Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Tô Nhi A thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hoa, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Công trình thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành (mã số 9.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kỹ năng thực hành nghề (tay nghề) là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của người lao động. Kỹ năng này được hình thành trong quá trình đào tạo tại cơ sở đào tạo, sau đó được củng cố và phát triển qua quá trình rèn luyện, thực hành trong hoạt động nghề. Đối với giáo viên sư phạm nói chung và giáo viên mầm non nói riêng, kỹ năng thực hành nghề có ý nghĩa đặc biệt do đối tượng tác động là trẻ em dưới 6 tuổi – lứa tuổi đang phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lý.
Theo chương trình đào tạo ngành Sư phạm Mầm non tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM, có 44 tín chỉ liên quan trực tiếp đến chuyên ngành và việc triển khai các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. Chuẩn đầu ra ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM cũng quy định rõ năng lực chăm sóc trẻ (vệ sinh môi trường sinh hoạt, tổ chức ăn uống, phòng chống bệnh) và năng lực giáo dục trẻ (thiết lập môi trường học tập, quản lý lớp/nhóm, khuyến khích trẻ hoạt động tích cực). Hoạt động thực tập sư phạm tại các cơ sở giáo dục mầm non là môi trường thực tế giúp sinh viên làm quen với các tình huống nghề nghiệp đa dạng, củng cố tri thức và rèn luyện kỹ năng.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn với nhu cầu gửi trẻ cao, đòi hỏi chất lượng chăm sóc và tay nghề của giáo viên mầm non phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Tuy nhiên, thực tế phản ánh đội ngũ giáo viên mới ra trường còn nhiều hạn chế về kỹ năng nghề. Tại hội thảo "Nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên mầm non" tại TP.HCM (tháng 06/2018), nhiều giảng viên và giáo viên hướng dẫn thực tập nhận định sinh viên thường gặp khó khăn khi đọc hiểu, phân tích chương trình mầm non và lúng túng trong việc cụ thể hóa nội dung rèn luyện kỹ năng cho phù hợp với lứa tuổi trẻ. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ tâm lý học về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại địa bàn này còn rất hạn chế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này; từ đó đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao trình độ kỹ năng thực hành nghề cho sinh viên.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm và kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non.
- Xây dựng cơ sở lý luận về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non.
- Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm và tiến hành thực nghiệm nâng cao kỹ năng thực hành nghề cho sinh viên sư phạm mầm non.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non nói chung đạt mức trung bình; biểu hiện qua các hoạt động lập kế hoạch chăm sóc và giáo dục trẻ, tổ chức thực hiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ, quản lý lớp học, đánh giá.
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non, trong đó mục tiêu nghề nghiệp của sinh viên, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy của giáo viên tại trường sư phạm có ảnh hưởng rõ rệt.
- Nếu tổ chức bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề cho sinh viên sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng cách thay đổi phương pháp hình thành – rèn luyện kỹ năng trong các giờ học thực hành sẽ giúp sinh viên nâng cao mức độ kỹ năng thực hành nghề.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non; các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên ngành sư phạm mầm non tại các trường đại học, cao đẳng; giảng viên chuyên ngành giáo dục mầm non; cán bộ quản lý trường mầm non (hiệu trưởng, hiệu phó) và giáo viên mầm non hướng dẫn thực tập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi địa bàn: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM và các trường mầm non thực tập trên địa bàn TP.HCM.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ tháng 9/2015 đến tháng 8/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm nội dung chính:
Các hướng nghiên cứu về kỹ năng
- Hướng tiếp cận kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động: A. Rudic (1980, 1986) xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của từng thao tác; Gônôbôlin (1977) coi kỹ năng là phương thức hoàn chỉnh thực hiện hành động dựa trên tri thức và kỹ xảo; J. Chapin (1971) định nghĩa kỹ năng là sự thực hiện trật tự cao giúp hành động trôi chảy, đúng đắn; Cruchexki (1981), Covaliop, Theodorson (1971) nhấn mạnh vào sự rèn luyện thao tác; Trần Trọng Thủy (1978) khẳng định nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật và có kỹ năng; Lã Văn Mến (khi nghiên cứu kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên CĐSP Nam Định) xem kỹ năng là sự thực hiện hợp lý và có kết quả ổn định.
- Hướng tiếp cận kỹ năng là biểu hiện năng lực con người: N. Lêvitôv (1969) định nghĩa kỹ năng là sự thực hiện có kết quả hành động bằng cách lựa chọn cách thức đúng đắn; X. Rubinstein chia thành kỹ năng nguyên sinh và kỹ năng thứ sinh; V. Tsưbưsêva (1973) nhấn mạnh tính tích cực nhận thức của người học; K. Platonov (1974) và K. Golubev (1974) khẳng định kỹ năng là năng lực thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện mới dựa trên sự thông hiểu mục đích; Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng định nghĩa kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã lĩnh hội.
- Hướng tiếp cận kỹ năng là hành vi ứng xử cá nhân: S. Sheator (1978) nhấn mạnh vai trò của thái độ, niềm tin và quy tắc ứng xử cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp.
Các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề
- Dưới góc độ Tâm lý học lao động: K. M. Gurevic (1970) phân chia các kỹ năng định hướng, chuẩn bị, thực hiện, kiểm tra, thu thập và xử lý thông tin; E. A. Milerijan phân loại kỹ năng chủ đạo, điểm tựa và hỗ trợ; V. Mareev và V. Molijako nghiên cứu kỹ năng kỹ thuật; Joan Kelly-Plate và Ruth Volz-Patton (1991) khảo sát kỹ năng lập kế hoạch, tính toán trong nghề nghiệp; Losh đưa ra tiêu chuẩn đánh giá kỹ năng dựa trên thời gian, số lượng và chất lượng sản phẩm; Leesa Wheelahan (Úc) nghiên cứu năng lực thực hiện công việc; Đặng Danh Ánh (1982) chỉ ra kỹ năng lập kế hoạch cá nhân, tổ chức, kiểm tra và điều chỉnh lao động; Nguyễn Đức Trí (1988) nghiên cứu kỹ năng lao động chung trong nghề cơ khí; Mai Thị Nguyệt Nga phân tích kỹ năng lao động phổ thông (thiết kế, tổ chức, kiểm tra đánh giá).
- Dưới góc độ Tâm lý học sư phạm kỹ thuật và đào tạo nghề: Trebuseva và Koxilop nghiên cứu sự hình thành kỹ năng lao động cho học sinh; Nguyễn Viết Sự và Nguyễn Thị Hoàng Yến phân chia 3 cấp bậc trình độ nghề (Bậc 1: bán lành nghề, Bậc 2: lành nghề, Bậc 3: lành nghề bậc cao); Nguyễn Đức Trí xây dựng mô-đun kỹ năng hành nghề tích hợp lý thuyết và thực hành.
Các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề sư phạm
- Quốc tế: G. Kixegof (1977) phân chia quá trình hình thành kỹ năng sư phạm qua 5 giai đoạn; Kevin B. và Len King phân loại 3 nhóm kỹ năng dạy học (xây dựng chương trình, giảng dạy, đánh giá); N. V. Cudomina, O. Apdulinna nhấn mạnh việc rèn luyện hệ thống kỹ năng trong tình huống sư phạm giả định và tình huống thực.
- Trong nước: Nguyễn Thành Kỉnh nghiên cứu kỹ năng dạy học hợp tác của giáo viên THCS (gồm nhóm kỹ năng thiết kế bài học, tiến hành giảng dạy, hỗ trợ giảng dạy); Trần Ngọc Minh nghiên cứu rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên theo học chế tín chỉ cho sinh viên sư phạm Địa lý.
Các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non
Đỗ Thị Minh Liên phân tích 3 con đường hình thành năng lực sư phạm cho sinh viên SPMN tại Đại học Sư phạm Hà Nội và đề xuất các biện pháp xây dựng quy trình, chuẩn đánh giá; các hội thảo khoa học tại Trường Đại học Hồng Đức (2014) và Trường Đại học Hùng Vương bàn về công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm mầm non.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào kỹ năng chung, kỹ năng lao động kỹ thuật hoặc kỹ năng sư phạm ở bậc phổ thông. Các tài liệu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non còn rời rạc, chủ yếu dừng lại ở mức độ bài báo, hội thảo hoặc chỉ tiếp cận một khía cạnh nghiệp vụ đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về cấu trúc tâm lý, thực trạng biểu hiện theo các tiêu chí đo lường cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại TP.HCM. Luận án được thực hiện để giải quyết trực tiếp khoảng trống khoa học này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên hai nguyên tắc phương pháp luận chủ đạo:
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động – nhân cách (dựa trên lý thuyết hoạt động của A. N. Leontiev): Nhân cách và kỹ năng chỉ được hình thành, phát triển trong hoạt động. Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non được hình thành và củng cố trong quá trình học tập và thực tập sư phạm tại trường mầm non.
- Nguyên tắc hệ thống: Xem xét kỹ năng thực hành nghề trong mối liên hệ chỉnh thể, tác động qua lại giữa các yếu tố chủ quan (nhận thức, mục tiêu nghề nghiệp, học lực) và các yếu tố khách quan (chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất, giáo viên hướng dẫn).
Các khái niệm công cụ được xác định trong luận án:
- Kỹ năng: Là cách thực hiện những thao tác, hành động một cách đúng đắn, thuần thục để giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra.
- Thực hành nghề: Là giai đoạn luyện tập thực hiện hoạt động lao động nghề của người học nghề, sau khi đã được đào tạo lý thuyết cơ bản về nghề và trước khi bước vào hoạt động lao động nghề chính thức trong xã hội, có sự giám sát, hỗ trợ của người hướng dẫn thuộc cơ sở đào tạo.
- Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non: Là cách thực hiện một cách đúng đắn, thuần thục những thao tác, hành động của hoạt động nghề, ở giai đoạn luyện tập thực hiện hoạt động lao động nghề của người học, sau khi đã được đào tạo lý thuyết cơ bản về nghề và trước khi bước vào hoạt động lao động nghề một cách chính thức trong xã hội, có sự giám sát, hỗ trợ của người hướng dẫn thuộc cơ sở đào tạo.
- Nghề sư phạm mầm non: Là lĩnh vực hoạt động lao động tại trường mầm non với đối tượng là trẻ dưới 6 tuổi, trong đó người làm nghề thực hiện các hành động chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm chuẩn bị cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần để bước vào lớp 1.
Cấu trúc kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần:
- Nhóm kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Nhóm kỹ năng quản lý lớp học.
- Nhóm kỹ năng đánh giá.
Tiêu chí đánh giá kỹ năng:
- Tính đúng đắn: Mức độ chính xác của thao tác, hành động, mức độ loại bỏ các sai sót trong quá trình thực hiện.
- Tính thuần thục: Sự thành thạo, tốc độ thao tác hợp lý, không có động tác thừa, kết hợp nhịp nhàng giữa các thao tác.
Phân loại mức độ kỹ năng: Luận án kết hợp quan điểm 5 mức độ của V. Bespalko với 2 tiêu chí (đúng đắn và thuần thục) để xác lập 5 mức độ đánh giá:
| Mức độ |
Mô tả biểu hiện tiêu chí |
| Mức độ 1: Rất thấp |
Mắc rất nhiều lỗi trong quá trình thực hiện và rất lúng túng, tốn rất nhiều thời gian để thực hiện đúng từng thao tác, hành động. |
| Mức độ 2: Thấp |
Mắc nhiều lỗi trong quá trình thực hiện và còn hơi lúng túng, chưa thực hiện thực sự thành thạo và còn tốn thời gian để thực hiện đúng từng thao tác, hành động. |
| Mức độ 3: Trung bình |
Mắc tương đối ít lỗi trong quá trình thực hiện, có thể thực hiện các thao tác một cách tương đối thành thạo tuy nhiên vẫn cần tốn một khoảng thời gian nhất định để thực hiện đúng từng thao tác, hành động. |
| Mức độ 4: Cao |
Mắc rất ít lỗi trong quá trình thực hiện, khá thành thạo và tốn ít thời gian để thực hiện các thao tác, nhưng chưa có sự linh hoạt khi xảy ra tình huống bất ngờ hoặc yêu cầu phát sinh. |
| Mức độ 5: Rất cao |
Không mắc lỗi trong quá trình thực hiện, rất thành thạo các thao tác, hầu như không tốn thời gian và có sự linh hoạt để xử lý các tình huống bất ngờ và đáp ứng các yêu cầu phát sinh. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn bản lý luận, chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và các công trình khoa học liên quan.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng hệ thống thang đo đánh giá nhận thức, mức độ biểu hiện theo tiêu chí đúng đắn, tiêu chí thuần thục, biểu hiện chung và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi trực tiếp các thao tác của sinh viên trong quá trình tổ chức hoạt động chăm sóc (vệ sinh, ăn uống) và giáo dục (tập hợp trẻ, chia nhóm, tổ chức học tập/vui chơi) tại trường mầm non thực tập.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý trường mầm non, giảng viên khoa SPMN, giáo viên hướng dẫn thực tập và sinh viên.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và thực nghiệm kiểm chứng: Tổ chức tác động thay đổi phương pháp rèn luyện kỹ năng trong giờ học thực hành trên nhóm thực nghiệm, so sánh đối chứng trước và sau tác động với nhóm đối chứng.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng để tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn, kiểm định tương quan và kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm mẫu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non
Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kỹ năng, kỹ năng thực hành nghề và kỹ năng sư phạm. Tác giả phân tích các quan điểm tiếp cận của các học giả Liên Xô (A. Rudic, K. Platonov, E. A. Milerijan, G. Kixegof), các học giả phương Tây (J. Chapin, Theodorson, S. Sheator, Kevin B. & Len King, Losh) và các nhà tâm lý học Việt Nam (Trần Trọng Thủy, Vũ Dũng, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Đức Trí, Đỗ Thị Minh Liên). Chương này khẳng định kỹ năng thực hành nghề là một kỹ năng bậc cao, bao hàm cả mặt kỹ thuật thao tác lẫn năng lực hành động có ý thức. Luận án xác định rõ khoảng trống nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non dưới góc độ tâm lý học tại TP.HCM.
Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non
Chương 2 làm rõ bản chất tâm lý của kỹ năng, quy trình 5 giai đoạn hình thành kỹ năng (lĩnh hội tri thức; diễn đạt/tái hiện tri thức; quan sát mẫu; vận dụng có ý thức; vận dụng linh hoạt/sáng tạo). Chương này phân tích chi tiết đặc thù lao động của giáo viên mầm non với sự tích hợp vai trò "người Mẹ, người Thầy thuốc, người Nghệ sĩ, nhà Giáo dục" đối với trẻ từ 0 đến 6 tuổi. Tác giả xây dựng cấu trúc 4 nhóm kỹ năng thực hành nghề thành phần (lập kế hoạch; tổ chức thực hiện chăm sóc, giáo dục; quản lý lớp học; đánh giá), xác lập hệ thống 2 tiêu chí đánh giá (tính đúng đắn, tính thuần thục) và thang 5 mức độ biểu hiện. Đồng thời, chương 2 phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (nhận thức nghề, mục tiêu nghề nghiệp, kết quả học tập) và yếu tố khách quan (chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất, giáo viên hướng dẫn).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 mô tả quy trình tổ chức nghiên cứu trên các nhóm khách thể tại 3 cơ sở đào tạo (ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Sài Gòn, CĐ Sư phạm Trung ương TP.HCM) và các trường mầm non thực tập trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn 2015–2018. Tác giả trình bày cấu trúc các bảng hỏi, hệ thống thang đo ĐTB về nhận thức, thang đo biểu hiện theo tiêu chí đúng đắn, thuần thục, thang đo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, cùng quy trình triển khai 6 phương pháp nghiên cứu phối hợp và kỹ thuật xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 trình bày các phát hiện thực tiễn của đề tài:
- Thực trạng chung: Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non trên toàn mẫu đạt mức trung bình, khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu 1.
- Thực trạng 4 nhóm kỹ năng thành phần:
- Kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ: Sinh viên thực hiện ở mức trung bình; còn gặp lúng túng trong việc cụ thể hóa mục tiêu phù hợp với từng độ tuổi trẻ.
- Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ: Sinh viên thể hiện tương đối tốt các thao tác tập hợp và chia nhóm trẻ, nhưng gặp nhiều khó khăn trong thao tác chăm sóc vệ sinh, tổ chức bữa ăn và xử lý tình huống phát sinh.
- Kỹ năng quản lý lớp học: Đạt mức trung bình, sinh viên chưa bao quát hết hành vi của toàn bộ trẻ trong không gian lớp học.
- Kỹ năng đánh giá: Đạt mức trung bình, việc theo dõi và đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ còn thiếu tính hệ thống.
- So sánh đánh giá: Luận án chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa kết quả tự đánh giá của sinh viên với kết quả đánh giá từ giảng viên và giáo viên hướng dẫn thực tập.
- Phân hóa theo nhóm: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ kỹ năng giữa các nhóm sinh viên phân theo kết quả học lực và kết quả thực tập sư phạm.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả kiểm định tương quan chỉ ra mục tiêu nghề nghiệp, nhận thức về nghề (yếu tố chủ quan) cùng với chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và điều kiện cơ sở vật chất (yếu tố khách quan) có ảnh hưởng tương quan thuận đến mức độ kỹ năng của sinh viên.
- Kết quả thực nghiệm tác động: Triển khai biện pháp thay đổi phương pháp rèn luyện kỹ năng trong giờ học thực hành (tập trung vào nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, tổ chức vệ sinh, chia nhóm). Kết quả kiểm chứng cho thấy nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt về cả tính đúng đắn và tính thuần thục so với trước thực nghiệm và vượt trội hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non dưới góc độ chuyên ngành tâm lý học.
- Xác lập định nghĩa và nội hàm các khái niệm: kỹ năng, thực hành nghề, kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non.
- Xây dựng cấu trúc 4 nhóm kỹ năng thực hành nghề cốt lõi bám sát quy trình làm việc thực tế của giáo viên tại trường mầm non.
- Xác định hệ thống tiêu chí kép (tính đúng đắn và tính thuần thục) cùng thang đo 5 mức độ để đánh giá định lượng kỹ năng thực hành nghề.
- Phân loại và làm rõ cơ chế tác động của hệ thống các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng khách quan về mức độ kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại TP.HCM trên toàn mẫu và theo từng kỹ năng thành phần.
- Làm rõ sự khác biệt trong biểu hiện kỹ năng theo kết quả học tập, kết quả thực tập sư phạm, cũng như đối chiếu góc nhìn giữa sinh viên, giảng viên và giáo viên hướng dẫn.
- Chứng minh tính khả thi và hiệu quả thực tiễn của biện pháp tâm lý sư phạm thông qua đổi mới phương pháp hình thành – rèn luyện kỹ năng trong giờ học thực hành.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cơ sở đào tạo: Điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thời lượng rèn luyện thực hành, tích hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và kỹ năng thao tác; đầu tư phòng thực hành mô phỏng chuẩn môi trường mầm non.
- Đối với giảng viên và giáo viên hướng dẫn: Đổi mới phương pháp dạy học thực hành, thực hiện chuẩn hóa thao tác mẫu, hướng dẫn sinh viên quan sát và phân tích tình huống thực tế; tăng cường phối hợp giữa trường sư phạm và cơ sở thực tập.
- Đối với sinh viên sư phạm mầm non: Nâng cao nhận thức về đặc thù nghề nghiệp, xác định mục tiêu học tập rõ ràng, tích cực chủ động luyện tập các thao tác chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm nâng cao tính đúng đắn và thuần thục.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi: Luận án giới hạn khách thể khảo sát tại 3 cơ sở đào tạo giáo viên mầm non (ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Sài Gòn, CĐ Sư phạm Trung ương TP.HCM) và các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 9/2015 đến tháng 8/2018.
- Hạn chế về nội dung thực nghiệm: Quá trình thực nghiệm tác động tâm lý sư phạm tập trung chủ yếu vào nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa phương khác trên cả nước; nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển kỹ năng thực hành nghề của giáo viên mầm non trong giai đoạn đầu sau khi tốt nghiệp và chính thức tham gia thị trường lao động.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo hệ thống về cơ sở lý thuyết hoạt động - nhân cách ứng dụng trong đào tạo nghề, bộ công cụ bảng hỏi và thang đo tiêu chí kép (đúng đắn – thuần thục).
- Đối với các nhà quản lý giáo dục và ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Mầm non: Cung cấp căn cứ khoa học để rà soát chuẩn đầu ra, điều chỉnh cấu trúc phân bổ tín chỉ thực hành và nâng cao chất lượng công tác tổ chức thực tập sư phạm.
- Đối với giáo viên mầm non hướng dẫn và sinh viên ngành mầm non: Cung cấp quy trình 5 bước hình thành kỹ năng và các tiêu chuẩn thao tác cụ thể trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non.
Câu hỏi thường gặp
Kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non là cách thực hiện một cách đúng đắn, thuần thục những thao tác, hành động của hoạt động nghề, ở giai đoạn luyện tập thực hiện hoạt động lao động nghề của người học, sau khi đã được đào tạo lý thuyết cơ bản về nghề và trước khi bước vào hoạt động lao động nghề một cách chính thức trong xã hội, có sự giám sát, hỗ trợ của người hướng dẫn thuộc cơ sở đào tạo.
Luận án xác định kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non gồm những nhóm thành phần nào?
Cấu trúc kỹ năng thực hành nghề trong luận án gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần:
- Nhóm kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ.
- Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Nhóm kỹ năng quản lý lớp học.
- Nhóm kỹ năng đánh giá.
Thang đo đánh giá mức độ kỹ năng của luận án được xây dựng dựa trên tiêu chí nào?
Thang đo được xây dựng dựa trên sự kết hợp 2 tiêu chí cơ bản: tính đúng đắn (mức độ chính xác, không mắc lỗi) và tính thuần thục (mức độ thành thạo, tiết kiệm thời gian, không thao tác thừa). Dựa trên 2 tiêu chí này, kỹ năng được chia thành 5 mức độ: Mức độ 1 (Rất thấp), Mức độ 2 (Thấp), Mức độ 3 (Trung bình), Mức độ 4 (Cao), Mức độ 5 (Rất cao).
Những yếu tố nào ảnh hưởng rõ rệt nhất đến kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non?
Luận án xác định các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ gồm:
- Yếu tố chủ quan: Mục tiêu nghề nghiệp của sinh viên, nhận thức về nghề nghiệp và kết quả học lực.
- Yếu tố khách quan: Chương trình đào tạo của nhà trường, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất và sự hướng dẫn của giáo viên tại trường mầm non thực tập.
Biện pháp thực nghiệm tác động trong luận án mang lại kết quả gì?
Biện pháp thực nghiệm tác động thông qua việc thay đổi phương pháp hình thành – rèn luyện kỹ năng trong các giờ học thực hành (tập trung vào nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ) đã giúp sinh viên ở nhóm thực nghiệm nâng cao rõ rệt mức độ kỹ năng ở cả hai tiêu chí tính đúng đắn và tính thuần thục, đạt kết quả cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Nhi A đã hoàn thiện cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng kỹ năng thực hành nghề của sinh viên sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh theo 4 nhóm kỹ năng thành phần và 2 tiêu chí đúng đắn – thuần thục. Kết quả nghiên cứu khẳng định kỹ năng thực hành nghề của sinh viên hiện đạt mức trung bình và chịu sự chi phối chặt chẽ bởi cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Việc triển khai thành công thực nghiệm sư phạm đã chứng minh tính hiệu quả của biện pháp đổi mới phương pháp rèn luyện trong giờ thực hành, cung cấp cơ sở khoa học giá trị cho công tác đào tạo giáo viên mầm non.