CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI KHOÁI CHÂU 1. Tổng quan về lịch sử, thiên nhiên và môi trường của huyện Khoái Châu 1. Sự hình thành và phát triển Khoái Châu là một vùng đất cổ xưa, được hình thành từ thời các Vua Hùng (1289-258 TrCN). Lúc đó Khoái Châu thuộc bộ Dương Tuyền, nước Văn Lang.
Từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc (211 TrCN) đô hộ nước ta cho tới thời thuộc Đông Hán, Tống, Tề, Lương, Trần đều thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Đến thời vua Đinh Tiên Hoàng (967-979) đổi là Châu Diên, và Tiền Lê (979-1009) vua Lê Ngọa Triều đổi là Phủ Thái Bình. Thời nhà Lý (1010-1225), vùng đất thuộc huyện Khoái Châu ngày nay đổi thành huyện Đông Kết, thuộc Khoái Lộ. Thời Lý Cao Tông (1176-1210) tách Khoái Lộ thành Châu Đằng và Châu Khoái thì Đông Kết thuộc Châu Khoái.
Đến thời Trần sau chiến thắng Nguyên Mông lần thứ ba (1288), vua Trần ban đất Châu Khoái cho Nguyễn Khoái thì Châu Khoái đổi thành Khoái Châu. Tới thời Lê, giữa niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) vùng đất huyện Khoái Châu ngày nay đổi là Đông Yên thuộc Sơn Nam thừa tuyên. Đời Lê Trung Hưng chia Sơn Nam thành Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ thì Khoái Châu thuộc Sơn Nam thượng. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), triều đình cho thực hiện cải cách hành chính, bỏ các trấn lập ra tỉnh, chia cả nước thành 30 tỉnh.
Khi ấy phủ Khoái Châu (trong đó có huyện Đông Yên) thuộc tỉnh Hưng Yên. Tháng 12/1890, toàn quyền Piquet ký Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy có bốn huyện mới, đã cắt của huyện Đông Yên ba tổng là Khóa Nhu, Tử 11 Dương, Yên Phú để cùng với các tổng khác cắt từ Văn Giang (Bắc Ninh), Đường Hào (Hải Dương), Ân Thi (Hưng Yên) để thành lập huyện Yên Mỹ. Phủ Khoái Châu có 10 tổng (Đại Quan, Mễ Sở, Yên Cảnh, Yên Lạc, Yên Vĩnh, Yên Lịch, Phú Khê, Đông Kết, Bình Dân, Ninh Tập), 76 xã. Như vậy, từ thế kỉ thứ XV, phủ Khoái Châu là một đơn vị hành chính lớn hơn cấp huyện, bao gồm đất huyện Khoái Châu hiện nay và một số huyện lân cận như Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ, Ân Thi; còn huyện Khoái Châu là một huyện thuộc phủ, với tên gọi Đông Yên (Đông An).
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ bỏ cấp phủ, tổng thành lập các huyện, xã, thôn. Hưng Yên có 8 huyện và 116 xã. Tháng 8 năm 1946 thị xã Hưng Yên được thành lập. Đông Yên trở thành huyện Khoái Châu từ đó.
Ngày 14/4/1946, Chính phủ ra sắc lệnh số 63 về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và xã, huyện Khoái Châu cũng tiến hành hợp nhất 76 xã nhỏ thành 22 xã lớn, các xã đó tồn tại đến năm 1955. Sau nhiều lần chia tách, hợp nhất, đổi tên, huyện Khoái Châu có 25 xã là: Bình Minh, Đông Tảo, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân, Liên Khê, Phùng Hưng, Thuần Hưng, Đại Hưng, Thành Công, Nhuế Dương, Việt Hòa, Hồng Tiến, Đồng Tiến, Dân Tiến, Bình Kiều, An Vĩ, Đông Kết và Kim Ngưu (nay là thị trấn Khoái Châu). Ngày 24 tháng 2 năm 1979, Chính phủ ra Quyết định số 70-QĐ/CP thành lập huyện Châu Giang gồm 25 xã của huyện Khoái Châu, 9 xã của huyện Văn Giang cũ và 5 xã của huyện Yên Mỹ (Hoàn Long, Yên Phú, Yên Hòa, Việt Cường, Minh Châu). Huyện Châu Giang tồn tại được 20 năm.
Đến ngày 24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ra Nghị định số 60-NĐ/CP tách huyện Châu Giang làm hai 12 huyện Khoái Châu và Văn Giang như cũ, chuyển 5 xã về huyện Yên Mỹ.Thiên nhiên và môi trường địa lí Bản đồ hành chính huyện Khoái Châu, Hưng Yên năm 2009 [36] Huyện Khoái Châu nằm ở tọa độ 20045’45” – 20054’05” vĩ tuyến Bắc 105055’30” – 106002’15” kinh độ đông. Phía bắc giáp huyện Văn Giang; phía nam giáp huyện Kim Động; phía đông giáp huyện Yên Mỹ và Ân Thi; phía Tây giáp Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) ngăn cách bởi sông Hồng. Khoái Châu có diện tích 13. Trong đó đất canh tác nông nghiệp chiếm diện tích tới 13 67.9% là đất thổ cư, đường xá, sông ngòi, công trình công cộng, đình chùa, nhà thờ … Khoái Châu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng nên có địa hình tương đối bằng phẳng.
Đồng đất Khoái Châu thích hợp với cấy lúa, trồng rau màu, cây công nghiệp (chủ yếu là cây đay) và cây ăn quả. Hưng Yên vốn là vùng đất nổi tiếng về cây nhãn và Khoái Châu cũng có những vườn nhãn lớn, những hàng cây trồng nhãn dài dặc hai bên đường liên xã, liên huyện. Làng tôi có lũy tre xanh Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng Trên bờ vải nhãn hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng. Khí hậu Khoái Châu là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều.
Mùa nước to từ tháng 5 đến tháng 10. Có hai mùa mưa gió rõ rệt: Gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với cái rét ngọt và mưa phùn ẩm ướt; từ tháng 6 đến tháng 10 thường có gió bão, mưa to. Đối với mùa này, không thể không nói tới công trình trị thủy sông Hồng là con đê và những lần vỡ đê, ngập lụt của người dân đồng bằng châu thổ sông Hồng mà Khoái Châu là huyện có đoạn sông dài tới 21,4km chảy qua. Đê sông Hồng là một công trình vĩ đại nhất của đất nước trong công cuộc phòng chống thiên tai bão lụt.
Việc đắp đê, hộ đê, rồi làm thủy lợi nội đồng chống hạn, chống úng ngập qua hàng ngàn năm là cuộc vật lộn với thiên nhiên vô cùng gian khổ, là một nét phẩm chất riêng của người nông dân đồng bằng châu thổ sông Hồng. Khởi công từ thời Lý, đời Trần, thảm họa vỡ đê xảy ra nhiều nhất vào triều Nguyễn. Công cuộc đắp đê trị thủy sông Hồng căn bản hoàn thành vào nửa sau thế kỷ XX. Nếu chỉ tính từ năm 1831 (năm thành lập tỉnh Hưng Yên) đến năm 1945 đã có tới 32 trận hồng thủy – vỡ đê đã làm cho người dân dọc sông 14 Hồng nói chung và người dân huyện Khoái Châu nói riêng rất vất vả, điêu đứng.
Để chủ động trong việc chống úng, hạn, tưới tiêu cho ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Chính phủ quyết định xây dựng công trình đại thủy nông Bắc-Hưng-Hải. Ngày 1/10/1958 khởi công xây dựng cống Xuân Quan-đầu mối của công trình. Ngày 1/5/1959 thì hoàn thành công trình. Hai hệ thống Kênh Đông và Kênh Tây đã chạy và tưới tiêu cho 17 xã thuộc huyện Khoái Châu, góp phần không nhỏ vào việc canh nông cho địa phương.
Trên công trường thủy lợi Bắc-Hưng-Hải (ảnh tư liệu của tỉnh Hưng Yên) Khoái Châu nằm trên trục đường Thăng Long – Phố Hiến nổi tiếng phồn hoa cuối thế kỉ 17 đầu thế kỉ 18, nằm bên tả ngạn sông Hồng là đường giao thông thủy quan trọng từ biển Đông qua cửa Ba Lạt để tới Thăng Long, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai. Huyện có 21,4 km đê sông Hồng chảy qua 9 xã của huyện là Bình Minh, Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân, Nhuế Dương. Ngoài ra, Khoái Châu còn có một loạt các con sông nhỏ như 15 sông Cửu Yên đào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sông tiêu Từ Hồ - Sài Thị, sông Kim Ngưu, sông Tây Tân Hưng, sông Điện Biên, sông Mười, sông Cấp Tiến – Tân Dân, sông Đồng Quê… Hệ thống giao thông đường bộ của Khoái Châu khá thuận tiện. Phía đông có đường 39A là đường nối từ quốc lộ 5 tới thị xã Hưng Yên (nay là thành phố Hưng Yên), chạy qua bốn xã của huyện là Dân Tiến, Đồng Tiến, Hồng Tiến và Việt Hòa.
Ngoài ra còn có các đường liên xã là đường 199 là đường được làm từ năm 1892 nên còn được gọi là đường Tây, chạy từ xã Bình Minh qua Đông Tảo và một phần của vùng đất của huyện Yên Mỹ ra đường 39A; đường 205 chạy xuyên dọc giữa huyện; đường 195 là đê sông Hồng dài 21,4km chạy từ xã Bình minh qua Dạ Trạch, Hàm Tử, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân, Nhuế Dương. Dọc đường này có tới 5-6 bến đò lớn nhỏ khác nhau. Ngoài ra còn có các đường 205C, đường 208, đường 206, đường 209, đường 204, đường 199B, đường 199C và đường 209C. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông chủ yếu là thuyền buồm chở khách và hàng hóa trên sông Hồng, ngược lên Hà Nội, xuôi phố Hiến, Nam Định, Thái Bình, thuyền trên sông Cửu Yên từ Nghi Xuyên qua Kim Động, Ân Thi sang huyện Thanh Miện (Hải Dương)… Hàng hóa chủ yếu là lâm sản như gỗ, tre, nứa, lá gồi, củ nâu hoặc than đá, đá để nung vôi.
Đường bộ có xe ca chở khách từ phố Phủ đi Hà Nội, và xe ngựa chở khách đi lại trong huyện và các huyện xung quanh. Từ năm 1955 có ô tô chở khách từ phố Phủ đi Hà Nội và từ phố Phủ đi thị xã Hưng Yên. Trên sông Hồng có ca nô chở khách từ phố Phủ đi Hà Nội đến thị xã Hưng Yên, Nam Định và ngược lại. Từ năm 1990 theo sự phát triển chung của xã hội và theo cơ chế thị trường, phương tiện giao thông đường bộ phát triển nhanh.
Tại bến xe phố 16 huyện có nhiều ô tô chở khách đi lại khắp các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc. Văn hóa và con người Khoái Châu 1. Cư dân Khoái Châu Như trên đã nói, Khoái Châu là một vùng đất cổ. Người Việt cổ đã đến cư trú sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá và khai hoang, thau chua, rửa mặn, bắt đầu gieo cấy lúa nước.
Việc phát hiện ra trống đồng Đông Sơn ở Cửu Lao, Liên Nghĩa, huyện Văn Giang, giáp Khoái Châu chứng tỏ vùng đất này thời đó đã có dân cư, có chung nền văn hóa Đông Sơn, như trong “Hùng Vương dựng nước” tập I đã ghi “Trong thời Hùng Vương đồng bằng ở phía Nam sông Hồng mở rộng mãi ra”. Truyền thuyết Chử Đồng Tử-Tiên Dung đời Hùng Duệ Vương cho biết thời đó Khoái Châu đã có nhiều trang trại và cư dân đông đúc mà truyền thuyết nhắc đến các tên Đa Hòa, Dạ Trạch, Ông Đình, Đông Tảo. Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã có nhiều tướng đóng quân ở Đa Hòa (xã Bình Minh). Bà Bạt Kiếm hy sinh ở Tiểu Quan (xã Phùng Hưng).
Năm 547, Đại tướng quân Triệu Quang Phục đưa 20.000 quân về đóng ở đầm Dạ Trạch, năm 548 lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, lập tiền đồn ở Đa Hòa, An Vĩ, Nhuế Dương thực hiện kế hoạch “trì cửu chiến”.