mở đầu và có giá trị gợi mở cho các nhà nghiên cứu đi theo xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng. Không chỉ vậy, bài viết của tác giả Hoàng Tiến Tựu còn có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử nghiên cứu vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh khi ông lấy Nghệ Tĩnh làm ví dụ cho các đề xuất cụ thể của mình. 11 z Năm 1981, Hội nghị văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất được tổ chức tại Đà Nẵng với sự tham gia của đông đảo các nhà nghiên cứu văn học dân gian từ các trường đại học, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam… Các tham luận của hội nghị này chủ yếu xoay xung quanh các vấn đề vùng/miền văn học dân gian từ lí luận đến thực tiễn. Trong bài “Tiêu chí phân vùng văn nghệ dân gian”, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã xác định các tiêu chí phân vùng đồng thời đề ra phương án phân vùng văn nghệ dân gian cho cả nước gồm 7 miền, trong đó, Nghệ Tĩnh là một miền văn nghệ dân gian.
Tác giả Lê Văn Hảo trong bài “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ” cũng cho rằng: Nghệ Tĩnh là một trong bốn vùng văn hóa dân gian của miền Trung, đồng thời cũng là một vùng dân ca có sắc thái riêng độc đáo [76, 19]. Những nhận định như vậy là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu truyền thuyết dân gian trong không gian xứ Nghệ - một không gian văn hóa dân gian đặc trưng. Năm 1984, Nguyễn Đổng Chi cùng với các nhà nghiên cứu khác (Ninh Viết Giao, Vũ Ngọc Khánh) đã hoàn thành bản thảo cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh [38] với dung lượng 925 trang song do ông đột ngột qua đời, cuốn sách này mãi đến hơn chục năm sau (năm 1995) mới được chính thức xuất bản. Dù vậy, theo đúng mốc thời gian bản thảo cuốn sách hoàn thành, chúng tôi cho rằng cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh cũng là một trong những tác phẩm đánh dấu bước đi tiên phong trong xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng.
Cuốn sách này thông qua việc khảo sát, đánh giá tổng quan một vùng văn hóa - vùng Nghệ Tĩnh đã cụ thể hóa hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng, đồng thời chứng minh được hiệu quả thiết thực của hướng nghiên cứu này trong ngành folklore. Đặc biệt, trong cuốn sách này, ở phần Truyện kể dân gian [38, 191-251] do nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao viết, lần đầu tiên, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ được sơ lược tìm hiểu. Tuy nhiên, ngay cả khi đã có ý thức phân loại các thể loại văn học dân gian của xứ Nghệ (với các tiểu mục riêng cho từng thể loại như: thần thoại, tiên thoại, truyện cười, giai thoại, ngụ ngôn…), Ninh Viết Giao vẫn chỉ dành một tiểu mục chung cho hai thể loại cổ tích và truyền thuyết. Điều này cho thấy tác 12 z giả chưa thật sự phân định rõ hai thể loại này trong kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ.
Trong tiểu mục Cổ tích và truyền thuyết, khi đưa ra các ví dụ cụ thể cho từng nhận định, lẽ ra phải chỉ rõ truyện nào là cổ tích, truyện nào là truyền thuyết thì tác giả Ninh Viết Giao lại cố tình sử dụng thuật ngữ kép “cổ tích truyền thuyết” thay cho từng thuật ngữ đơn lẻ. Như vậy, dù đã được xác nhận thân phận trong cuốn sách trên đây song truyền thuyết dân gian xứ Nghệ vẫn chưa được xác định được vị thế riêng trong kho tàng văn học dân gian Nghệ Tĩnh. Năm 1986, Viện Văn hóa tổ chức Hội thảo khoa học về phân vùng văn hóa - một sinh hoạt học thuật đánh dấu quy mô rộng lớn của vấn đề phân vùng văn hóa trong đời sống khoa học. Các bài viết được công bố trong hội thảo này là những minh chứng rõ ràng cho sự quan tâm của học giới đối với vấn đề văn hóa vùng.
Năm 1993, nhà Nghệ học Ninh Viết Giao cho ra đời bộ sách Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ gồm bốn tập - là bộ sách sưu tầm có quy mô và hệ thống đầu tiên về truyện kể dân gian xứ Nghệ. Đây là cơ sở tư liệu quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án này. Tuy được chia làm bốn tập (gồm: tập I: truyện kể dân gian của người Việt ở xứ Nghệ; tập II: Truyện kể dân gian của bà con các dân tộc ít người ở miền núi xứ Nghệ; tập III: Truyện cười dân gian xứ Nghệ; tập IV: Giai thoại văn học xứ Nghệ) song dường như đó chỉ là cách phân chia để hợp lý hóa dung lượng cho mỗi tập chứ không phải là sự phân chia mang tính khoa học theo thể loại cụ thể. Bởi vì rõ ràng nhìn vào chủ đề của mỗi tập sách, chúng ta có thể thấy sự bất nhất trong tiêu chí.
Trong hai tập I và II, Ninh Viết Giao không đưa ra bất kỳ thể loại cụ thể nào mà gọi chung các mẩu truyện được ông sưu tầm là truyện kể dân gian. Với tình trạng như vậy, bộ Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ mới làm nhiệm vụ tập hợp tư liệu truyện kể dân gian trong giới hạn vùng văn hóa xứ Nghệ chứ chưa phân loại tư liệu ấy thành các thể loại cụ thể khác nhau. Do đó, hệ thống tư liệu mà bộ sách này đem lại vẫn còn ở dạng sơ khai. Để sử dụng trong luận án này, các truyện kể dân gian ấy còn cần phải trải qua quá trình lựa chọn của chúng tôi.
Tuy đây là một công trình tư liệu song tác giả cũng đã có ý thức nghiên cứu khi viết phần Tổng luận về kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ. Tuy nhiên, bài tổng 13 z luận này lại được phát triển trên cơ sở phần viết về Truyện kể dân gian trong cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do chính Ninh Viết Giao chấp bút cho nên về mặt nội dung, chúng hoàn toàn trùng khớp. Vấn đề phân loại kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ không có bước tiến gì mới so với bài viết của chính tác giả trong cuốn sách địa chí do Nguyễn Đổng Chi chủ biên. Vì tình trạng “dẫm chân tại chỗ” ấy về phương diện nghiên cứu, Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt tư liệu nghiên cứu đối với luận án của chúng tôi.
Năm 1993, tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên cuốn Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (năm 2004 sửa chữa và in lại thành Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam). Trong cuốn này, Ngô Đức Thịnh đưa ra một hệ thống lý thuyết khái niệm căn bản và các hướng nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới; từ đó, ông đề xuất phương án phân vùng văn hóa ở Việt Nam với những mô tả, phân tích cụ thể từng vùng, tiểu vùng văn hóa. Có thể nói cuốn sách này đã cung cấp những bản lề kiến thức về xu hướng nghiên cứu văn hóa theo vùng, là kim chỉ nam dẫn đường cho các nhà nghiên cứu muốn đi sâu tìm hiểu văn hóa các địa phương cụ thể. Tác giả Ngô Đức Thịnh đã dành hẳn một chương (chương 8) để viết về xứ Nghệ như một tiểu vùng văn hóa - theo cách quan niệm về phân vùng văn hóa Việt Nam của ông.
Xứ Nghệ hiện lên trong cuốn sách này ở dạng khái quát nhất ở mọi đặc trưng về các phương diện lịch sử, địa lý, khảo cổ, văn học dân gian… Ở cuốn sách có tính chất của một giáo trình chuẩn mực như thế này, tính định hướng và khái quát được đặt lên hàng đầu nên chúng ta không thể đòi hỏi tác giả phân tích thật kỹ về từng vùng văn hóa/ văn học dân gian cụ thể. Dẫu sao, những nét khái lược về văn học dân gian xứ Nghệ được tác giả đề cập đến trong cuốn sách cũng là những tài liệu quý báu đối với chúng tôi trong hành trình khám phá kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ. Năm 1994, hội thảo khoa học Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam1 và Hội Văn nghệ dân 1 Nay là Viện Nghiên cứu Văn hóa 14 z gian Nghệ An phối hợp tổ chức đã quy tụ được khá nhiều bài viết về văn hóa dân gian xứ Nghệ. Ngoài bài viết có tầm bao quát rộng về vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh của tác giả Đinh Gia Khánh: “Thử tìm hiểu cơ sở lịch sử xã hội của vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”, các bài viết còn lại đều đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể của văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh.
Có thể kể đến các bài viết như: “Văn hóa dòng họ: từ những nét chung đến một trường hợp cụ thể, họ Cương quốc công Nguyễn Xí tại Nghi Lộc, Nghệ An” của tác giả Nguyễn Đình Chú; “Văn học dân gian trong các nghề thủ công truyền thống ở xứ Nghệ” của tác giả Hoàng Anh Tài; “Vài suy nghĩ về các thần tích ở Nghệ An trong kho tư liệu Hán Nôm” của tác giả Đỗ Thị Hảo; “Lễ hội dân gian ở Nghệ An: truyền thống và hiện đại” của tác giả Lê Hồng Lý… Các tham luận này đã đụng chạm đến nhiều mặt khác nhau của vùng văn hóa xứ Nghệ, góp phần làm sáng rõ diện mạo văn hóa xứ Nghệ trong không gian văn hóa Bắc Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Với một số lượng lớn các bài tham luận có liên quan đến vùng văn hóa xứ Nghệ, hội thảo này đã đặt một dấu mốc khá quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ. Năm 1998, giáo sư Trần Quốc Vượng xuất bản cuốn sách Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa [176] bao gồm những bài viết được in rải rác trong nhiều giai đoạn khác nhau dưới cùng một kiểu tiêu đề - biểu hiện của một dòng tư tưởng, một lý thuyết về văn hóa vùng do giáo sư Trần Quốc Vượng thực hiện. Trong đó, tác giả khám phá đặc điểm, cá tính văn hóa của các vùng đất khác nhau trên đất nước Việt Nam.
Đây chính là một cách thể hiện sự tham gia tích cực vào trào lưu nghiên cứu văn hóa theo vùng.