Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non giữ vai trò là nấc thang khởi đầu, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách trẻ em về các mặt thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ. Bên cạnh các hoạt động học tập có chủ đích, việc hình thành và phát triển kĩ năng hoạt động nhóm (teamwork) từ lứa tuổi mầm non là điều kiện quan trọng giúp trẻ rèn luyện tính tự lập, sự tự tin và khả năng thích ứng với các hình thức học tập đa dạng ở các cấp học tiếp theo. Ở giai đoạn 4–5 tuổi (lớp mẫu giáo nhỡ), trẻ bước đầu hình thành các kĩ năng phối hợp cơ bản như thỏa thuận chủ đề chơi, phân vai, chia sẻ đồ chơi và hỗ trợ bạn bè cùng hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, các kĩ năng này ở trẻ chưa thực sự đầy đủ và bền vững; một bộ phận không nhỏ trẻ vẫn còn e dè, thụ động hoặc thiếu kĩ năng hợp tác.

Thực tiễn chăm sóc, giáo dục tại các trường mầm non cho thấy việc rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ vẫn còn nhiều bất cập. Các hình thức tổ chức hoạt động vui chơi còn mang nặng tính hình thức, mang tính phân công áp đặt một chiều từ phía giáo viên, chưa tuân thủ đúng bản chất của hoạt động nhóm tự nguyện. Phương pháp dạy học truyền thống "cô nói, trẻ nghe" hoặc lạm dụng trình chiếu màn hình làm hạn chế sự tương tác trực tiếp giữa trẻ với trẻ. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Nguyễn Thị Thu Phương thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4-5 tuổi thông qua tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng, đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng cho trẻ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi.
    2. Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi trên địa bàn khảo sát.
    3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi ở trường mầm non.
  • Giả thuyết khoa học: Việc giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi bước đầu đạt một số kết quả nhưng còn hạn chế; nếu xác định đúng thực trạng và đề xuất được hệ thống biện pháp giáo dục phù hợp thông qua hoạt động vui chơi thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động này ở trường mầm non.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trên 40 cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và 20 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi tại 4 cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa: Trường Mầm non Thực hành, Trường Mầm non Đông Hải, Trường Mầm non Trường Thi B và Trường Mầm non Thị trấn Quảng Xương; thời điểm hoàn thành vào tháng 6 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ khoa học dựa trên các quan điểm tâm lý học và giáo dục học mầm non trong nước và quốc tế:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Kĩ năng: Tác giả tiếp cận từ định nghĩa Từ điển tiếng Việt (khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn), quan điểm coi kĩ năng là năng lực hành động có kết quả của E. Golubev, và định nghĩa của Đặng Thành Hưng (kĩ năng là hành động được thực hiện tự giác, thành công theo tiêu chuẩn nhất định). Từ đó, đề tài xác định: Kĩ năng là năng lực thực hiện một cách hiệu quả một hành động, công việc nhằm đạt được mục đích đề ra.
    • Hoạt động nhóm và kĩ năng hoạt động nhóm: Kế thừa quan điểm của R. Cousinet, Slavin (1987) và D. Johnson về học tập hợp tác, đề tài xác định kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 4–5 tuổi là năng lực phối hợp của trẻ với các bạn trong nhóm để thực hiện nhiệm vụ chung. Cấu trúc kĩ năng bao gồm 4 nhóm: Kĩ năng hình thành/phối hợp nhóm chơi; Kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của nhóm chơi; Kĩ năng giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong nhóm chơi; Kĩ năng hoàn thiện nhóm chơi.
    • Hoạt động vui chơi và "xã hội trẻ em": Khai thác lý thuyết của Maria Montessori (chơi là "công việc" của trẻ) và lý luận của A. P. Uxôva về việc hình thành "xã hội trẻ em" trong trò chơi phân vai theo chủ đề – môi trường đầu tiên giúp trẻ học cách sống, hợp tác và tuân thủ chuẩn mực tập thể. Tác giả cũng liên hệ quy tắc giao tiếp nhóm Hourensou trong văn hóa làm việc của Nhật Bản.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, giáo trình tâm lý học phát triển và chương trình giáo dục mầm non để thiết lập khung khái niệm.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng phiếu khảo sát gồm 10 câu hỏi gửi tới 40 giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy lứa tuổi 4–5 tuổi tại 4 trường khảo sát.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát trực tiếp các hoạt động vui chơi có chủ đích và tự do của giáo viên, theo dõi biểu hiện hành vi và kĩ năng nhóm của 20 trẻ 4–5 tuổi.
    • Phương pháp phỏng vấn: Đàm thoại sâu với cán bộ quản lý, giáo viên và trao đổi tự nhiên với trẻ về các tình huống phối hợp khi chơi.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng số liệu thu thập qua các tham số tỷ lệ phần trăm (%) và giá trị trung bình ($\bar{X}$) nhằm đánh giá mức độ nhận thức, tần suất sử dụng phương pháp và mức độ khó khăn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non

Chương 1 hệ thống hóa tổng quan nghiên cứu về hoạt động nhóm và giáo dục kĩ năng nhóm trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các đặc điểm nhận thức đặc thù của lứa tuổi 4–5 tuổi: tư duy trực quan hình tượng phát triển, bắt đầu hiểu và đếm số lượng từ 1 đến 10, phân biệt hình khối, màu sắc, nắm bắt được các quan hệ không gian - thời gian đơn giản, có khả năng thực hiện mệnh lệnh liên hoàn dưới 3 ý và thể hiện mong muốn khám phá qua các câu hỏi "Tại sao?", "Để làm gì?".

Về bản chất hoạt động vui chơi, chương này khẳng định chơi là hoạt động chủ đạo của tuổi mẫu giáo với 5 đặc điểm cơ bản: tính tự do, tính tự lực (tự điều khiển), tính giàu cảm xúc, tính sáng tạo (ký hiệu - tượng trưng) và tính phản ánh môi trường xã hội. Hoạt động vui chơi tạo cơ hội tối ưu để hình thành "xã hội trẻ em", giúp trẻ học cách lắng nghe, kiềm chế tính ích kỷ, giải quyết xung đột và chia sẻ vai chơi. Chương 1 cũng phân tích 3 nhóm yếu tố chi phối quá trình giáo dục kĩ năng nhóm gồm: khả năng tâm sinh lý của trẻ, năng lực sư phạm của giáo viên và môi trường giáo dục (cả môi trường vật chất và môi trường tâm lý an toàn, tôn trọng).

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non

Chương 2 trình bày chi tiết kết quả khảo sát thực trạng tại 4 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với mẫu nghiên cứu gồm 40 giáo viên (58,4% trình độ Cao đẳng, 31,6% trình độ Đại học, 10% trình độ Trung cấp; thâm niên công tác: 36,6% từ 5–10 năm, 28,4% từ 1–5 năm, 26,6% từ 10–15 năm, 8,4% từ 15–20 năm) và 20 trẻ 4–5 tuổi. Các số liệu được tổng hợp qua 7 bảng thống kê cụ thể:

Bảng 2.1: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng HĐN thông qua HĐVC (N=40)

Mức độ đánh giá Số lượng giáo viên Tỉ lệ (%)
Rất quan trọng 38 95,2%
Quan trọng 2 4,7%
Không quan trọng 0 0%

Bảng 2.2: Đánh giá của giáo viên về nội dung giáo dục kĩ năng HĐN cho trẻ 4–5 tuổi

STT Nội dung giáo dục Số giáo viên lựa chọn Tỉ lệ (%)
1 Hoạt động vui chơi 20 50,0%
2 Hoạt động học tập 15 37,5%
3 Hoạt động tham quan 5 12,5%

Bảng 2.3: Các biện pháp giáo viên mầm non đã sử dụng trong thực tế

STT Các biện pháp sư phạm Số giáo viên lựa chọn Tỉ lệ (%)
1 Giáo dục trẻ biết hợp tác, đoàn kết với bạn 15 37,5%
2 Giáo dục trẻ biết chia sẻ và giúp đỡ các bạn trong nhóm 11 27,5%
3 Dạy trẻ biết tôn trọng các bạn trong nhóm 6 15,0%
4 Rèn cho trẻ tính chủ động, sáng tạo 5 12,5%
5 Dạy trẻ biết tự lập 3 7,5%

Bảng 2.4: Những khó khăn thường gặp từ phía trẻ và môi trường tác động

STT Khó khăn xuất phát từ các yếu tố Số giáo viên lựa chọn Tỉ lệ (%)
1 Yếu tố gia đình (tư tưởng cá nhân, phụ huynh là nông dân/công nhân khó phối hợp) 20 47,6%
2 Nhận thức của trẻ 9 23,8%
3 Kĩ năng giao tiếp, tương tác của trẻ 6 16,7%
4 Môi trường hoạt động 2 4,8%
5 Sự quan tâm của xã hội 3 7,1%

Bảng 2.5: Mức độ sử dụng các loại hình hoạt động để giáo dục kĩ năng HĐN (N=40)

Hoạt động giáo dục Luôn luôn (%) Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (%)
Hoạt động vui chơi 59,5% (25 GV) 32,5% (13 GV) 4,8% (2 GV) 0% (0 GV)
Hoạt động học tập 35,7% (15 GV) 47,6% (20 GV) 12,5% (5 GV) 0% (0 GV)
Hoạt động tham quan 11,9% (5 GV) 22,5% (9 GV) 35,7% (15 GV) 28,6% (12 GV)

Bảng 2.6: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học để giáo dục kĩ năng HĐN

STT Phương pháp dạy học Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (%)
1 Thảo luận nhóm 59,5% (25 GV) 23,8% (10 GV) 16,7% (7 GV)
2 Đàm thoại 42,9% (18 GV) 38,1% (16 GV) 19,0% (8 GV)
3 Thuyết trình 35,7% (15 GV) 35,7% (15 GV) 28,6% (12 GV)
4 Thực hành trải nghiệm 23,8% (10 GV) 42,9% (18 GV) 33,3% (14 GV)

Bảng 2.7: Những khó khăn giáo viên trực tiếp đối mặt khi tổ chức giáo dục kĩ năng HĐN

STT Khó khăn cụ thể của giáo viên Số giáo viên lựa chọn Tỉ lệ (%)
1 Thời gian dành cho các hoạt động chơi quá ngắn 10 23,9%
2 Trẻ nghịch và không nghe lời (cái "tôi" cá nhân cao) 9 21,4%
3 Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi chưa đầy đủ 6 14,2%
4 Nhà trường và phụ huynh chưa thực sự quan tâm 6 14,2%
5 Không gian lớp học chật hẹp 5 12,5%
6 Sĩ số trẻ trong một lớp quá đông 4 9,5%

Từ số liệu thực trạng, tác giả rút ra kết luận: Đa số giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng nhóm qua vui chơi nhưng quá trình tổ chức chưa đạt hiệu quả cao. Giáo án chủ yếu tập trung truyền thụ kiến thức một chiều từ cô sang trẻ; phương pháp trải nghiệm thực hành chưa được chú trọng đúng mức (33,3% không bao giờ dùng); việc tổ chức chơi còn mang tính áp đặt, chưa lấy trẻ làm trung tâm.

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non thông qua hoạt động vui chơi

Để khắc phục các hạn chế trên, tác giả xác định 4 nguyên tắc sư phạm chỉ đạo việc xây dựng biện pháp:

  1. Đảm bảo tính khoa học: Biện pháp phù hợp với quy luật nhận thức và đặc điểm phát triển tâm sinh lý lứa tuổi 4–5 tuổi; đảm bảo tính chính xác và nhất quán giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp.
  2. Đảm bảo tính giáo dục: Hướng tới sự phát triển toàn diện nhân cách, kết hợp hài hòa giữa dạy học và giáo dục đạo đức, tình cảm tập thể.
  3. Đảm bảo tính hiệu quả: Biện pháp có tính khả thi, gắn liền với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất của nhà trường và địa phương.
  4. Đảm bảo tính phát triển: Thúc đẩy đồng thời các lĩnh vực phát triển nhận thức, ngôn ngữ, thể chất và kĩ năng xã hội; khuyến khích tính chủ động, tự tạo đồ chơi của trẻ.

Hệ thống 4 biện pháp cụ thể được tác giả đề xuất gồm:

  • Biện pháp 1: Đánh giá mức độ tiếp thu của trẻ: Giáo viên tiến hành quan sát tự nhiên có chủ đích tại các góc chơi nhằm xác định mức độ nhận thức, khả năng lắng nghe và kĩ năng nhóm hiện có của từng trẻ; sử dụng phiếu quan sát và công cụ đánh giá khách quan làm căn cứ điều chỉnh kế hoạch giáo dục.
  • Biện pháp 2: Hình thành kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ bằng các hoạt động vui chơi: Tích hợp yêu cầu hợp tác vào nội dung trò chơi, thiết kế tình huống đòi hỏi trẻ phải phối hợp mới hoàn thành nhiệm vụ. Giáo viên kiên nhẫn, quy hoạch môi trường các góc chơi hấp dẫn, đa dạng học liệu để thu hút trẻ tham gia.
  • Biện pháp 3: Giáo dục trẻ kĩ năng hợp tác, đoàn kết với bạn: Sử dụng các bài thơ, câu chuyện, bài hát để gây hứng thú; khích lệ trẻ bộc lộ suy nghĩ, biết lắng nghe ý kiến bạn bè và kịp thời can thiệp, hướng dẫn trẻ tự điều chỉnh hành vi khi xảy ra xung đột.
  • Biện pháp 4: Giúp trẻ biết thỏa thuận, thương lượng với thành viên trong nhóm khi tham gia hoạt động vui chơi: Hướng dẫn trẻ cách phân chia vai chơi, tự bầu nhóm trưởng, nhường nhịn đồ chơi và phối hợp hành động theo luật chơi chung.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Phân tích và làm rõ thực trạng nhận thức cùng kỹ năng tổ chức của 40 giáo viên mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa: 95,2% giáo viên đánh giá việc giáo dục kĩ năng nhóm qua trò chơi là rất quan trọng, 50% xem vui chơi là phương thức tối ưu nhất.
  • Xác định rõ các điểm nghẽn thực tiễn: 47,6% giáo viên gặp trở ngại từ sự thiếu phối hợp của gia đình; 23,9% gặp khó khăn do thời lượng chơi bị hạn chế; 21,4% khó khăn vì trẻ chưa biết kiềm chế cái tôi cá nhân; các phương pháp thực hành trải nghiệm chưa được sử dụng đồng đều (chỉ 23,8% dùng thường xuyên).
  • Xây dựng hệ thống 4 nguyên tắc sư phạm và 4 biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi có tính hệ thống, tập trung vào việc tạo môi trường kích thích hợp tác và phát triển kĩ năng thương lượng cho trẻ mẫu giáo nhỡ.

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt lí luận: Góp phần bổ sung và cụ thể hóa cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi thông qua phương tiện đặc thù là hoạt động vui chơi ở trường mầm non.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực về việc tổ chức hoạt động nhóm tại 4 trường mầm non tỉnh Thanh Hóa; đề xuất các giải pháp sư phạm rõ ràng về quy trình, điều kiện thực hiện, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non trong việc thiết kế và tổ chức các góc chơi, trò chơi tập thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khảo sát thực trạng được thực hiện trên phạm vi không gian gồm 4 trường mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa với quy mô mẫu 40 giáo viên và 20 trẻ, do đó khả năng khái quát hóa số liệu cho toàn bộ các khu vực địa lý khác còn có những giới hạn nhất định.
    • Khóa luận mới dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp lí thuyết, chưa có điều kiện triển khai thực nghiệm sư phạm đối chứng diện rộng để đo lường định lượng mức độ tiến bộ của trẻ sau khi áp dụng các biện pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Triển khai thực nghiệm sư phạm có đối chứng trên nhiều nhóm lớp 4–5 tuổi để kiểm chứng mức độ chuyển biến của các chỉ số kĩ năng thành phần (kĩ năng phối hợp, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng).
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các độ tuổi khác (trẻ 3–4 tuổi hoặc 5–6 tuổi) và nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kĩ năng nhóm cho trẻ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với các đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp nguồn tham khảo hoàn chỉnh về phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non, cách xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng, cách phân tích số liệu thống kê và cấu trúc đề xuất giải pháp sư phạm.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp (đặc biệt là khối mẫu giáo nhỡ 4–5 tuổi): Tham khảo các chỉ dẫn cụ thể trong 4 biện pháp sư phạm ở Chương 3 nhằm tổ chức môi trường lớp học, lựa chọn trò chơi đóng vai theo chủ đề, sắp xếp đồ dùng góc chơi và xử lý các tình huống trẻ tranh giành đồ chơi hoặc không hợp tác.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Sử dụng dữ liệu thực trạng tại Chương 2 để nhận diện những điểm nghẽn trong phương pháp giảng dạy hiện nay của giáo viên (như việc lạm dụng trình chiếu thụ động, thiếu thời gian cho trẻ trải nghiệm), từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 4–5 tuổi thành những nhóm kĩ năng thành phần nào?
Theo đề tài, kĩ năng hoạt động nhóm của trẻ 4–5 tuổi bao gồm 4 nhóm kĩ năng thành phần: (1) Kĩ năng phối hợp/hình thành nhóm chơi (chủ động tham gia, thỏa thuận chủ đề, phân vai); (2) Kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của nhóm chơi (thực hiện các thao tác, hành động chơi cụ thể); (3) Kĩ năng giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong nhóm chơi (nhận biết mâu thuẫn, tìm cách giải quyết hoặc tìm sự hỗ trợ); (4) Kĩ năng hoàn thiện/phát triển nhóm chơi (hành động theo quy tắc chung, kiềm chế cảm xúc, kiểm tra kết quả chơi).

2. Mẫu khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành tại đâu và có quy mô như thế nào?
Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 4 trường mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa (MN Thực hành, MN Đông Hải, MN Trường Thi B, MN Thị trấn Quảng Xương) với tổng số 40 cán bộ quản lý, giáo viên mầm non (trong đó 58,4% đạt trình độ Cao đẳng, 31,6% Đại học, 10% Trung cấp) và tiến hành quan sát trực tiếp trên 20 trẻ mẫu giáo 4–5 tuổi.

3. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên gặp phải khi giáo dục kĩ năng nhóm cho trẻ qua hoạt động vui chơi là gì?
Theo kết quả khảo sát Bảng 2.7, khó khăn lớn nhất từ phía giáo viên là quỹ thời gian dành cho các hoạt động chơi quá ngắn (23,9% giáo viên lựa chọn), tiếp theo là vấn đề trẻ nghịch ngợm, chưa nghe lời do cái "tôi" cá nhân mới hình thành (21,4%), cơ sở vật chất chưa đầy đủ (14,2%) và sự phối hợp của phụ huynh còn hạn chế (14,2%).

4. Tác giả đã đề xuất bao nhiêu biện pháp giáo dục và dựa trên những nguyên tắc nào?
Tác giả đề xuất 4 biện pháp giáo dục cụ thể (Đánh giá mức độ tiếp thu của trẻ; Hình thành kĩ năng HĐN bằng các HĐVC; Giáo dục trẻ kĩ năng hợp tác, đoàn kết; Giúp trẻ biết thỏa thuận, thương lượng khi chơi). Hệ thống biện pháp này được xây dựng dựa trên 4 nguyên tắc: Đảm bảo tính khoa học, Đảm bảo tính giáo dục, Đảm bảo tính hiệu quả và Đảm bảo tính phát triển.

5. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của môi trường tâm lý trong lớp học mầm non như thế nào?
Đề tài khẳng định môi trường tâm lý an toàn, ấm cúng và tin cậy là điều kiện tiên quyết giúp trẻ tự tin bộc lộ cảm xúc và hợp tác với bạn. Giáo viên cần lắng nghe, tôn trọng ý kiến cá nhân của trẻ, không hù dọa hay áp đặt, kiên nhẫn khích lệ bằng các câu nói động viên ("Con sắp làm được rồi", "Không sao đâu"), từ đó giúp trẻ gạt bỏ tâm lý e ngại để hòa nhập cùng nhóm bạn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương đã giải quyết một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 4–5 tuổi thông qua hoạt động vui chơi. Bằng việc phân tích thực trạng tại 4 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đề tài đã chỉ rõ những hạn chế trong nhận thức và phương pháp tổ chức hoạt động nhóm hiện nay của giáo viên. Hệ thống 4 nguyên tắc và 4 biện pháp sư phạm được đề xuất có tính khoa học, thiết thực, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo nhỡ trong các trường mầm non.