Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ văn học "Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Lưu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế, bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Văn học dân gian, Mã số: 62.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình lịch sử nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, truyền thuyết là thể loại có quá trình xác lập vị thế học thuật tương đối phức tạp. Do đặc thù gắn bó chặt chẽ với các địa bàn cư trú, địa danh lịch sử và sinh hoạt tâm linh của từng cộng đồng địa phương, truyền thuyết mang tính vùng sâu sắc. Tuy nhiên, chính đặc trưng này khiến đối tượng truyền thuyết thường bị phân tán, gây khó khăn cho việc nghiên cứu một cách toàn diện và thấu đáo.
Tại Việt Nam, dù đã có một số công trình nghiên cứu về truyền thuyết, song việc tiếp cận thể loại này theo hướng phân vùng văn hóa cụ thể vẫn để lại nhiều khoảng trống. Mảnh đất xứ Nghệ (gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) là một tiểu vùng văn hóa đặc trưng, giữ vị trí địa chính trị và quân sự trọng yếu trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc (từng mang tên Hàm Hoan, Hoan Châu, Nghệ An...), đồng thời sở hữu cảnh quan thiên nhiên đa dạng, hiểm trở. Mặc dù đã có các công trình sưu tầm và địa chí văn hóa đề cập đến truyện kể dân gian xứ Nghệ, mảng tư liệu chuyên biệt về truyền thuyết dân gian vẫn chưa được phân định rõ ràng với truyện cổ tích và thần thoại, thiếu vắng sự thống kê hệ thống cũng như các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt thi pháp thể loại và diễn biến lưu truyền trong không gian văn hóa bản địa.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu khoa học cụ thể:
- Xác lập cái nhìn hệ thống về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ thông qua việc tập hợp, thống kê tương đối đầy đủ và phân loại cụ thể diện mạo truyền thuyết tại địa phương, bổ sung thêm các bản kể mới thu thập qua điền dã thực tế.
- Tái khẳng định và củng cố hệ thống thi pháp thể loại của truyền thuyết dân gian (không gian, thời gian, cấu trúc - motif, nhân vật) bằng các phân tích, dẫn chứng cụ thể từ kho tàng truyền thuyết xứ Nghệ.
- Phục dựng diễn biến lưu truyền của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong mối tương tác hữu cơ với các thành tố văn hóa phi vật thể và vật thể: thần tích, lễ hội dân gian và hệ thống di tích lịch sử - văn hóa.
- Xác định những nét tương đồng và dị biệt giữa truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung để làm nổi bật nét đặc thù của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Truyền thuyết dân gian tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh dưới các dạng: bản kể đã được xuất bản trong thư tịch cổ (văn học trung đại, thần tích, thần phả), sách sưu tầm thời hiện đại và các bản kể truyền miệng mới sưu tầm qua điền dã thực tế. Đi kèm với đó là các yếu tố liên quan trực tiếp đến đời sống thể loại gồm lễ hội và di tích vật thể trên đất Nghệ.
- Phạm vi không gian: Giới hạn trong không gian văn hóa vùng Nghệ Tĩnh (trải dài từ Khe Nước Lạnh đến Đèo Ngang). Luận án có mở rộng so sánh sơ lược với một số vùng văn hóa khác (như Lam Sơn - Thanh Hóa, xứ Huế) nhằm tạo hệ quy chiếu làm rõ nét riêng của truyền thuyết xứ Nghệ.
- Phạm vi thời gian khảo sát thực địa: Các đợt điều tra điền dã được tác giả trực tiếp thực hiện trong các năm 2006, 2008 và 2009 tại các huyện đồng bằng, ven biển và miền núi của tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu dựa trên hai hướng tiếp cận chính có liên quan trực tiếp đến đề tài:
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hướng nghiên cứu bản chất thể loại truyền thuyết
- Giai đoạn khởi đầu (1942 - thập niên 1950): Thuật ngữ truyền thuyết được Đào Duy Anh nêu ra trong bài viết "Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta" trên tạp chí Tri Tân (số 30, năm 1942). Tiếp đó là các công trình đặt nền móng ban đầu: Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1956, Nguyễn Đổng Chi), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, nhóm Lê Quý Đôn), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, Nguyễn Đổng Chi, Văn Tân, Hồng Phong), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1958, Nguyễn Đổng Chi). Dù chưa tách bạch hoàn toàn truyền thuyết với thần thoại và cổ tích, các công trình này đã mở đường cho việc nghiên cứu thể loại.
- Giai đoạn tranh luận (thập niên 1960): Xuất hiện sự bất đồng giữa hai trường phái học thuật qua giáo trình của Đại học Sư phạm (công nhận truyền thuyết là thể loại độc lập) và giáo trình Đại học Tổng hợp do Đinh Gia Khánh chủ biên (xem truyền thuyết là thuật ngữ sử học, dã sử, không thuộc phạm trù thể loại văn học dân gian độc lập). Quan điểm này tiếp tục được Đinh Gia Khánh duy trì trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (tái bản năm 2001).
- Giai đoạn xác lập và phát triển thi pháp (thập niên 1970 đến 2010): Công trình Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của Kiều Thu Hoạch và Nghiên cứu tiến trình của văn học dân gian Việt Nam của Đỗ Bình Trị (thập niên 1970) đánh dấu bước tiến mới. Đến thập niên 1990, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Đại học Tổng hợp do Lê Chí Quế chủ biên chính thức thừa nhận sự tồn tại độc lập của thể loại. Năm 1996, Lê Văn Kỳ xuất bản cuốn Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng.
- Năm 2000, Trần Thị An bảo vệ luận án tiến sĩ Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết, đề xuất hai tiêu chí nhận diện: nội dung dân tộc - lịch sử cùng cảm hứng "thiêng hóa thực tại và tôn vinh những giá trị của dân tộc - lịch sử", đồng thời phân tích quá trình văn bản hóa truyền thuyết trong sử ký, thần tích và truyện ký trung đại. Các nghiên cứu tiếp theo bao gồm luận án của Phạm Tiết Khánh (2007) về truyện kể dân gian Khơme Nam Bộ, bài viết về truyền thuyết Tứ vị thánh nương của Trần Thị An (2008), luận án của Võ Phúc Châu (2010) về truyền thuyết khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ, và công trình sưu tầm hai tập Truyền thuyết dân gian người Việt thuộc bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt do Kiều Thu Hoạch, Trần Thị An và Mai Ngọc Hồng biên soạn.
Hướng nghiên cứu văn học dân gian vùng Nghệ Tĩnh
- Hoàng Tiến Tựu (1978) khởi xướng phương pháp luận phân vùng trong bài viết "Về phân vùng văn học dân gian và ý nghĩa phương pháp luận của nó" (tạp chí Dân tộc học, số 2), xác định Nghệ Tĩnh là một vùng văn học dân gian độc lập (khu vực sông Lam).
- Hội nghị văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất (Đà Nẵng, 1981) với tham luận của Vũ Ngọc Khánh (Tiêu chí phân vùng văn nghệ dân gian) chia cả nước thành 7 miền và Lê Văn Hảo (Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca).
- Bộ sách Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do Nguyễn Đổng Chi chủ biên (hoàn thành bản thảo năm 1984, xuất bản năm 1995), trong đó phần Truyện kể dân gian do Ninh Viết Giao viết đã khảo sát bước đầu nhưng vẫn dùng thuật ngữ ghép "cổ tích truyền thuyết".
- Bộ sách Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (4 tập, 1993) của Ninh Viết Giao tập hợp quy mô tư liệu địa phương nhưng chưa phân định rạch ròi theo thể loại khoa học. Cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (2000) và Về văn học dân gian xứ Nghệ (2004) của Ninh Viết Giao đã bước đầu tách riêng tiểu mục truyền thuyết nhưng chủ yếu dừng ở mức liệt kê theo tiến trình lịch sử.
- Các công trình lý thuyết và chuyên đề khác: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1993/2004), Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa (Trần Quốc Vượng, 1998), hội thảo Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ... (1994) với các bài viết của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đình Chú, Hoàng Anh Tài, Đỗ Thị Hảo, Lê Hồng Lý; tác phẩm An Tĩnh cổ lục (Hippolyte Le Breton, bản dịch 2005) và các bài báo chuyên ngành của Hoàng Minh Đạo (1985), Hoàng Thọ (1987), Nguyễn Phương Châm (1997), Hồ Hữu Phước (1998)...
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ tuy đã được đề cập rải rác trong các công trình địa chí hoặc tuyển tập sưu tầm chung nhưng chưa từng có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện và độc lập dưới góc độ thể loại học folklore. Vẫn còn sự nhập nhằng trong việc phân định ranh giới giữa truyền thuyết với cổ tích và thần thoại địa phương; đồng thời thiếu vắng những khảo sát hệ thống về thi pháp truyền thuyết xứ Nghệ cũng như sự soi chiếu thể loại này trong không gian văn hóa, lễ hội và di tích vật thể tương ứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan niệm thể loại
Luận án tiếp thu hệ thống lý thuyết folklore học hiện đại, đặc biệt là quan niệm về thể loại truyền thuyết của Trần Thị An, Lê Chí Quế và Kiều Thu Hoạch. Tác giả định nghĩa:
Truyền thuyết là thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian, bao gồm những câu chuyện hoàn chỉnh (hoặc mẩu chuyện) được sáng tạo nên bằng con đường kỳ ảo hóa, huyền thoại hóa một cốt lõi sự thật lịch sử nào đó trên cơ sở hai mạch nguồn cảm hứng: "thiêng hóa thực tại và tôn vinh những giá trị của dân tộc - lịch sử".
Đặc trưng thi pháp của truyền thuyết được xác định là sự thống nhất giữa hai mặt: "lịch sử hóa cái phi lịch sử và phi lịch sử hóa cái lịch sử". Môi trường diễn xướng nguyên hợp của truyền thuyết gắn liền với hội lễ và các nghi thức thờ cúng thành hoàng, thần thánh tại đình, đền, miếu, lăng mộ; từ đó truyền thuyết thâm nhập sâu vào các văn bản thần tích (với tư cách là "xương sống của lễ hội") và văn xuôi tự sự trung đại.
Khi khảo sát thần tích để lọc truyền thuyết, luận án đặt ra tiêu chí cốt lõi: sự hiện diện của các motif truyền thuyết điển hình (motif sinh nở thần kỳ, motif chiến công phi thường, motif hóa thân/hiển linh phù trợ).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành văn học dân gian:
- Phương pháp hệ thống, thống kê, phân loại: Thu thập tối đa các bản kể, lập tiêu chí xác định ranh giới thể loại, quy các dị bản về đơn vị tác phẩm chuẩn để thống kê định lượng và phân chia tiểu loại.
- Phương pháp điều tra thực địa (điền dã dân tộc học/folklore):
- Đợt 1 (12 - 15/3/2006): Làm việc với Ban quản lý Di tích danh thắng tỉnh Nghệ An, tham dự lễ hội đền Cuông (Diễn Châu).
- Đợt 2 (23 - 30/5/2006): Khảo sát cụm di tích Mai Hắc Đế tại huyện Nam Đàn (đền vua Mai, lăng mộ ở xã Vân Diên, mộ thân mẫu ở xã Nam Thái; phỏng vấn người trông đền là cụ Nguyễn Quốc Ân, 82 tuổi) và cụm di tích Lý Nhật Quang tại huyện Đô Lương (đền Quả ở xã Bồi Sơn, chùa Bà Bụt ở xã Lam Sơn; phỏng vấn các cụ Nguyễn Cảnh Truật 74 tuổi, Lê Văn Huân 78 tuổi, Nguyễn Khắc Hưng).
- Đợt 3 (28/8 - 1/9/2008): Điền dã tại huyện miền núi Quỳ Hợp, phỏng vấn nghệ nhân, thầy mo và cán bộ văn hóa (ông Sầm Văn Bình, ông mo Hản Vi Lượng 85 tuổi, Trương Sông Hương, Hà Ngọc Đào, Vi Văn Tỉnh, Vi Văn Chính, Lô Văn Vương, Hà Ngọc Đàn, Lương Viết Thoại). Ngày 2/9/2008 tiếp xúc với nhà giáo Phạm Đức Thớc (80 tuổi) và nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao tại TP. Vinh.
- Đợt 4 (31/1 - 6/2/2009): Khảo sát vùng sâu huyện Quỳ Hợp (xã Bắc Sơn, Nam Sơn; phỏng vấn ông Lương Dương Nga, Vi Văn Thắng, Vi Văn Thuyết), khảo sát đền Chín Gian (huyện Quế Phong); khảo sát đền Chợ Củi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) và chùa Hương Tích (Can Lộc, Hà Tĩnh).
- Đợt 5 (15/11 - 22/11/2009): Phối hợp cùng đoàn nghiên cứu Viện Dân tộc học điền dã tại huyện Con Cuông (phỏng vấn sâu người Thái tại bản Thái Sơn, xã Môn Sơn: ông Vi Kim Sinh 74 tuổi, Vi Xuân Bình 87 tuổi, Hà Văn Phán 79 tuổi, Lương Nghiệp 52 tuổi...).
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn học dân gian, lịch sử, văn hóa học, dân tộc học và tôn giáo - tín ngưỡng để soi chiếu truyền thuyết trong môi trường sinh hoạt tâm linh và không gian địa văn hóa.
- Phương pháp phân tích thi pháp: Giải mã cấu trúc cốt truyện, các hệ thống không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật và motif biểu trưng.
- Phương pháp so sánh folklore: Đối chiếu truyền thuyết xứ Nghệ với truyền thuyết các vùng lân cận (truyền thuyết Lam Sơn - Thanh Hóa, văn học dân gian xứ Huế...) và kho tàng truyền thuyết người Việt nói chung.
Nguồn tư liệu khảo sát
- Bộ tuyển tập toàn quốc: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 4, 5 - Kiều Thu Hoạch chủ biên).
- Tư liệu xuất bản tại địa phương: Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (tập 1, Ninh Viết Giao sưu tầm, 1995), Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (Ninh Viết Giao, 2000), Văn học dân tộc thiểu số Nghệ An (Phan Đăng Nhật chủ biên, 2001), Từ Cổ Loa đến Đền Cuông (Nguyễn Nghĩa Nguyên, 2006), Mai Hắc Đế - truyền thuyết và lịch sử (Đinh Văn Hiến, Đinh Lê Yên, 2003), Truyền thuyết núi Hai Vai (Võ Văn Trực, 1990), An Tĩnh cổ lục (Hippolyte Le Breton, 2005)...
- Truyện ký trung đại và thư tịch Hán Nôm: Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)...
- Tư liệu điền dã: 9 bản kể truyền miệng trực tiếp sưu tầm từ các nghệ nhân dân gian tại các địa phương thuộc Nghệ An và Hà Tĩnh.
Nội dung chính theo từng chương
CẤU TRÚC NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương I: Tổng quan về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Chương này thực hiện việc kiểm kê, xử lý tư liệu, thiết lập diện mạo tổng thể và phân loại hệ thống truyền thuyết dân gian trên địa bàn Nghệ Tĩnh.
1. Diện mạo và số lượng
Qua quá trình khảo sát thư tịch và điền dã thực tế (áp dụng tiêu chí quy các dị bản về một đơn vị cốt truyện chuẩn), tác giả xác lập kho tư liệu gồm 147 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, trong đó:
- 138 truyền thuyết được trích xuất, lựa chọn từ các nguồn sách vở, thư tịch Hán Nôm và thần tích đã xuất bản.
- 09 truyền thuyết truyền miệng do tác giả trực tiếp sưu tầm qua các chuyến điền dã thực tế.
Khi so sánh tương quan số lượng trong cuốn Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (tập 1, gồm 98 truyện kể của người Việt), luận án chỉ ra tỷ lệ phân bổ giữa các thể loại tự sự:
- Thần thoại: 06 truyện (chiếm 6.7%)
- Truyện cổ tích: 56 truyện (chiếm 57.1%)
- Truyền thuyết: giữ vị trí trung gian đáng kể, đóng vai trò "gạch nối" chuyển tiếp trong tư duy dân gian từ thế giới quan thần thoại sang hiện thực xã hội của truyện cổ tích.
2. Phân loại truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Dựa trên nội dung phản ánh và đối tượng biểu hiện, luận án chia kho tàng truyền thuyết xứ Nghệ thành các nhóm chính, trong đó mảng truyền thuyết nhân vật chiếm ưu thế tuyệt đối:
| Nhóm / Tiểu loại truyền thuyết |
Số lượng (bản kể) |
Tỷ lệ (%) |
Nhân vật / Tác phẩm tiêu biểu |
| I. Truyền thuyết nhiên thần |
23 |
15.6% |
Thần Núi, Thần Đá, Thần Rắn, Thần Cây (Cao Sơn hiển ứng, Ông Cụt ông Dài, Ba vị đại vương...) |
| - Sơn thần (Thần Núi, Thần Đá) |
10 |
6.8% |
Cao Sơn Cao Các, Miêu Sơn đại vương, Thần núi Mục Sơn, Thần tích làng Ngũ Lộc... |
| - Thủy thần, Mộc thần, Thiên thần, Thổ thần... |
13 |
8.8% |
Bản cảnh thông tuệ thần, Bạch Y công chúa, Uy linh đại vương, Xa Hội... |
| II. Truyền thuyết nhân thần |
99 |
67.3% |
Phân chia thành 3 mảng nhân vật cụ thể: |
| 1. Anh hùng chống ngoại xâm & nông dân |
45 |
30.6% |
Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), Hai Bà Trưng, Lý Nhật Quang, Nguyễn Xí, Phan Đình Phùng... |
| 2. Anh hùng văn hóa (Tổ nghề, khai canh, danh nhân) |
26 |
17.7% |
Người thợ mộc Nam Hoa, Nàng Tóc Thơm, Dương Không Lộ, Nguyễn Quý công, Đền Cả - đền Trung... |
| 3. Linh nhân hóa thần (Người bình dân hóa thần) |
28 |
19.0% |
Sự tích đền Cờn, Bà chúa Nhâm, Thần Liễu Nghị, Thái Sơn thành hoàng, Độc Lâu viện... |
| III. Truyền thuyết địa danh và phong vật |
25 |
17.1% |
Các địa danh, sự tích sản vật quây quần xung quanh nhân vật lịch sử |
| Tổng cộng |
147 |
100% |
|
CƠ CẤU TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ (147 BẢN KỂ)
3. Phát hiện về hiện tượng "Phục nguyên truyền thuyết nhiên thần từ truyền thuyết nhân thần"
Luận án chỉ ra một phát hiện quan trọng: dưới tác động của ý thức hệ phong kiến (vương quyền thu phục thần quyền) và tiến trình lịch sử hóa của tâm thức dân gian, nhiều vị nhiên thần cổ xưa đã bị phủ lên tấm áo lịch sử, gắn cho gốc tích con người có họ tên, chức tước cụ thể. Qua thao tác bóc tách các tầng văn hóa chồng xếp, tác giả đã phục nguyên được 16 truyền thuyết nhân thần thực chất có nguồn gốc bản nguyên từ nhiên thần:
- Tứ vị Thánh nương (Đền Cờn): Bản nguyên là Thần Biển / Mộc thần (khúc gỗ trầm trôi dạt) kết hợp lớp tín ngưỡng thờ cá nguyên thủy, sau đó được nhân thế hóa thành mẹ con hoàng hậu nhà Nam Tống tử tiết.
- Cao Sơn Cao Các: Bản nguyên là Sơn thần tối cổ (thần Núi/Đá), về sau biến cải thành nhân thần mang danh hiệu Tiến sĩ Cao Hiển - Đại Nam phủ sứ trấn giữ Hoan Châu.
- Cao Khánh công: Bản nguyên là thần Biển.
- Bản xứ thư mạch uy linh đại vương: Bản nguyên là Thủy thần.
- Sự tích đền Trúc ở Cát Ngạn: Bản nguyên là Mộc thần.
- Cao Thông đại vương (Cao Lỗ): Bản nguyên là thần Đá.
Khi tính toán lại sau phục nguyên: số lượng truyền thuyết nhiên thần thực tế tăng lên 39 truyện (23 + 16), trong khi truyền thuyết nhân thần giảm xuống 83 truyện (99 - 16). Khoảng cách tỷ lệ chênh lệch giữa hai nhóm giảm từ 4.3 lần xuống còn khoảng 2 lần, phản ánh chính xác chiều sâu vận động của tư duy tín ngưỡng từ sùng bái tự nhiên sang tôn sùng con người.
4. Các trung tâm truyền thuyết dạng chuỗi
Luận án phân tích nguyên tắc hình thành các trung tâm truyền thuyết tiêu biểu tại xứ Nghệ, nơi tích tụ các chuỗi truyền thuyết liên hoàn xoay quanh một nhân vật trung tâm gắn với cụm di tích và lễ hội:
- Trung tâm truyền thuyết Mai Hắc Đế (khu vực Nam Đàn).
- Trung tâm truyền thuyết Lý Nhật Quang (khu vực Đô Lương, đền Quả, Bạch Ngọc).
- Trung tâm truyền thuyết Đền Cuông - Thục An Dương Vương (khu vực Diễn Châu).
- Trung tâm truyền thuyết Đền Cờn - Tứ vị Thánh nương (khu vực Quỳnh Lưu).
Chương II: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ nhìn từ đặc trưng thể loại
Chương II tập trung phân tích 4 thành tố cơ bản của thi pháp thể loại truyền thuyết qua chất liệu thực tế của xứ Nghệ:
CÁC THÀNH TỐ THI PHÁP THỂ LOẠI TRUYỀN THUYẾT
-
Không gian nghệ thuật:
- Không gian cố định và không gian di động: Không gian cố định gắn chặt với các địa danh, sông núi cụ thể của địa phương (núi Rú Đụn, sông Lam, núi Hai Vai, cửa Cờn, rú Mộ Dạ...). Không gian di động mở rộng theo bước chân chinh chiến, dời quân hoặc đường tuần thú của nhân vật lịch sử.
- Không gian khởi nguyên và không gian thứ phát: Không gian khởi nguyên là nơi nhân vật sinh ra, phát tích hoặc hy sinh; không gian thứ phát hình thành dọc theo mạng lưới phân nhánh các đền thờ vọng, các địa phương tiếp nhận tín ngưỡng thờ phụng vị thần đó.
-
Thời gian nghệ thuật:
- Thời gian cố định và thời gian diễn biến truyện: Thời gian cố định gắn với các triều đại lịch sử cụ thể (thời Hùng Vương, thời An Dương Vương, thời thuộc Đường, thời Lê sơ, thời phong trào Cần Vương...). Thời gian diễn biến truyện tuân theo trật tự biên niên cuộc đời người anh hùng.
- Thời gian chồng xếp: Các lớp thời gian lịch sử khác nhau tích tụ, đan cài vào cùng một cốt truyện hoặc một nhân vật qua quá trình truyền lưu qua nhiều thế kỷ.
- Thời gian linh hoạt và thời gian chu kỳ: Thời gian truyền thuyết co giãn linh hoạt và được tái sinh định kỳ theo chu kỳ mùa vụ thông qua thời điểm tổ chức lễ hội hàng năm tại các di tích.
-
Cấu trúc truyền thuyết và các dạng motif tiêu biểu:
- Tính chất cấu trúc: Cấu trúc mở, kết cấu lỏng lẻo và tính dở dang. Cốt truyện truyền thuyết không đòi hỏi sự khép kín nghiêm ngặt như truyện cổ tích mà sẵn sàng dung nạp thêm các chi tiết, sự tích mới từ sinh hoạt tâm linh của cộng đồng.
- Các motif tiêu biểu:
- Motif sinh nở thần kỳ: Mẹ mang thai do thụ cảm khí thiêng, uống nước suối lạ, nằm mộng thấy rồng/sao sa (như sự tích Mai Hắc Đế, các vị thần tích).
- Motif chiến công phi thường: Sức khỏe bạt núi, tài năng võ nghệ xuất chúng, huấn luyện nghĩa quân đánh tan giặc dữ.
- Motif hóa thân và hiển linh: Nhân vật chết biến thành đá, bay về trời, hoặc hiển linh phù trợ các tướng lĩnh triều đại sau đánh giặc thắng lợi.
-
Nhân vật truyền thuyết:
- Gốc tích nhân vật: Đa dạng từ thần linh giáng thế, anh hùng lịch sử xuất thân quý tộc/nông dân, cho đến những người bình dân lao động gặp cảnh ngộ bất thường.
- Hiện tượng nhân vật song hành: Các cặp nhân vật gắn kết tương hỗ (chủ - tướng, mẹ - con, vợ - chồng) cùng tham gia vào hành động lịch sử và cùng được thiêng hóa (như Mai Thúc Loan và mẹ, Lý Nhật Quang và Đông Chinh Vương...).
- Xu hướng biến đổi: Sự chuyển dịch liên tục giữa hai tiến trình: lịch sử hóa nhân vật thần thoại và huyền thoại hóa nhân vật lịch sử.
Chương III: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong không gian văn hóa xứ Nghệ
Chương III khảo sát truyền thuyết như một hiện tượng văn hóa tổng thể trong môi trường sinh tồn tự nhiên của nó tại vùng Nghệ Tĩnh:
TRUYỀN THUYẾT TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ NGHỆ
-
Truyền thuyết dân gian trong tương tác văn hóa vùng:
- Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (đất cằn, gió Lào, lũ lụt) cùng vị trí "phên dậu" quân sự hun đúc nên khí chất con người xứ Nghệ cứng cỏi, kiên cường, giàu tinh thần thượng võ ("Người Nghệ An, gan Thạch Hà").
- Không gian văn hóa này trực tiếp quy định cảm hứng thẩm mỹ của truyền thuyết: ưu tiên ngợi ca những tấm gương anh dũng chống giặc, cứu dân lập ấp, đồng thời tạo ra nhu cầu tâm linh nương tựa vào các vị thần bảo hộ có uy quyền mạnh mẽ.
-
Truyền thuyết dân gian với thần tích và lễ hội:
- Mối quan hệ tam giác: Bản kể sưu tầm văn bản hóa – Bản kể truyền miệng trong dân gian – Bản ghi chép thần tích Hán Nôm tại đền miếu. Thần tích cố định hóa truyền thuyết bằng chữ viết trang trọng mang tính nghi thức, trong khi bản kể truyền miệng giữ cho truyền thuyết tính sinh động, linh hoạt.
- Truyền thuyết và lễ hội: Truyền thuyết đóng vai trò là "xương sống", cung cấp cốt truyện và cơ sở thiêng liêng cho hệ thống trò diễn, nghi thức tế lễ, rước kiệu trong các lễ hội truyền thống (lễ hội đền Cuông, lễ hội đền Quả, lễ hội đền Vua Mai, lễ hội đền Cờn, đền Chín Gian...). Ngược lại, lễ hội là môi trường diễn xướng sống động giúp truyền thuyết tái sinh định kỳ.
-
Truyền thuyết dân gian với các di tích văn hóa vật thể:
- Hệ thống di tích vật thể (đình, đền, miếu, lăng mộ, phế tích thành quách) là điểm tựa vật chất không thể tách rời của truyền thuyết. Truyền thuyết thiêng hóa di tích, biến đá núi sông ngòi thành chứng tích lịch sử; ngược lại, di tích vật thể hiện hữu chứng thực cho sự "có thật" của truyền thuyết trong niềm tin dân gian.
- Khảo sát lịch sử và thực trạng tồn tại của các di tích gắn với truyền thuyết trên đất Nghệ, nêu bật tình trạng bảo tồn, biến đổi qua các biến thiên lịch sử.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt tư liệu: Luận án đã kiểm kê, tập hợp và xử lý một hệ thống tư liệu tương đối quy mô gồm 147 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ (138 bản kể thư tịch và 9 bản kể điền dã thực tế), bổ sung nguồn tư liệu xác thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian địa phương cũng như văn học dân gian Việt Nam.
- Về mặt lý luận và thi pháp thể loại:
- Đưa ra tiêu chí cụ thể để phân định truyền thuyết dân gian với thần thoại, truyện cổ tích và thần tích trong kho tàng truyện kể xứ Nghệ.
- Phát hiện và thực hiện thành công việc bóc tách các lớp văn hóa để phục nguyên 16 truyền thuyết nhiên thần bị lịch sử hóa dưới vỏ bọc nhân thần, làm sáng tỏ quy luật chuyển biến của tư duy tín ngưỡng dân gian.
- Hệ thống hóa các đặc trưng thi pháp nghệ thuật của truyền thuyết xứ Nghệ trên cả 4 phương diện: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, cấu trúc - motif và hệ thống nhân vật.
- Về mặt tiếp cận văn hóa vùng: Luận án phục dựng toàn diện diễn biến lưu truyền của truyền thuyết trong mối liên hệ khăng khít với văn hóa vùng Nghệ Tĩnh, chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa truyền thuyết với lễ hội dân gian và hệ thống di tích văn hóa vật thể.
- Kiến nghị bảo tồn: Luận án đề xuất việc kết hợp chặt chẽ giữa sưu tầm văn bản học và điều tra điền dã thực địa tại các di tích, lễ hội để bảo tồn vốn di sản truyện kể dân gian trong bối cảnh đời sống hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dung lượng khảo sát thực địa: Do điều kiện thời gian và nguồn lực có hạn, các đợt điền dã chưa thể bao phủ toàn bộ các làng xã có lưu truyền truyền thuyết trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh mà mới chỉ tập trung vào các trung tâm truyền thuyết và cụm di tích tiêu biểu (Nam Đàn, Đô Lương, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Can Lộc, Nghi Xuân...).
- Tính chất tương đối của số liệu: Các con số thống kê phản ánh diện mạo tư liệu tại thời điểm nghiên cứu và mang tính tương đối do đặc thù phân tán, dị bản hóa liên tục của văn học truyền miệng dân gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng địa bàn điều tra điền dã sang các vùng sâu, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tại miền Tây Nghệ Tĩnh để bổ sung thêm các bản kể truyền miệng còn chưa được ghi chép.
- Nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của hệ thống thần tích và thực trạng bảo tồn các di tích vật thể gắn liền với truyền thuyết xứ Nghệ trong bối cảnh phát triển văn hóa - du lịch hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và Địa phương học; cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu thể loại văn học dân gian gắn với không gian văn hóa vùng.
- Đối với công tác quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở khoa học và hồ sơ tư liệu về mối quan hệ giữa truyền thuyết, lễ hội và di tích vật thể, phục vụ việc quy hoạch, trùng tu di tích và tổ chức lễ hội truyền thống tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
- Các phần có giá trị tham khảo nổi bật:
- Bảng thống kê và phân loại 147 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ cùng phương pháp phục nguyên nhiên thần (Chương I).
- Khung phân tích thi pháp không gian, thời gian, motif và nhân vật truyền thuyết (Chương II).
- Mô hình khảo sát liên ngành giữa truyền thuyết với thần tích, lễ hội và di tích vật thể (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã thống kê được bao nhiêu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ và tỷ lệ phân bố giữa các nhóm như thế nào?
Luận án thống kê được tổng cộng 147 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ (gồm 138 truyện từ sách vở, thư tịch cổ và 9 truyện mới sưu tầm qua điền dã). Về phân loại nội dung ban đầu:
- Truyền thuyết nhiên thần: 23 truyện (chiếm 15.6%), trong đó Sơn thần chiếm nhiều nhất với 10 truyện.
- Truyền thuyết nhân thần: 99 truyện (chiếm 67.3%), gồm: 45 truyện về anh hùng chống ngoại xâm và anh hùng nông dân; 26 truyện về anh hùng văn hóa; 28 truyện về linh nhân hóa thần.
- Truyền thuyết địa danh và phong vật: 25 truyện (chiếm 17.1%).
2. Hiện tượng "phục nguyên truyền thuyết nhiên thần từ truyền thuyết nhân thần" trong luận án là gì?
Đây là thao tác khoa học nhằm bóc tách các tầng văn hóa lịch sử hóa đè lên các vị thần tự nhiên. Dưới ảnh hưởng của chế độ phong kiến và tâm thức dân gian, nhiều vị nhiên thần cổ sơ (thần Núi, thần Đá, thần Nước, thần Cây) đã bị khoác lên danh tính nhân thần (như trường hợp Tứ vị Thánh nương vốn là Thần Biển/Mộc thần, Cao Sơn Cao Các vốn là Thần Núi/Đá được phong thành Tiến sĩ Cao Hiển). Tác giả đã phục nguyên 16 truyện từ nhân thần về đúng bản nguyên nhiên thần, đưa tổng số nhiên thần thực tế lên 39 truyện và giảm nhân thần xuống 83 truyện.
3. Tác giả đã tiến hành các đợt điền dã khảo sát thực địa tại những địa bàn cụ thể nào?
Tác giả đã thực hiện các đợt điền dã trong các năm 2006, 2008, 2009 tại:
- Cụm di tích đền Cuông (Diễn Châu), cụm di tích Mai Hắc Đế (Nam Đàn), cụm di tích Lý Nhật Quang - đền Quả, chùa Bà Bụt (Đô Lương).
- Miền núi huyện Quỳ Hợp (các xã Châu Quang, Thọ Hợp, Yên Hợp, Bắc Sơn, Nam Sơn), đền Chín Gian (huyện Quế Phong), huyện Con Cuông (bản Thái Sơn, xã Môn Sơn).
- Đền Chợ Củi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), chùa Hương Tích (Can Lộc, Hà Tĩnh) và làm việc với các nhà nghiên cứu tại TP. Vinh.
4. Tiêu chí cốt lõi nào được luận án áp dụng để chọn lọc truyền thuyết dân gian từ kho thần tích?
Tiêu chí quan trọng nhất là sự hiện diện của các motif truyền thuyết mang tính thiêng hóa và tôn vinh trong cấu trúc thần tích, bao gồm: motif sinh nở thần kỳ (thụ thai khác thường, điềm báo linh dị), motif chiến công phi thường (giúp dân đánh giặc, trị thủy, khai hoang) và motif hóa thân, hiển linh (chết hóa thần, hiển linh giúp các triều đại đánh giặc bảo vệ đất nước).
5. Vai trò của truyền thuyết đối với lễ hội và di tích vật thể được luận án luận giải như thế nào?
Luận án xác định truyền thuyết là "xương sống", cung cấp nền tảng thiêng liêng và kịch bản cho các nghi thức, trò diễn trong lễ hội dân gian; đồng thời truyền thuyết mang lại ý nghĩa tâm linh cho các di tích vật thể (đình, đền, miếu, lăng mộ). Ngược lại, lễ hội là môi trường diễn xướng giúp truyền thuyết tái sinh theo chu kỳ, và di tích vật thể đóng vai trò là chứng tích hiện hữu củng cố niềm tin của cộng đồng vào sự thật của câu chuyện truyền thuyết.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Lưu là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên về thể loại truyền thuyết trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Bằng việc kết hợp phương pháp văn bản học và điều tra điền dã liên ngành, luận án đã thống kê, phân loại 147 bản kể truyền thuyết, làm sáng tỏ thi pháp thể loại và phát hiện cơ chế chuyển hóa giữa nhiên thần và nhân thần. Công trình đã phục dựng thành công đời sống của truyền thuyết trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với không gian văn hóa, lễ hội dân gian và hệ thống di tích vật thể xứ Nghệ, đóng góp nguồn tư liệu và cơ sở lý luận cho ngành nghiên cứu folklore học Việt Nam.