Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non Chương 4: Kết quả nghiên cứu về kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG THỰC HÀNH NGHỀ CỦA SINH VIÊN NGÀNH SƢ PHẠM MẦM NON 1. Các nghiên cứu về kỹ năng Vấn đề kỹ năng từ lâu đã được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Sau khi lý thuyết về hoạt động của nhà tâm lý học nổi tiếng A. Leonchiev ra đời, các nghiên cứu về kỹ năng được khai thác ở mức độ sâu hơn, nhấn mạnh hơn đến những điều kiện hình thành, các giai đoạn phát triển.
Ngày nay, vấn đề kỹ năng vẫn được các nhà khoa học ở phương Tây lẫn phương Đông tiếp tục đào sâu nghiên cứu. Các nghiên cứu về kỹ năng có thể được phân chia thành các hướng như sau: Hướng xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạt động Khi đưa ra định nghĩa về kỹ năng, một số tác giả đã xem kỹ năng là sự vận dụng kỹ thuật hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu của hoạt động. Các tác giả tiêu biểu ở khuynh hướng này có thể kể đến như A.Rudic (1980) cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của từng thao tác.Gônôbôlin (1977), quan niệm: “Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động” [47].
Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.Chapin chủ biên (1971) định nghĩa kỹ năng là “Thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [75]. Cruchexki (1981): “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động – những cái mà con người đã nắm vững. Chỉ cần nắm vững phương thức thực hiện hoạt động là con người đã có kỹ năng [dẫn theo 15].A Rudich (1986), ông đề cao kết quả hành động của kỹ năng. Theo tác giả, ở mức độ kỹ năng thì các thao tác đã có, nhưng chưa hoàn thiện.
Chỉ khi chuyển sang mức độ kỹ xảo thì các thao tác mới thật sự hoàn thiện [dẫn theo 51]. Theodorson (1971), ban đầu kỹ năng chỉ là tập hợp các thao tác riêng lẻ, chưa hoàn thiện. Thông qua quá trình rèn luyện, chúng trở thành các hành động nhanh chóng, chính xác, sau đó trở thành kỹ xảo [82].Covaliop cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và điều kiện hành động” [54]. Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong quyển “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có kỹ năng” Còn theo tác giả Lã Văn Mến, khi nghiên cứu về kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của SV Cao đẳng Sư phạm Nam Định, cho rằng “Kỹ năng là sự thực hiện hợp lý và có kết quả ổn định một hành động với những điều kiện xác định” [63].
Tóm lại, các tác giả nêu trên đã rất chú ý và nhấn mạnh đến biểu hiện kỹ thuật của kỹ năng. Các nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu kỹ năng theo hướng quan sát và đánh giá các thao tác cụ thể. Điều này có nghĩa là, kỹ năng được xác định dựa trên việc thực hiện các nhiệm vụ có đúng với qui chuẩn hành động, đảm bảo thứ tự của các thao tác, sự liên kết giữa các thao tác có chặt chẽ và thuần thục hay không. Như vậy, hướng nghiên cứu này không quan tâm đến mối tương quan giữa kỹ năng và quá trình tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm trước đó hoặc với trạng thái cảm xúc, thái độ của chủ thể trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hoạt động.
Đồng thời, hướng nghiên cứu trên cũng chưa cho thấy việc thừa nhận kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con người; đó chỉ đơn thuần là việc thực hiện các chuỗi thao tác được yêu cầu và kỹ năng được hình thành là kết quả của quá trình lặp đi lặp lại 1 chuỗi thao tác quen thuộc. 8 Hướng cho rằng kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người Ở khuynh hướng nghiên cứu này, các tác giả cho rằng, kỹ năng là một dạng năng lực; năng lực này cho phép con người thực hiện một công việc có kết quả trong những điều kiện và thời gian nhất định. Chính vì kỹ năng được định vị là một dạng năng lực nên sẽ có sự khác nhau giữa các chủ thể thực hiện hành động dù cùng lúc chịu tác động của những điều kiện như nhau. Một số tác giả tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này là N.
Trong nghiên cứu của mình, N.Lêvitôv cho rằng kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định [33]. Vẫn là ở khuynh hướng nghiên cứu này, nhưng theo một cách khác đi, tác giả X. Kỹ năng nguyên sinh được hình thành ở giai đoạn đầu bằng việc thực hiện các hành động đơn giản, sao chép nguyên si và là cơ sở để hình thành kỹ xảo. Kỹ năng thứ sinh là kỹ năng được hình thành ở giai đoạn hai, sau khi trải qua giai đoạn một cùng với sự ứng dụng các tri thức được cung cấp, hoạt động lúc này được thực hiện một cách nhanh chóng, đúng đắn và hiệu quả hơn [dẫn theo 31].
Cùng hướng nghiên cứu xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực, tác giả V.Tsưbưsêva (1973) đã nhấn mạnh đến tính tích cực của người học trong quá trình hình thành kỹ năng. Ông khẳng định: Các quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu, thì kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy nhiêu. Ông cho rằng: khi huấn luyện, nếu giảm dần vai trò của nhà giáo dục để người học tự làm lấy thì kỹ năng sẽ hình thành nhanh chóng và ổn định hơn. Điều này có nghĩa là, chính tính chủ động, tích cực của người học mới là yếu tố mang tính thúc đẩy và có giá trị đối với việc hình thành kỹ năng; hay nói cách khác, kỹ năng chính là một kết quả trực tiếp của nỗ lực ý chí và sự sẵn sàng về tâm thế khi chủ thể tiếp nhận các hướng dẫn để hoàn thành nhiệm vụ.
[70] Ở các nghiên cứu của mình về kỹ năng, K.Platonop (1974) nhấn mạnh về kết quả của hành động: “Kỹ năng là năng lực của con người thực hiện công việc có 9 kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau. Kỹ năng bao hàm cả tri thức và kỹ xảo và được hình thành trên cơ sở của chúng. Cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức hành động” [46, tr. Đặc biệt hơn, khi nói đến mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo, tác giả còn khẳng định: Không có tri thức và kỹ xảo thì sẽ không có kỹ năng.
Như vậy, khi nghiên cứu về kỹ năng, tác giả đặc biệt chú trọng đến quá trình cung cấp kiến thức để thực hiện kỹ năng đó và kết quả chuyển hóa kiến thức thành tri thức của riêng chủ thể tâm lý; vốn tri thức này kết hợp với việc thấu hiểu mục đích của hành động thì sẽ dẫn đến việc thực hiện, hình thành kỹ năng. Hai nhà nghiên cứu K.Golubev (1974), cũng cho rằng: kỹ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian tương ứng. Đồng thời, “kỹ năng luôn được nhận thức. Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [46].
Theo từ điển Tâm lý học, kỹ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng. Kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [17]. Tựu chung lại, theo những quan điểm trên, kỹ năng là năng lực vận dụng tri thức nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ.
Nói một cách khác, kỹ năng được hình thành trên cơ sở chủ thể hiểu về vấn đề, nhận diện được các mục tiêu cần đạt được của hành động. Kỹ năng lúc này là những biểu hiện bên ngoài, là kết quả của quá trình nhận thức, là khả năng mà chủ thể tâm lý chuyển hóa từ lý thuyết sang hành động cụ thể để giải quyết vấn đề. Ở hướng nghiên cứu này, ta thấy các tác giả đã khai thác đầy đủ hơn về kỹ năng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là hai hướng nghiên cứu đã có những kết luận phủ định nhau khi cùng trình bày về một vấn đề; chỉ đơn giản đó là sự tiếp cận nội dung nghiên cứu theo những chiều kích khác nhau.
10 Hướng cho rằng kỹ năng là hành vi ứng xử của cá nhân Đây là cách tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu chú ý trong khoảng 30 năm trở lại đây. Quan điểm này xem kỹ năng không chỉ là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là thái độ, giá trị của cá nhân đối với hoạt động. Chẳng hạn như S.Sheator (1978) đã nhấn mạnh vai trò của thái độ, niềm tin cá nhân trong kỹ năng. [dẫn theo 27] Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng trong việc liên kết tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động với các giá trị thái độ, chuẩn mực, động cơ hoạt động cá nhân.
Kỹ năng khi thể hiện phải tuân theo những quy tắc ứng xử nhất định trong nghề nghiệp, cuộc sống. Tuy cách tiếp cận này có toàn diện hơn nhưng lại thiếu quan tâm đến mặt kỹ thuật của hành động, vì vậy nó sẽ tạo khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng và thiết kế công cụ đo lường đánh giá chung.