Luận Án Về Giáo Dục Kỹ Năng Học Đường Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1

Luận án khám phá giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ em chuẩn bị vào lớp 1, giúp phát triển toàn diện và tự tin trong môi trường học tập mới.

Chuyên ngành

Giáo Dục Đặc Biệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
200
13
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ TỰ KỈ CHUẨN BỊ VÀO LỚP 1

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Những nghiên cứu về trẻ tự kỉ và Giáo dục trẻ tự kỉ

1.3. Những nghiên cứu về kĩ năng học đường và giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ

1.4. Trẻ tự kỉ

1.4.1. Tiêu chí chẩn đoán

1.4.2. Phân loại trẻ tự kỉ

1.4.3. Đặc điểm của trẻ tự kỉ

1.5. Giáo dục hòa nhập và lớp tiền hòa nhập

1.5.1. Giáo dục hòa nhập

1.5.2. Lớp tiền hòa nhập

1.6. Kĩ năng học đường

1.6.1. Phân loại các kĩ năng học đường

1.6.2. Đặc điểm kĩ năng học đường của trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

1.7. Giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

1.7.1. Ý nghĩa của giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ

1.7.2. Mục tiêu giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

1.7.3. Nội dung giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

1.7.4. Biện pháp giáo dục kĩ năng học đường

1.7.5. Đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng học đường

1.7.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

1.7.6.1. Những điểm mạnh và hạn chế từ bản thân trẻ tự kỉ
1.7.6.2. Năng lực chuyên môn và lòng yêu nghề của Giáo viên
1.7.6.3. Khả năng hỗ trợ và phối hợp từ phía gia đình trẻ tự kỉ
1.7.6.4. Sự hỗ trợ từ bạn bè
1.7.6.5. Môi trường lớp học

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ TỰ KỈ CHUẨN BỊ VÀO LỚP 1

2.1. Giới thiệu khái quát về quá trình khảo sát

2.2. Mục đích khảo sát

2.3. Nội dung khảo sát

2.4. Bộ công cụ khảo sát

2.5. Địa bàn, khách thể và thời gian khảo sát

2.6. Kết quả khảo sát

2.7. Thực trạng kĩ năng học đường của trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

2.8. Thực trạng giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

2.9. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

2.10. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ TỰ KỈ CHUẨN BỊ VÀO LỚP 1 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp

3.1.1. Đảm bảo phù hợp mục tiêu giáo dục mầm non

3.1.2. Đảm bảo tính cá biệt hóa

3.1.3. Kết hợp phương pháp giáo dục trẻ em nói chung với các phương pháp chuyên biệt dành cho trẻ tự kỉ

3.2. Biện pháp giáo dục kĩ năng học đường cho trẻ tự kỉ chuẩn bị vào lớp 1

3.2.1. Nhóm 1: Chuẩn bị các điều kiện tổ chức giáo dục kĩ năng học đường

3.2.2. Nhóm 2: Tổ chức giáo dục kĩ năng học đường

3.2.3. Nhóm 3: Đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng học đường và lên kế hoạch chuyển tiếp

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp, điều kiện thực hiện và một số lưu ý

3.3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.3.2. Điều kiện thực hiện

3.4. Thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Mục đích thực nghiệm

3.4.2. Nội dung thực nghiệm

3.4.3. Tổ chức thực nghiệm

3.4.4. Kết quả thực nghiệm

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lí luận của giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ chuẩn bị vào lớp 1

Giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong giáo dục đặc biệt. Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong giao tiếp và tương tác xã hội, điều này ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập vào môi trường học đường. Việc giáo dục kỹ năng học đường không chỉ giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng tự phục vụ mà còn tạo điều kiện cho trẻ thích nghi với môi trường lớp học. Theo các nghiên cứu, việc phát triển kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ cần được thực hiện từ giai đoạn mầm non, nhằm giúp trẻ chuẩn bị tốt hơn cho việc vào lớp 1. Các phương pháp giáo dục hiện nay cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm của trẻ tự kỷ, bao gồm việc sử dụng các hoạt động vui chơi, trò chơi có luật và các phương pháp giáo dục cá biệt hóa. "Giáo dục hòa nhập không chỉ là việc đưa trẻ vào lớp học mà còn là việc tạo ra môi trường thân thiện, giúp trẻ tự kỷ phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết".

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về trẻ tự kỷ và giáo dục kỹ năng học đường đã được tiến hành từ nhiều thập kỷ qua. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ tự kỷ cần được giáo dục kỹ năng học đường từ sớm để có thể hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập. Việc giáo dục kỹ năng học đường giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng giao tiếp, tương tác xã hội và tuân thủ quy định trong lớp học. "Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ cho thấy rằng, nếu trẻ được giáo dục đúng cách, khả năng hòa nhập của trẻ vào môi trường học đường sẽ cao hơn". Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ chuẩn bị vào lớp 1.

1.2. Giáo dục hòa nhập và lớp tiền hòa nhập

Giáo dục hòa nhập là một phương pháp giáo dục đặc biệt dành cho trẻ khuyết tật, trong đó có trẻ tự kỷ. Mục tiêu của giáo dục hòa nhập là tạo ra một môi trường học tập thân thiện, nơi trẻ có thể phát triển kỹ năng xã hội và học tập như những trẻ em khác. Lớp tiền hòa nhập đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho trẻ tự kỷ vào lớp 1. "Lớp tiền hòa nhập không chỉ giúp trẻ làm quen với môi trường học đường mà còn tạo điều kiện cho trẻ phát triển các kỹ năng cần thiết để hòa nhập vào lớp học chính thức". Điều này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng các lớp học tiền hòa nhập cho trẻ tự kỷ.

1.3. Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ

Giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ không chỉ giúp trẻ phát triển khả năng tự phục vụ mà còn tạo ra cơ hội cho trẻ hòa nhập vào xã hội. Việc giáo dục kỹ năng học đường có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ tự kỷ. "Một khi trẻ tự kỷ được trang bị đầy đủ kỹ năng học đường, khả năng hòa nhập và tương tác xã hội của trẻ sẽ được cải thiện đáng kể". Điều này khẳng định rằng giáo dục kỹ năng học đường là một yếu tố quyết định trong việc giúp trẻ tự kỷ có một khởi đầu thuận lợi khi vào lớp 1.

II. Thực trạng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ chuẩn bị vào lớp 1

Thực trạng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù có nhiều cơ sở giáo dục chuyên biệt mở ra, nhưng chất lượng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Các giáo viên thường thiếu kinh nghiệm và kiến thức về giáo dục trẻ tự kỷ, dẫn đến việc áp dụng các phương pháp giáo dục chưa phù hợp. "Nhiều giáo viên vẫn còn bỡ ngỡ trong việc giáo dục trẻ tự kỷ, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hòa nhập của trẻ vào lớp 1". Thực trạng này đòi hỏi cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ.

2.1. Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng học đường

Kết quả khảo sát cho thấy rằng hầu hết trẻ tự kỷ chuẩn bị vào lớp 1 đều gặp khó khăn trong việc phát triển kỹ năng học đường. Các giáo viên và phụ huynh đều nhận thấy rằng trẻ cần được hỗ trợ nhiều hơn trong việc phát triển các kỹ năng như giao tiếp, tương tác xã hội và tuân thủ quy định lớp học. "Thực trạng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ hiện nay cho thấy cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để hỗ trợ trẻ tốt nhất". Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa giáo dục gia đình và giáo dục trường học trong việc phát triển kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ.

2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng học đường

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ, bao gồm sự hỗ trợ từ gia đình, môi trường lớp học và năng lực của giáo viên. Sự phối hợp giữa các bên liên quan là rất quan trọng để đảm bảo trẻ nhận được sự hỗ trợ đầy đủ. "Nếu không có sự hỗ trợ từ gia đình và nhà trường, trẻ tự kỷ sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển kỹ năng học đường". Điều này cho thấy cần phải xây dựng một hệ thống hỗ trợ toàn diện cho trẻ tự kỷ chuẩn bị vào lớp 1.

III. Biện pháp giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ

Để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ, cần áp dụng các biện pháp giáo dục phù hợp. Các biện pháp này không chỉ tập trung vào việc phát triển kỹ năng học đường mà còn tạo ra môi trường học tập thân thiện, giúp trẻ tự kỷ cảm thấy an toàn và thoải mái. "Việc áp dụng các phương pháp giáo dục đa dạng, bao gồm trò chơi, hoạt động nhóm và các hoạt động tương tác sẽ giúp trẻ tự kỷ phát triển kỹ năng học đường hiệu quả hơn". Những biện pháp này cần được thực hiện đồng bộ và liên tục để đảm bảo trẻ tự kỷ có thể hòa nhập tốt khi vào lớp 1.

3.1. Các phương pháp giáo dục hiệu quả

Các phương pháp giáo dục hiệu quả cho trẻ tự kỷ bao gồm việc sử dụng các hoạt động vui chơi, trò chơi có luật và các hoạt động tương tác. Những phương pháp này giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng giao tiếp và tương tác xã hội. "Việc áp dụng các phương pháp giáo dục đa dạng sẽ tạo điều kiện cho trẻ tự kỷ phát triển một cách toàn diện". Điều này khẳng định rằng giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ cần được thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo.

3.2. Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng học đường

Đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ là một bước quan trọng để xác định hiệu quả của các biện pháp giáo dục đã áp dụng. Việc đánh giá cần được thực hiện thường xuyên và liên tục để điều chỉnh các phương pháp giáo dục cho phù hợp. "Đánh giá kết quả giáo dục sẽ giúp phát hiện những khó khăn mà trẻ tự kỷ gặp phải, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời". Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc đánh giá trong quá trình giáo dục kỹ năng học đường cho trẻ tự kỷ.

23/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỌC ĐƯỜNG CHO TRẺ TỰ KỈ CHUẨN BỊ VÀO LỚP 1 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về TTK và giáo dục TTK Trên thế giới, “tự kỉ” đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối thế kỉ XIX, nhưng mãi cho đến năm 1943, nhà tâm thần học người Mỹ, Leo Kanner mới đưa ra lập luận rõ ràng về tự kỷ - là một rối loạn tâm thần học ở lứa tuổi nhỏ [72]. Khái niệm tự kỉ đã có sự thay đổi so với ban đầu.

Chúng ta có thể thấy rõ nét những thay đổi về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chẩn đoán tự kỉ trong lịch sử phát triển của hai hệ thống phân loại quốc tế. Đó là, Bảng thống kê, phân loại quốc tế về các bệnh và những vấn đề liên quan đến sức khỏe (Internatinal Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems - ICD) của tổ chức y tế thế giới (World Heath Organisation - WHO) và sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tinh thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder - DSM) của Hội tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association). Trong những bản đầu tiên, ICD chưa đề cập đến tự kỉ. Trong bản thứ 8 (1967), ICD chỉ đề cập đến tự kỉ như một dạng "Tâm thần phân liệt" và lần thứ 9 (1977) thì đề cập đến tự kỉ dưới tên gọi "Rối loạn tâm thần tuổi ấu thơ" [55].

Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỉ (Autism Spectrum Disorders - ASDs) bắt đầu được xem xét từ những năm 70 và 80 của thế kỉ XX. Theo quan điểm hiện đại này, tự kỉ theo cách gọi của Kanner được xếp vào phạm trù rộng hơn là rối loạn phổ tự kỉ (ASDs). Rối loạn phổ tự kỉ bao gồm: rối loạn tự kỉ (Autistic Disorder), hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder - CDD), hội chứng Rett.Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỉ thường được xem là đồng nghĩa với rối loạn phát triển diện rộng (Pervasive Development Disorders – PDDs). Tuy nhiên, đến phiên bản lần thứ 5 của Sổ tay thống kê chẩn đoán những rối nhiễu tâm thần của Hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM –V) đã chính thức sử dụng tên “Rối loạn phổ tự kỉ” thay cho “Rối loạn phát triển diện rộng” [57].

Trong đề tài này, thuật ngữ “hội chứng Tự kỉ” mà chúng tôi dùng cần được hiểu là rối loạn phổ tự kỉ, 9 các lí thuyết về hội chứng tự kỉ mà chúng tôi sử dụng trong luận án này là các lí thuyết về rối loạn phổ tự kỉ và các trường hợp mà chúng tôi lựa chọn thực nghiệm nằm trong rối loạn phổ tự kỉ. Rối loạn phổ tự kỉ đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, hàng trăm cuốn sách ở các thể loại khác nhau đã được xuất bản. Nhiều nhà khoa học đã dành nhiều năm để nghiên cứu và trở thành tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đầu sách. Tiêu biểu là các tác giả như Leo Kanner, Eric Schopler, Ivan Lovass, Carol Grey, Lorna Wing, Bryna Seigel,.

đặc biệt là Temple Gradin – một người phụ nữ bị mắc chứng Tự kỉ. Bà là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng như Emergence: Labelled Autistic, Thinking in Picture, The way I see it,. Các nhà nghiên cứu đã giúp công chúng ngày càng hiểu thêm về những bí ẩn của hội chứng này. Xét trên khía cạnh giáo dục, một trong những thành tựu lớn nhất của việc nghiên cứu về “tự kỉ” chính là việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp giáo dục cho trẻ tự kỉ.

Nhiều phương pháp được phổ biến một cách rộng rãi, tiêu biểu như các phương pháp Phân tích hành vi ứng dụng (Applied Behavior Analysis – ABA), phương pháp trị liệu và giáo dục cho TTK có khó khăn về giao tiếp (Treatment and Education of Autistic anh related communication handicaped children – TEACCH), hệ thống giao tiếp bằng trao đổi tranh (The Picture exchange communication sytem – PECS), phương pháp hỗ trợ hành vi tích cực (Positive Behavior Support – PBS) và các chương trình giáo dục cho trẻ em mắc hội chứng tự kỉ như chương trình Từng bước nhỏ một (Small steps), chương trình PEP-R (Psychology Education Profile –Revised), Nhiều hơn lời nói (More than words), Cần hai người để trò chuyện. Như vậy, hiện nay trên thế giới có rất nhiều các phương pháp điều trị, giáo dục và can thiệp dành cho trẻ tự kỉ đã được xây dựng và ứng dụng. Với khoảng hơn 100 các phương pháp, các chương trình can thiệp và trị liệu dành cho trẻ tự kỉ được giới thiệu ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các phương pháp, biện pháp được đánh giá cao đó là các phương pháp, biện pháp được xây dựng trên ABA, TEACCH, PECS, câu chuyện xã hội, sử dụng trực quan.

Ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỉ chỉ thực sự được biết đến ở những năm đầu thế 10 kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ được tiến hành trong khoảng hơn mười năm trở lại đây. Các nghiên cứu về giáo dục TTK hầu hết được tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng trẻ ở lứa tuổi mầm non và mẫu giáo, một số ít đề tài nghiên cứu TTK lứa tuổi tiểu học. Việc sử dụng các chương trình và các phương pháp can thiệp cũng đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu, như: phương pháp can thiệp tâm vận động và ngữ âm trị liệu, dạy trẻ tự kỉ hiểu cảm xúc, cách ứng xử với những hành vi của trẻ có rối loạn phổ tự kỉ, ứng dụng các phương pháp như TEACCH, PECS, ABA, Montessori, CCXH. trong can thiệp cho TTK.

Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu của Ngô Xuân Điệp [9], Nguyễn Thị Thanh [38], Nguyễn Nữ Tâm An [1], [2], Đào Thị Thu Thủy [44], Đỗ Thị Thảo [40], Nguyễn Văn Thành [39], Nguyễn Thị Hoàng Yến [54], [55], [56], Nguyễn Thị Hương Giang và Trần Thu Hà [10], Vũ Thị Bích Hạnh [13], Nguyễn Thị Kim Anh [3]. Nhìn chung, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu lí luận cơ bản về can thiệp sớm và GDHN cho TTK, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu còn ít ỏi so với thế giới. Chúng ta cần phải có những nghiên cứu sâu hơn, qui mô rộng hơn và cần được thích ứng để phù hợp với đặc điểm văn hóa, giáo dục của Việt Nam. Những nghiên cứu về KNHĐ và giáo dục KNHĐ cho TTK Trên hướng tiếp cận xem KNHĐ là một bộ phận của KNXH, là nhóm KN có liên quan đến KN giao tiếp, KN tự phục vụ, do vậy, dựa trên các nghiên cứu trước đây về những vấn đề trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu các biện pháp hình thành từng KN trên cho đối tượng TTK để tìm ra những mối liên hệ, liên quan đến vấn đề KNHĐ mà đề tài đang nghiên cứu.

Theo hướng tiếp cận đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu các biện pháp giáo dục KNXH, KN giao tiếp, KN tự phục vụ cho TTK. Nghiên cứu về KNXH Khi nhắc đến các nghiên cứu về KNXH cho TTK, chúng ta không thể không nhắc đến hai nhà nghiên cứu đầu tiên rất chuyên sâu về vấn đề này là Ivan Lovass và Carol Gray. Vấn đề KNXH được hai tác giả nghiên cứu sâu sắc. Vào năm 1965, tác giả Ivan Lovass, một nhà tâm lí học đã lần đầu tiên cùng cộng sự áp dụng tiếp cận phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA cho TTK tại khoa tâm lí, trường đại học California.

Ý tưởng của Lovass là thông qua phương pháp ABA, các KNXH và hành vi có thể được dạy dỗ, luyện tập ngay cả đối với những trẻ mắc tự 11 kỉ nặng. Mục tiêu chung và cuối cùng của phương pháp này là nhằm giúp mỗi trẻ hình thành các KN cơ bản, về lâu về dài trẻ có thể sống độc lập và thành công ở mức có thể. Cách tiến hành phương pháp này được thực hiện qua 3 bước: Bước 1: Đánh giá ban đầu để kiểm tra xem kỹ năng nào trẻ đã có, kỹ năng nào chưa có; Bước 2: Lựa chọn các mục tiêu trị liệu đối với từng cá nhân dựa trên kết quả đánh giá ban đầu; Bước 3: Lên kế hoạch thực hiện từng KN trong mọi lĩnh vực (tự chăm sóc, nhận thức, giao tiếp, xã hội, vận động, chơi …). Các kỹ năng này thường được chia nhỏ thành các kỹ năng thành phần và được sắp xếp theo trình tự phát triển từ đơn giản đến phức tạp [71],[80],[82],[88].

Có thể nói phương pháp ABA là một trong những phương pháp giáo dục TTK đã có từ rất lâu nhưng có giá trị rất cao. Đến nay giá trị của nó vẫn không bị giảm sút theo thời gian và hiện nay nhiều phương pháp và biện pháp được xây dựng cũng dựa trên các nguyên tắc của phương pháp này. Cũng để giáo dục KNXH cho TTK, tác giả Carol Gray lại sử dụng các câu chuyện xã hội (Social stories) để giúp TTK hình thành KN. Phương pháp câu chuyện xã hội là một trong các phương pháp đã và đang được đánh giá cao trong giáo dục KNXH cho TTK bởi bản thân phương pháp này đã có những giá trị ứng dụng thực tiễn.

Đó là:1) Giải quyết vấn đề khó khăn trong việc hiểu cảm xúc, suy nghĩ, dự định của người khác một cách trực diện thông qua các tình huống dạy trẻ; 2) Cung cấp thông tin về một số tình huống xã hội theo hình thức cấu trúc cố định; 3) Cung cấp cho trẻ những cách tiếp cận gần nhất với các tình huống xã hội; 4) Giúp cho TTK có cơ hội thực hành các KN một cách thường xuyên [65]. Phương pháp này đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và được đánh giá là một phương pháp có hiệu quả trong dạy KNXH cho TTK [64],[79],[82],[88]. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là nếu chỉ dạy qua các câu chuyện và giải thích bằng hình ảnh thì sẽ khiến trẻ khó hiểu được về những KN cần được học và chỉ áp dụng được cho các TTK mức độ nhẹ và tự kỉ chức năng cao (High function autism) [88]. Để giáo dục KNXH, có rất nhiều biện pháp, phương pháp có thể áp dụng.

Có tác giả lại dùng phương pháp làm mẫu qua video (Video Modeling) hoặc sử dụng biện pháp đóng vai/đóng kịch (drama) hoặc sử dụng biện pháp giải quyết vấn đề xã hội (Social Problem Solving) để giáo dục các KNXH. Trong đó, phương pháp làm mẫu qua video khá thú vị. Tự làm mẫu qua video là người đó tự xem lại hành vi của mình 12 trong video (Bellini & Akullian, 2007). Cách này vừa giúp họ có thêm kỹ năng mới, vừa giúp họ lưu giữ kỹ năng được lâu và áp dụng được với nhiều người, nhiều nơi, nhiều lúc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án có tiêu đề "Luận Án Về Giáo Dục Kỹ Năng Học Đường Cho Trẻ Chuẩn Bị Vào Lớp 1" từ Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam tập trung vào việc phát triển kỹ năng học đường cho trẻ em trước khi vào lớp 1. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trang bị những kỹ năng cần thiết cho trẻ, giúp các em tự tin và sẵn sàng hơn trong môi trường học tập mới. Những lợi ích mà bài viết mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về phương pháp giáo dục hiện đại và cách thức áp dụng chúng vào việc phát triển toàn diện cho trẻ.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục cho trẻ lớp 1, độc giả có thể tham khảo bài viết Một số biện pháp nhằm giúp phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc cho học sinh lớp 1 bộ sách cánh diều, nơi mà các biện pháp giáo dục âm nhạc được đề cập, giúp nâng cao khả năng tiếp thu của trẻ. Bên cạnh đó, bài viết Luận án tiến sĩ: Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đọc cho học sinh lớp 1 sẽ cung cấp thêm những phương pháp dạy học hiệu quả, hỗ trợ trẻ trong việc phát triển kỹ năng đọc. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về phát triển kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 khó khăn trong học hòa nhập sẽ mang đến cái nhìn về cách phát triển kỹ năng nói cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt, góp phần vào việc tạo ra một môi trường học tập hòa nhập và thân thiện. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở rộng quan điểm về giáo dục cho trẻ em trong giai đoạn quan trọng này.