Hán (mượn âm hoặc mượn nghĩa).
- Phương pháp định lượng (thao tác thống kê): Thống kê tần suất xuất hiện của các mã chữ Nôm qua các thời kỳ, số lượng chương khúc, tỷ lệ các thể loại thơ ca, mức độ tương đồng giữa các văn bản để đưa ra nhận định khách quan dựa trên số liệu thực tế.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức dân tộc học, văn hóa học, tôn giáo học và lịch sử học để phân tích các tầng văn hóa, hiện thực kinh tế - xã hội vùng cao được phản ánh trong lời ca Then.
- Các thao tác bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch và so sánh văn bản.
3. Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tư liệu trực tiếp: 06 văn bản Then cấp sắc chép tay bằng chữ Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
NVB.1, VNv.671, ST.557, NC.50, ST.2227, ST.2201.
- Tư liệu bổ trợ: 05 văn bản Hán Nôm liên quan đến quy trình cấp sắc của thầy Tào và thầy Then tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
A.881 (Thần tiêu ngọc cách công văn), AB.518 (Phật thánh tướng binh tổng khoa), ST.1998/93 (Văn bản vô đề), ST.1998/100 (Văn bản vô đề), VHv.10460 (Văn bản vô đề).
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 4 chương nội dung chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này khái quát về đời sống văn hóa, nguồn gốc lịch sử của người Tày (thuộc nhóm Âu Việt trong khối Bách Việt), địa bàn cư trú thung lũng miền núi, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước sớm phát triển thủy lợi (mương, phai, cọn nước), nghề thủ công (dệt thổ cẩm, đồ trúc, đan lát) và các phong tục tập quán đặc thù như tục nhận họ, nhận con nuôi, tục kết tồng kết đẳm. Về tín ngưỡng, người Tày thờ đa thần (hệ thống "phi" lành và "phi" dữ).
Chương 1 làm rõ nguồn gốc của Then: Ra đời trong lòng dân gian và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII khi nhà Mạc cát cứ Cao Bằng (1598–1625), gắn với vai trò hoàn thiện của hai nhân vật Bế Văn Phụng (quản nhạc xứ Hòa An lập dòng Then nữ) và Hoàng Quỳnh Vân (vua Ca Đáng xứ Trùng Khánh lập dòng Dàng/Then nam). Về người làm Then, tác giả phân tích 3 nhóm: Then nối dõi (dòng tộc có bàn thờ Then); Then do căn mệnh (vửt théc / bị phi ham bắt); và Then sống (vửt đíp / Then đíp, người tự nguyện học hát giúp việc). Hệ thống nghi lễ Then gồm 7 loại hình theo cách chia của Nông Văn Hoàn hoặc 3-4 loại hình chính theo Nguyễn Thị Yên và Trịnh Khắc Mạnh. Đại lễ cấp sắc thường diễn ra trong 4 ngày 3 đêm tại nhà thầy Then, thiết lập không gian linh thiêng từ trần gian đến thượng giới để thầy Tào và thầy Then phối hợp cấp sắc phục, ấn tín, đạo hiệu và quân binh cho Then mới. Chương này cũng phân tích toàn diện 3 hướng nghiên cứu như đã nêu tại phần tổng quan tài liệu.
Chương 2: Khảo sát văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chương 2 là trọng tâm văn bản học của luận án, tiến hành khảo sát thực nghiệm trên hai nhóm tư liệu:
Khảo sát 05 văn bản Hán Nôm liên quan đến thực hành cấp sắc:
- Thần tiêu ngọc cách công văn (A.881): Bản in chữ Hán năm Duy Tân thứ 8 (1914), 124 trang (26 x 15 cm), in sớ truyền độ, sớ tam sư, văn thăng chức, cấp đạo hiệu và quân binh.
- Phật thánh tướng binh tổng khoa (AB.518): Chép tay chữ Hán, 95 trang (29 x 17,5 cm), chép các khoa cúng thỉnh Phật, thánh, Lão Quân, Tề Thiên.
- Văn bản vô đề (ST.1998/93): Chép tay chữ Hán xen Nôm Tày, 72 trang (18 x 20 cm), chép văn thỉnh Thổ công, Địa phủ, Thiên phủ, Địa Tạng Vương.
- Văn bản vô đề (ST.1998/100): Chép tay chữ Hán xen Nôm Tày, 138 trang (15 x 22 cm), chép văn tế Thành Hoàng, Sơn quân thần hổ, sớ tiến cống.
- Văn bản vô đề (VHv.10460): Chép tay chữ Hán xen Nôm Tày, 120 trang (15 x 24 cm), chép văn thỉnh Ngọc Hoàng, Tam Cảnh thiên tôn, sắc điệp thiên phù.
Khảo sát 06 văn bản Then cấp sắc Nôm Tày:
NVB.1 (Then văn quyển ca): 103 tờ (15 x 28 cm), nguyên vẹn, do Hoàng Liên Vinh sao chép ngày 15 tháng 2 năm Khải Định thứ 8 (1923), xuất xứ xã Long Đống, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Tác phẩm gồm 27 chương. Bản này bảo lưu nhiều chữ Nôm cổ thế kỷ XV, nội dung hoàn chỉnh nhất, được chọn làm bản tin cậy (thiện bản) để phiên âm, dịch chú.
VNv.671 (Nhất quyển tàng lẩu mừa tu vua cha): 113 tờ (15 x 27 cm), chép xong ngày 8 tháng 10 năm Đinh Mão (1927) bởi người có tên hiệu Văn Đức (đạo hiệu Tổ Tiết), xuất xứ phủ Thông Hóa, xứ Thái Nguyên (nay thuộc Bắc Kạn). Tác phẩm gồm 22 chương.
ST.557 (Quảy binh ca): 71 tờ (12,5 x 26 cm), sao ngày 15 tháng 11 năm Canh Thân (1920) bởi Hoàng Thụy Lân, xuất xứ Lạng Sơn. Tác phẩm gồm 16 chương.
NC.50 (Khỏa quan tuyện Then): Bản photocopy 75 tờ khổ A4, sao ngày 1 tháng 8 năm Bảo Đại thứ 8 (1933) tại xã Thạch Lâm, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Tác phẩm gồm 17 chương.
ST.2227 (Văn bản vô đề): 69 tờ (13 x 26 cm), sao ngày 9 tháng 2 năm Thành Thái thứ 10 (1898), xuất xứ xã An Hùng, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Tác phẩm còn 13 chương.
ST.2201 (Văn bản vô đề): 45 tờ (13 x 21 cm), đầu thế kỷ XX, do Hoàng Bỉnh Vinh sao chép, xuất xứ Lạng Sơn. Tác phẩm còn 19 chương.
Đặc điểm thể loại và hình thức:
Văn bản Then cấp sắc là thể loại trường ca nghi lễ dân gian. Thống kê tỷ lệ các thể thơ trong văn bản cho thấy:
- Thể thơ thất ngôn lưu thủy: chiếm 78%
- Thể thơ ngũ ngôn: chiếm 10%
- Thể thơ chín chữ: chiếm 5%
- Thể văn xuôi (văn thoại và văn khấn tụng niệm): chiếm 2%
Thống kê và so sánh sự trùng khớp tên chương giữa 06 văn bản:
| Tên văn bản |
Ký hiệu |
Xuất xứ địa lý |
Số chương |
Tỷ lệ số chương |
Số chương có tên trùng |
Tỷ lệ trùng khớp |
| Then văn quyển ca |
NVB.1 |
Lạng Sơn |
27 |
23,5% |
16 |
13,9% |
| Nhất quyển tàng lẩu... |
VNv.671 |
Bắc Kạn |
22 |
19,1% |
5 |
4,3% |
| Quảy binh ca |
ST.557 |
Lạng Sơn |
16 |
13,9% |
15 |
13,0% |
| Khỏa quan tuyện Then |
NC.50 |
Cao Bằng |
17 |
14,8% |
3 |
2,6% |
| Văn bản vô đề |
ST.2227 |
Lạng Sơn |
13 |
11,3% |
12 |
10,4% |
| Văn bản vô đề |
ST.2201 |
Lạng Sơn |
20 |
17,4% |
15 |
13,0% |
| Tổng cộng |
06 bản |
3 tỉnh |
115 |
100% |
66 |
57,4% |
Kết quả so sánh cho thấy nhóm văn bản tại Lạng Sơn (NVB.1, ST.557, ST.2201, ST.2227) có độ tương đồng cấu trúc cao nhất (trên 10%), trong khi văn bản Bắc Kạn (VNv.671) và Cao Bằng (NC.50) phản ánh những nét dị biệt rõ nét của từng dòng Then địa phương.
Chương 3: Nghiên cứu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày
Chương 3 đi sâu nghiên cứu trục kết cấu trung tâm của tác phẩm là khái niệm "đường Then" và "đường Then cấp sắc". Đây là lộ trình tâm linh miêu tả cuộc hành trình của đoàn quân Then đưa lễ vật từ cõi trần gian vượt qua các cung, ải hiểm trở, vượt sông biển (tàng lừa / khảm hải), qua các cửa quan tướng, cửa thày giáo, cửa Phật, cửa mụ để lên thiên đình nộp lễ vật và xin Ngọc Hoàng ban sắc phong cho Then mới. Chương này phân tích chi tiết sự tương đồng và khác biệt về lộ trình, các chặng dừng chân, cũng như các chương đoạn mang tính nghệ thuật cao như Dà Dìn (đánh dẹp yêu quái), Pắt ngoảng (bắt ve sầu dọn đường), Tức pja (đánh cá dâng lễ) trong 3 dòng Then Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.
Chương 4: Nghiên cứu giá trị của văn bản Then cấp sắc Nôm Tày
Chương 4 tổng kết và đánh giá toàn diện các tầng giá trị của văn bản:
- Giá trị văn bản học và văn tự học: Khẳng định tính hoàn chỉnh của hệ thống chữ Nôm Tày ghi chép lời Then, phản ánh quá trình sáng tạo chữ viết bản địa và sự tiếp thu văn tự Hán - Kinh.
- Giá trị lịch sử - xã hội: Phản ánh chân thực bức tranh kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc miền núi, các mối quan hệ dòng tộc, phong tục tập quán (nhận họ, nhận con nuôi, kết tòng kết đẳm) và triết lý sống thiện lương, tương trợ cộng đồng.
- Giá trị nghệ thuật: Ngôn từ giàu hình ảnh, sử dụng điêu luyện các thể thơ dân gian truyền thống đan xen văn xuôi linh hoạt.
- Đề xuất giải pháp: Luận án đưa ra các kiến nghị khoa học nhằm bảo tồn, số hóa các bản chép tay Hán Nôm dân tộc thiểu số và phát huy giá trị di sản Then trong đời sống văn hóa đương đại.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp về mặt lý luận khoa học
- Làm rõ và chuẩn hóa các khái niệm học thuật cơ bản: Then, Then cấp sắc, văn bản Then và văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày.
- Xác lập cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận văn bản học Hán Nôm đối với mảng thư tịch dân ca nghi lễ của đồng bào các dân tộc thiểu số, vốn trước đây chủ yếu được tiếp cận qua nhân học hoặc văn nghệ dân gian truyền miệng.
- Tái hiện cấu trúc "đường Then cấp sắc" dưới dạng văn bản thành văn, chứng minh tính quy phạm, chặt chẽ của hệ thống khoa nghi Then Tày.
2. Đóng góp về mặt thực tiễn tư liệu
- Khảo sát, miêu tả thư mục chi tiết 06 văn bản Then cấp sắc chữ Nôm Tày và 05 văn bản Hán Nôm liên quan tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cung cấp đầy đủ thông số về kích thước, số trang, tình trạng vật lý, người sao chép, niên đại và xuất xứ.
- Khẳng định niên đại sao chép của toàn bộ 06 văn bản đều thuộc giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (từ năm 1898 đến 1933), đồng thời chứng minh các bản chép tay vẫn bảo lưu nhiều mã chữ Nôm cổ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.
- Đưa ra hệ thống số liệu thống kê cụ thể về số lượng 115 chương, tỷ lệ các thể thơ và tỷ lệ tương đồng tên chương (57,4%), chỉ ra sự giao lưu và dị biệt giữa ba dòng Then ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn.
- Chọn định thiện bản (
NVB.1) và tiến hành phiên âm, dịch nghĩa, chú thích khoa học toàn bộ tác phẩm, bổ sung một tài liệu văn bản học hoàn chỉnh vào kho tàng tư liệu Hán Nôm Việt Nam.
- Cung cấp luận cứ vững chắc về lịch sử giao lưu văn hóa và ngôn ngữ giữa người Tày và người Kinh thời trung - cận đại thông qua cách thức vay mượn và cấu tạo chữ Nôm.
3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa và viện nghiên cứu tăng cường công tác sưu tầm, bảo quản và số hóa các văn bản chữ Nôm Tày còn nằm rải rác trong nhân dân.
- Khuyến nghị đưa văn bản Then đã được dịch chú vào công tác nghiên cứu, giảng dạy ngữ văn địa phương và bảo tồn không gian diễn xướng Then truyền thống gắn với du lịch văn hóa bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trên 06 văn bản hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; chưa có điều kiện khảo sát toàn bộ các văn bản Then cấp sắc Nôm Tày còn tản mác trong các gia đình thầy Then ngoài dân gian ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề văn bản học và giá trị nội dung lời ca thành văn, chưa thể bao quát hết toàn bộ các yếu tố nghệ thuật diễn xướng phức hợp đi kèm trong thực tế lễ hội như âm nhạc đàn tính, vũ đạo, nghệ thuật trang trí và sắp đặt không gian tâm linh.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện sưu tầm, khảo cứu văn bản Then Nôm Tày tại các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai và cộng đồng người Tày di cư ở Tây Nguyên để lập bảng đối chiếu toàn diện hơn.
- Đi sâu phân tích từ nguyên và ngữ pháp lịch sử của hệ thống chữ Nôm Tày trong văn bản Then qua các thời kỳ.
- Kết hợp văn bản học với nghiên cứu nhân học biểu diễn (performance studies) để so sánh giữa bản văn thành văn với lời ca diễn xướng sống động trong các nghi lễ Then cấp sắc đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị thực tiễn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Hán Nôm, Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học: Có thể tham khảo phương pháp luận khảo sát văn bản học dân tộc thiểu số, phương pháp phân tích văn tự Nôm Tày, cùng hệ thống ngữ liệu phiên âm dịch chú chuẩn xác từ bản
NVB.1.
- Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú về từ vựng tiếng Tày cổ, các phương thức cấu tạo chữ Nôm bản địa và hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Tày - Hán - Việt.
- Cơ quan quản lý văn hóa và các nhà hoạch định chính sách: Sử dụng các luận cứ khoa học của luận án để xây dựng kế hoạch bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Then Tày, xây dựng hồ sơ di sản và triển khai chương trình bảo tồn chữ viết cổ của các dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
1. Sáu văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có niên đại sao chép và phân bố địa bàn như thế nào?
Cả 06 văn bản đều được sao chép vào cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Cụ thể: ST.2227 sao năm 1898 (Thành Thái 10); ST.557 sao năm 1920 (Canh Thân); NVB.1 sao năm 1923 (Khải Định 8); VNv.671 sao năm 1927 (Đinh Mão); NC.50 sao năm 1933 (Bảo Đại 8); và ST.2201 đầu thế kỷ XX. Về địa bàn, có 4 văn bản thuộc tỉnh Lạng Sơn (NVB.1, ST.557, ST.2227, ST.2201), 1 văn bản thuộc tỉnh Cao Bằng (NC.50) và 1 văn bản thuộc tỉnh Bắc Kạn (VNv.671).
2. Tại sao các văn bản có cùng nội dung cấp sắc nhưng lại mang nhiều tên gọi khác nhau như "Quảy binh ca", "Khỏa quan tuyện Then", "Tàng lẩu"?
Hiện tượng này xuất phát từ việc văn bản Then là tài liệu hành nghề chép tay của các thầy Then, không có tên tác phẩm cố định. Tên gọi do người sao chép tự đặt để ghi nhớ chức năng sử dụng khi hành lễ:
- Bản
NVB.1 đặt là Then văn quyển ca (sách ca văn Then).
- Bản
VNv.671 đặt là Nhất quyển tàng lẩu mừa tu vua cha (đường rượu về cửa vua cha) nhấn mạnh hành trình dâng lễ.
- Bản
ST.557 đặt là Quảy binh ca (lời ca binh phu) nhấn mạnh lời hát của đoàn phu gánh lễ.
- Bản
NC.50 đặt là Khỏa quan tuyện Then do kết hợp phần hát Khỏa quan (hát lượn mở đường, lo hậu cần) đi kèm trong lễ cấp sắc.
3. Cơ cấu thể thơ trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày được phân bổ theo tỷ lệ nào?
Văn bản Then cấp sắc sử dụng đa dạng các thể thơ, trong đó chủ đạo là thể thất ngôn lưu thủy chiếm 78%, thể ngũ ngôn chiếm 10%, thể thơ chín chữ chiếm 5%, và thành phần văn xuôi (gồm văn thoại và văn khấn tụng niệm) chiếm 2%.
4. Vì sao bản ký hiệu NVB.1 được luận án lựa chọn làm thiện bản để phiên âm và dịch chú?
Bản NVB.1 (Then văn quyển ca) được chọn làm bản tin cậy nhất vì văn bản còn nguyên vẹn từ đầu đến cuối (103 tờ), chữ viết rõ ràng chân phương, ghi chép đầy đủ 27 chương đoạn của một đại lễ cấp sắc, ghi rõ họ tên người chép (Hoàng Liên Vinh), niên đại chính xác (1923), địa danh xuất xứ rõ ràng (xã Long Đống, Bắc Sơn, Lạng Sơn) và bảo lưu được nhiều mã chữ Nôm cổ theo lối viết thế kỷ XV.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm" là công trình chuyên khảo có hệ thống đầu tiên nghiên cứu toàn diện mảng văn bản Then cấp sắc thành văn dưới góc độ văn bản học Hán Nôm. Tác giả đã phân loại, đối chiếu thành công 06 văn bản Nôm Tày cùng 05 văn bản Hán Nôm liên quan, làm rõ nguồn gốc niên đại đầu thế kỷ XX, phân tích kết cấu 115 chương đoạn và chỉ ra sự tương đồng cũng như dị biệt giữa ba dòng Then Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Bằng việc thẩm định và phiên âm, dịch chú hoàn chỉnh thiện bản NVB.1, luận án đã đóng góp một nguồn tư liệu khoa học xác thực, làm sáng tỏ các giá trị văn bản học, ngôn ngữ chữ Nôm và đời sống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Tày. Công trình tạo cơ sở khoa học vững chắc phục vụ công tác bảo tồn, lưu trữ và phát huy kho tàng di sản Hán Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam.