Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTXH, song có thể khái quát thành 4 hướng nghiên cứu như sau: 1) Hướng nghiên cứu xác định khái niệm của TTXH: Đó là những nghiên cứu theo hướng cấu trúc của định nghĩa. Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTXH, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa và phương pháp tiếp cận.
TTXH được hiểu khác nhau, thông qua các thành phần của nó. Cụ thể: (1) nhận thức và ứng xử của con người (E.Thorndike); (2) hành vi hoặc nhận thức xã hội (đại diện là M. O’Sullivan); (3) năng lực xã hội (đại diện là M.Tisak); (4) trí tuệ về người khác (đại diện là H.Gardner ); (5) trí thông minh thực tế (đại diện là R. Sternberg), trí tuệ cảm xúc (đại diện là P.Mayer); (6) TTXH là trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội (đại diện là H.
a) Hướng nghiên cứu coi TTXH là nhận thức và ứng xử của con người (đại diện là E.Thorndike) Năm 1920, trong bài báo: “Trí tuệ và việc sử dụng nó” (Intelligence and its use) đăng trên Tạp chí Harper (Harper’s Magazine), E. Thorndike (1874 -1949) lần đầu tiên đưa ra khái niệm “trí tuệ xã hội” dựa trên sự phân chia trí tuệ con người thành 3 bộ phận bao gồm: - Trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence): Năng lực để hiểu và quản lý các ý tưởng. - Trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence): Năng lực hiểu và quản lý đồ vật cụ thể - Trí tuệ xã hội (Social Intelligence): Năng lực hiểu và quản lý con người. Trong đó, trí tuệ cơ học và trí tuệ xã hội đề cập đến suy nghĩ và hành động liên quan trực tiếp tới các vấn đề thực tế và con người hiện thực.Thorndike là người nhấn mạnh đến việc không nên đồng nhất các loại trí tuệ, cần thiết phải mở rộng khái niệm IQ.
Bởi: “không có người nào giỏi tất cả mọi lĩnh vực. Trí tuệ thay đổi tùy theo tình huống trong cuộc sống”. Trong cuộc sống vẫn không hiếm gặp những trường hợp: “Một người kém thông minh ở hầu hết các vấn đề, có khi đang bị giam lỏng trong bệnh viện thần kinh, đang chơi trò chơi hạng nhất của cờ vua. Một người đàn ông nổi tiếng cả nước với vai trò nhà biên tập, diễn giả và giám đốc điều hành nhưng lại không thể vượt qua kỳ thi toán khi là sinh viên năm thứ nhất”.
Hướng tiếp cận phát triển đa trí tuệ này của Thorndike đã tạo nên một cuộc tranh cãi với Spearman suốt 25 năm (1920- 1945) (Spearman đề xuất lý thuyết đơn trí tuệ).Thorndike, TTXH liên quan đến năng lực của một cá nhân để hiểu, tương tác với người khác, để tham gia, hành động thích ứng với các tương tác xã hội. Thorndike nhận thấy: “Các biểu hiện của trí tuệ xã hội xảy ra rất nhiều trong trường học, trên sân chơi, trong các doanh trại, nhà máy và cửa hàng mà không cần những điều kiện chuẩn của phòng thí nghiệm hỗ trợ”. Ông nhấn mạnh sự tương tác hiệu quả giữa các cá nhân có ý nghĩa sống còn đối với thành công trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lãnh đạo: “Người thợ máy giỏi nhất trong một nhà máy vẫn có thể thất bại khi viên quản đốc thiếu trí thông minh xã hội” [75].Thorndike cho rằng, TTXH là: (1) năng lực để hiểu và quản lý con người và (2) năng lực để cư xử một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ người- người. Quan điểm coi TTXH là tổ hợp các năng lực này được rất nhiều những nhà tâm lý học tiếp sau này đồng thuận và kế thừa khi nghiên cứu TTXH.
b) Hướng nghiên cứu coi TTXH là hành vi hoặc nhận thức xã hội Đại diện là David Welchsler, J.Welchsler (các năm 1939, 1958), nhà tâm lý học nổi tiếng thời bấy giờ, người đã tạo ra một trong những thước đo IQ được sử dụng phổ biến nhất, lại kiên quyết bác bỏ sự tồn tại của trí tuệ xã hội. Theo ông, TTXH là trí tuệ chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội. Ông cho rằng test WAIS (bộ trắc nghiệm nổi tiếng 9 dùng để đo IQ) có thể sử dụng để đo TTXH, cụ thể là đánh giá năng lực của cá nhân khi tiếp nhận tình huống xã hội [80]. Nếu hiểu như vậy, thì nhận thức xã hội là thành phần duy nhất của trí tuệ xã hội.
Nhưng quan điểm này chỉ tập trung vào những gì chúng ta biết về thế giới giữa các cá nhân con người mà bỏ qua những gì chúng ta thật sự thực hiện khi giao tiếp với người khác. Kết quả, những phương pháp đánh giá trí tuệ xã hội chỉ tập trung kiểm tra vào câu hỏi “chúng ta làm gì trong các tình huống xã hội” mà bỏ qua câu hỏi “chúng ta làm như thế nào trong những tình huống đó”. Một người dù có nhận thức xã hội rất tốt những lại thiếu những yếu tố cơ bản của trí tuệ xã hội, vẫn có thể thất bại khi giao tiếp với người khác.Cantor (Đại học Toronto- Canada) đã có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu và sâu về trí tuệ xã hội. Năm 1987, hai ông xuất bản cuốn sách “Nhân cách và trí tuệ xã hội”.
Năm 1989, hai ông nghiên cứu vấn đề “trí tuệ xã hội và đánh giá nhận thức của nhân cách”. Năm 2000, hai tác giả viết “Trí tuệ xã hội” được in trong cuốn “Sổ tay trí thông minh” của Đại học Cambridge (Anh). Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về các vấn đề của trí tuệ xã hội. Kihlstrom và Cantor cho rằng, TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội.Trí tuệ xã hội được sinh ra để giải quyết các vấn đề của xã hội, cụ thể là điều tiết các nhiệm vụ của cuộc sống, các mối quan tâm của xã hội hiện tại [63].
Cũng nghiên cứu về vấn đề trên, năm 1965, trong tác phẩm “Phép đo lường trí tuệ xã hội”, M O'Sullivan, J.deMille (1965) cho rằng: nhận định về hành vi được xem như là năng lực đánh giá con người. Cảm xúc, động cơ, suy nghĩ, ý định, thái độ và các khuynh hướng tâm lý khác có ảnh hưởng đến các hành vi xã hội của một cá nhân [54].Guilford và cộng sự xác định rõ ràng, TTXH gồm có 2 năng lực khác nhau. Hai năng lực này tương đối độc lập với nhau trong khu vực hành vi và khu vực phi hành vi. c) Hướng nghiên cứu TTXH như 1 năng lực xã hội đại diện là M.
Theo Ford và Tisak (1983), TTXH là năng lực giải quyết các 10 tình huống xã hội cụ thể [32]; tr. Qua công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đã kết luận: “Các biện pháp đánh giá về TTXH đã được thích nghi trong ứng xử xã hội nên được sử dụng như là yếu tố tiên đoán về sự thể hiện hành vi ứng xử xã hội được quan sát trực tiếp hơn là các biện pháp của trí tuệ hàn lâm” [32]. Cùng quan điểm trên, H. d) Hướng nghiên cứu TTXH là trí tuệ về người khác: Trong lý thuyết Đa trí tuệ, H.Gardner phân chia thành nhiều loại trí tuệ khác nhau.
Trong đó, trí tuệ về người khác bao gồm những năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và các mong muốn của người khác một cách thích hợp. Họ có khả năng xâm nhập vào tư tưởng của người khác, có khả năng động viên và hỗ trợ người khác. Những người cần có trí tuệ này là bác sỹ, điều dưỡng, người bán hàng, giáo viên. Thùy trán có vai trò quan trọng đối với loại trí tuệ này.
Các tổn thương ở thùy trán có thể làm mất khả năng thấu hiểu người khác và làm thay đổi hoàn toàn nhân cách. Sự lão suy có thể làm mất đi tất cả mọi khả năng xã hội của con người. Thực chất đây chính là kiểu TTXH mà E. e) Hướng nghiên cứu TTXH như một loại trí tuệ thực tiễn hay trí tuệ cảm xúc: R.
Sternberg cho rằng trí tuệ có 3 loại là: Trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo và trí tuệ thực tiễn. Trí tuệ thực tiễn là khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày bằng kiến thức và kỹ năng sống. Trí tuệ thực tiễn có thể khiến một cá nhân hiểu cái mình cần phải làm trong một hoàn cảnh cụ thể. Theo ông, trí tuệ thực tiễn đặc biệt dựa vào việc thu được những kiến thức ngầm (Tacit Knowledge) không chính thức hơn là chính thức, học được mà không nhất thiết phải qua trường lớp.
Kiến thức ngầm này phản ánh sự hiểu biết để giải quyết một tình huống nhất định, phản ánh sự phát triển và hành động. Nó xuất hiện mà không cần được dạy phải làm gì, làm điều đó như thế nào, hoặc có thể phù hợp với việc tại sao cá nhân lại hành động như vậy [64]. 11 Manfred Amelang và Dieter Bartussek cũng gọi dạng trí tuệ này là trí tuệ thực tiễn. Tri thức trường học, tư duy logic, trí nhớ, trí sáng tạo chưa đủ để hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn.
Sống trong cộng đồng phải chú ý đến các quy luật xã hội, sự thừa nhận và đánh giá theo chuẩn mực xã hội, biết chẩn đoán hành động của người khác, để từ đó có tổ chức, đặt kế hoạch và quyết định về hành động của mình. Yêu cầu này đòi hỏi con người phải có trí tuệ xã hội. TTXH là "năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh tương tác với người khác. Nó diễn ra trong hoạt động cùng với người khác với mục đích và tính xã hội nhất định".
TTXH được tạo nên bởi ba thành tố trong đó trí tuệ cảm xúc là hạt nhân. - Tự nhận thức về bản thân: hiểu về mình, đánh giá về mình - Năng lực xã hội: Gồm ba tiểu thành tố: nhận thức, xúc cảm, vận động - Trí tuệ cảm xúc: gồm bốn tiểu thành tố: nhận ra cảm xúc, biểu hiện cảm xúc, điều khiển có hiệu quả cảm xúc, sử dụng những thông tin liên quan đến cảm xúc để thúc đẩy, đặt kế hoạch và thực hiện có kết quả hành động. Dẫn theo Huỳnh Văn Sơn (2011) [14]; tr. Paul Ekman chứng minh tầm quan trọng của những biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt và sự giao tiếp phi ngôn ngữ.
Các nhà tâm lý học lâm sàng quan tâm đến các bệnh lý liên quan đến sự bất lực trong việc gọi tên và biểu lộ cảm xúc. Năm 1990, Salovey và Mayer đưa ra khái niệm “trí tuệ cảm xúc”.