Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một dạng khuyết tật phát triển thần kinh suốt đời, xuất hiện trong những năm đầu đời và biểu hiện đặc trưng qua sự khiếm khuyết về tương tác xã hội, hành vi định hình lặp lại, cùng những tổn thương nghiêm trọng trong giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Dẫn chứng số liệu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) năm 2014 được tác giả trích dẫn cho thấy tỷ lệ trẻ mắc RLPTK là 1/68 trẻ, tăng 30% so với năm 2012. Tại Việt Nam, RLPTK bắt đầu được tiếp cận từ cuối thập niên 1990 và được quan tâm can thiệp sâu rộng từ năm 2000 tại các cơ sở y tế và trung tâm giáo dục đặc biệt. Ở nhóm trẻ RLPTK 3–4 tuổi, khiếm khuyết giao tiếp biểu hiện rõ nét qua việc né tránh giao tiếp mắt, hạn chế khả năng tập trung chú ý và thiếu hụt khả năng khởi xướng tương tác. Dù các cơ sở can thiệp đã áp dụng một số công cụ hỗ trợ như tranh ảnh hay câu chuyện xã hội, việc triển khai có hệ thống phương pháp giao tiếp tăng cường và thay thế vẫn cần được nghiên cứu thực nghiệm cụ thể.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 3–4 tuổi thông qua Hệ thống giao tiếp trao đổi hình ảnh (PECS - Picture Exchange Communication System), từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả can thiệp tại cơ sở giáo dục chuyên biệt.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 3–4 tuổi thông qua phương pháp PECS.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp PECS trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 3–4 tuổi tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới.
  3. Đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả sử dụng phương pháp PECS trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho đối tượng nghiên cứu tại cơ sở khảo sát.

Đối tượng nghiên cứu là biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 3–4 tuổi thông qua phương pháp PECS. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới, quận Đống Đa, Hà Nội. Khách thể khảo sát bao gồm 60 giáo viên, 2 cán bộ quản lý, 5 phụ huynh và 2 trẻ RLPTK. Thời gian thực hiện khảo sát thực trạng diễn ra từ tháng 02/2023 đến tháng 04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về tâm lý học và giáo dục đặc biệt:

  • Hội chứng Rối loạn phổ tự kỷ: Tiếp cận theo các phân loại quốc tế DSM-IV, ICD-10, các luận điểm lịch sử của Eugen Bleuler (1919), Leo Kanner (1943) và tiêu chuẩn từ chuyên trang tự kỷ của Liên Hợp Quốc. Khóa luận phân tích nguyên nhân gây tự kỷ từ góc độ di truyền (bất thường nhiễm sắc thể 2, 4, 7, 15, 19, hội chứng Fragile X), yếu tố môi trường thai kỳ và tổn thương cấu trúc - sinh hóa thần kinh não bộ (dopamine, serotonin, catecholamine).
  • Kỹ năng và Kỹ năng giao tiếp: Hệ thống quan điểm của V.Krutetxki, Bùi Văn Huệ, Lưu Xuân Mới, Đặng Thành Hưng, N.Levitop, Ngô Công Hoàn, Phạm Minh Hạc và A.N.Leontiev. Khóa luận xác định kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình tương tác nhằm đạt mục đích cụ thể.
  • Phương pháp PECS: Do Andrew Bondy và Lori Frost phát triển năm 1985 trong Chương trình Tự kỷ Delaware. Đây là hệ thống can thiệp giao tiếp chức năng dựa trên nguyên lý phân tích hành vi ứng dụng (ABA), sử dụng hình ảnh trực quan để kích hoạt hành vi trao đổi chủ động nhằm nhận phần thưởng củng cố trực tiếp. PECS gồm 6 giai đoạn chuẩn: Giai đoạn 1 (Giao tiếp như thế nào), Giai đoạn 2 (Khoảng cách và kiên trì), Giai đoạn 3 (Phân biệt tranh), Giai đoạn 4 (Giao tiếp câu), Giai đoạn 5 (Trả lời câu hỏi "Con muốn"), Giai đoạn 6 (Bình luận). Đề tài tập trung khai thác trọng tâm ở Giai đoạn 1 và Giai đoạn 2 cho lứa tuổi 3–4.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Theo dõi hành vi, biểu hiện tương tác mắt, khả năng tập trung và kỹ năng trao đổi tranh của trẻ trong sinh hoạt và giờ học.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát gồm 13 câu hỏi đóng và mở đối với 60 giáo viên trực tiếp can thiệp.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính từ 2 cán bộ quản lý, giáo viên và 5 phụ huynh học sinh.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức 2 đợt thực nghiệm trên trẻ RLPTK để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê toán học tính toán tần số và tỷ lệ phần trăm các chỉ số khảo sát.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là số liệu điều tra sơ cấp thu thập trực tiếp tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới trong giai đoạn từ tháng 02/2023 đến tháng 04/2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi thông qua phương pháp PECS

Chương 1 tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế (tiêu biểu như Ganz & Simpson 2004, Flippin & cộng sự 2010, Kagohara & cộng sự 2013) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Đào Thu Thủy 2008, Ngô Xuân Điệp 2009, Trần Thị Mỹ Trang 2013, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 2015, Lê Thị Thanh Bình 2020). Tác giả làm rõ các đặc trưng tâm lý và rào cản ngôn ngữ của trẻ RLPTK 3–4 tuổi: tư duy trực quan cụ thể, hệ thống tín hiệu thứ hai kém phát triển, ghi nhớ máy móc, ngôn ngữ thụ động, nhại lời, thiếu giao tiếp mắt và giảm khả năng luân phiên hội thoại.

Về phương pháp PECS, chương này phân tích cơ sở vận hành, ưu điểm (tính trực quan cao, phát triển nhanh giao tiếp chức năng, kích thích ngôn ngữ nói) và hạn chế (đòi hỏi chuẩn bị học liệu công phu, tập trung chủ yếu vào giao tiếp chức năng đơn thuần). Tác giả quy định cụ thể quy trình can thiệp giai đoạn 1 (yêu cầu bắt buộc phải có 2 người huấn luyện: 1 đối tác giao tiếp và 1 người hỗ trợ thể chất phía sau, không dùng lời nhắc) và giai đoạn 2 (mở rộng khoảng cách không gian, thay đổi đối tác giao tiếp để trẻ hình thành tính bền bỉ). Đồng thời, chương 1 phân loại các yếu tố tác động chủ quan (mức độ khuyết tật, khả năng bắt chước, nhận thức) và khách quan (thời lượng can thiệp, nhận thức và sự đồng hành của gia đình, giáo viên).

Chương 2: Thực trạng về biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi thông qua phương pháp PECS tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới

Chương 2 giới thiệu địa bàn khảo sát là Trung tâm Giáo dục Trẻ em Ngày Mới (thành lập ngày 05/01/2011 theo Quyết định số 05/QĐ-TWH của Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam, hoạt động theo Nghị định 81/2002/NĐ-CP, quy mô 25 cán bộ nhân viên). Số liệu điều tra trên 60 giáo viên phản ánh chi tiết thực trạng nhận thức và triển khai PECS:

Thực trạng nhận thức của giáo viên:

  • Nhận thức về bản chất PECS: 80% (48 giáo viên) hiểu đúng PECS là hình thức giao tiếp thay thế và thúc đẩy giao tiếp bằng hình ảnh; 15% (9 giáo viên) cho là tổ chức dạy học theo khuôn khổ ổn định; 5% (3 giáo viên) nhầm lẫn là phương pháp quản lý hành vi.
  • Nhận thức về biểu hiện khiếm khuyết giao tiếp của trẻ: 80% (48 giáo viên) nhận diện đầy đủ tổ hợp triệu chứng (giao tiếp cứng nhắc, khó biểu đạt ý tưởng, nhại lời, ngôn ngữ thụ động). Số còn lại chỉ nhận biết từng biểu hiện đơn lẻ (khó khăn ngôn ngữ: 5%; khó biểu đạt: 3,4%; nhại lời: 5%; thụ động: 6,6%).
  • Đánh giá vai trò của PECS: 60% (36 giáo viên) đánh giá "Quan trọng"; 20% (12 giáo viên) đánh giá "Rất quan trọng"; 10% (6 giáo viên) cho là "Quan trọng một phần"; 5% "Bình thường" và 5% "Không quan trọng".

Thực trạng triển khai và áp dụng thực tế:

  • Mức độ sử dụng: 50% (30 giáo viên) sử dụng "Rất thường xuyên"; 25% "Bình thường"; 20% "Ít khi" và 5% "Không bao giờ".
  • Các giai đoạn PECS được áp dụng: Chỉ tập trung ở 3 giai đoạn đầu với Giai đoạn 1 chiếm 50% (30 giáo viên), Giai đoạn 2 chiếm 30% (18 giáo viên), Giai đoạn 3 chiếm 20% (12 giáo viên). Hoàn toàn không có giáo viên nào triển khai Giai đoạn 4, 5, 6 do trẻ 3–4 tuổi tại trung tâm chưa đạt mức độ nhận thức đáp ứng.
STT Hình thức tổ chức hoạt động Rất thường xuyên (%) Khá thường xuyên (%) Thường xuyên (%) Ít khi (%) Không bao giờ (%)
1 Giờ học nhóm 6,6 8,4 16,6 68,4 0,0
2 Giờ học cá nhân 70,0 16,6 13,4 0,0 0,0
3 Hoạt động góc 16,6 8,4 6,6 50,0 18,4
4 Hoạt động ngoài trời 10,0 20,0 15,0 45,0 10,0
5 Tiết học ngoại khóa 5,0 10,0 15,0 50,0 20,0

Bảng số liệu cho thấy hình thức giờ học cá nhân (1:1) được sử dụng phổ biến nhất (70% rất thường xuyên) nhờ đảm bảo điều kiện không gian và nhân sự hỗ trợ. Ngược lại, giờ học nhóm có tỷ lệ "Ít khi" lên đến 68,4% do sĩ số đông (khoảng 6 trẻ/giáo viên) gây trở ngại cho việc kiểm soát hành vi và thao tác trao đổi thẻ tranh.

Khó khăn và đánh giá hiệu quả:

  • Khó khăn lớn nhất là không gian phòng học bố trí chưa phù hợp (60% - 36 giáo viên), tiếp theo là thiếu phương tiện và đồ dùng hỗ trợ đồng bộ (20% - 12 giáo viên), học liệu hình ảnh chưa phong phú (15%) và nội dung chưa thích ứng với lớp đông (5%).
  • Đánh giá mức độ hiệu quả: 50% giáo viên nhận định phương pháp chỉ "Hiệu quả một phần", 35% đánh giá "Bình thường" và 15% đánh giá "Rất hiệu quả". Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu sự phối hợp can thiệp đồng bộ từ phía gia đình tại môi trường sinh hoạt ở nhà.

Chương 3: Đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi thông qua phương pháp PECS tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới

Chương 3 xác lập 6 nguyên tắc xây dựng biện pháp can thiệp:

  1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu của giáo dục.
  2. Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo phù hợp với đặc điểm của trẻ RLPTK 3–4 tuổi.
  3. Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển của trẻ.
  4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát huy.
  5. Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác giữa giáo viên và trẻ RLPTK 3–4 tuổi.
  6. Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt.

Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống 3 biện pháp can thiệp đồng bộ:

  • Biện pháp 1: Phối hợp các lực lượng giáo dục và gia đình. Tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật hướng dẫn trao đổi tranh cho phụ huynh nhằm duy trì thói quen giao tiếp chức năng tại gia đình, khắc phục tình trạng trẻ chỉ thực hiện kỹ năng trên lớp học.
  • Biện pháp 2: Xây dựng bộ hình ảnh PECS theo chủ đề cụ thể. Chuẩn hóa hệ thống thẻ tranh rõ nét, tương đồng chính xác với đồ vật/thực phẩm thật xung quanh trẻ, sắp xếp theo các chủ đề sinh hoạt gần gũi nhằm tối ưu hóa khả năng nhận biết.
  • Biện pháp 3: Tạo môi trường lớp học và môi trường sinh hoạt gia đình phù hợp. Bố trí các góc học tập trực quan, sắp đặt vị trí bảng tranh và đồ vật yêu thích hợp lý để kích thích nhu cầu chủ động tiếp cận, di chuyển và thực hiện hành vi trao đổi tranh.

Nội dung chương cũng phác thảo thiết kế thực nghiệm sư phạm (gồm Thực nghiệm 1 và Thực nghiệm 2 với các bảng đánh giá ban đầu 3.1, 3.3 và bảng đo lường kết quả sau can thiệp 3.2, 3.4) nhằm chứng minh tính hiệu quả và sự chuyển biến kỹ năng giao tiếp của trẻ sau khi áp dụng các biện pháp đề xuất.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khảo sát thực trạng: Công trình đã định lượng cụ thể thực trạng nhận thức và kỹ năng áp dụng PECS của đội ngũ 60 giáo viên giáo dục đặc biệt. Kết quả chỉ ra 80% giáo viên nắm vững khái niệm lý thuyết nhưng hiệu quả can thiệp bị giới hạn (50% đánh giá hiệu quả một phần) do vướng mắc về mặt bằng cơ sở vật chất (60%) và sự thiếu kết nối đồng bộ từ phụ huynh học sinh.
  • Hệ thống biện pháp đề xuất: Đưa ra 3 giải pháp can thiệp mang tính ứng dụng thực tiễn cao, tập trung giải quyết trực tiếp các bất cập đã khảo sát: gắn kết phụ huynh - giáo viên, quy chuẩn hóa học liệu hình ảnh PECS theo chủ đề và thiết lập môi trường giao tiếp tương tác 2 chiều.
  • Đóng góp học thuật và ứng dụng: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc ứng dụng giai đoạn 1 và giai đoạn 2 của mô hình PECS cho phân khúc trẻ RLPTK lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo bé (3–4 tuổi) tại một cơ sở can thiệp tư thục cụ thể trên địa bàn Hà Nội, cung cấp cứ liệu thực nghiệm cho các nghiên cứu can thiệp ngôn ngữ chuyên biệt tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm còn giới hạn về dung lượng mẫu trẻ (tiến hành trên 2 trẻ RLPTK) và thực hiện trong phạm vi hẹp tại một trung tâm giáo dục chuyên biệt (Trung tâm Giáo dục Ngày Mới) trong thời gian ngắn (từ tháng 02/2023 đến tháng 04/2023). Các can thiệp của đề tài mới tập trung sâu vào các giai đoạn đầu (giai đoạn 1 và 2) của phương pháp PECS.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô thực nghiệm trên số lượng trẻ lớn hơn, đa dạng hóa các môi trường can thiệp (trường mầm non hòa nhập, gia đình) và nghiên cứu nối tiếp quy trình can thiệp ở các giai đoạn nâng cao của PECS (giai đoạn 3 phân biệt tranh và giai đoạn 4 cấu trúc câu) khi trẻ tiến bộ về nhận thức.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Đặc biệt, Giáo dục Mầm non và Tâm lý học Giáo dục trong việc tham khảo phương pháp khảo sát thực trạng và quy trình thiết kế bài tập can thiệp PECS.
  • Giáo viên can thiệp và cán bộ quản lý tại các trung tâm giáo dục hòa nhập, trung tâm can thiệp sớm: tham khảo dữ liệu phân tích về các khó khăn trong bố trí phòng học, cách tổ chức tiết học cá nhân (1:1) và giải pháp xây dựng học liệu tranh ảnh trực quan.
  • Phụ huynh có con mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ: nắm bắt được quy trình phối hợp kỹ thuật 2 người huấn luyện không dùng lời nhắc để hỗ trợ trẻ tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp PECS được đề tài nghiên cứu tập trung vào những giai đoạn nào?
Khóa luận tập trung nghiên cứu và áp dụng chủ yếu vào Giai đoạn 1 (Giao tiếp như thế nào - học cách trao đổi tranh đơn lẻ lấy đồ vật yêu thích) và Giai đoạn 2 (Khoảng cách và kiên trì - mở rộng khoảng cách không gian và đa dạng hóa đối tác giao tiếp) trong tổng số 6 giai đoạn chuẩn của PECS, do nhóm trẻ RLPTK 3–4 tuổi tại cơ sở nghiên cứu chưa đáp ứng được nhận thức cho các giai đoạn nâng cao (giai đoạn 4, 5, 6).

2. Khảo sát thực trạng cho thấy hình thức tổ chức dạy học nào sử dụng PECS nhiều nhất và ít nhất?
Hình thức giờ học cá nhân (1:1) được sử dụng nhiều nhất với 70% giáo viên đánh giá "Rất thường xuyên", do đảm bảo đủ không gian, học liệu và người tương tác. Hình thức ít sử dụng nhất là giờ học nhóm với 68,4% giáo viên đánh giá "Ít khi", do sĩ số học sinh đông (khoảng 6 trẻ/giáo viên) gây khó khăn cho việc bao quát và kiểm soát hoạt động.

3. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới gặp phải khi áp dụng PECS là gì?
Khó khăn lớn nhất được ghi nhận là không gian phòng học bố trí chưa phù hợp, chiếm tỷ lệ 60% (36 giáo viên) lựa chọn. Phòng học có diện tích hạn chế dẫn đến khó sắp xếp các khu vực chức năng riêng biệt cho việc tương tác bằng thẻ tranh.

4. Quy trình huấn luyện ở Giai đoạn 1 của phương pháp PECS đòi hỏi sự tham gia của bao nhiêu người và nguyên tắc ra sao?
Giai đoạn 1 đòi hỏi bắt buộc phải có 2 người huấn luyện: Người thứ nhất là đối tác giao tiếp (ngồi đối diện, giữ đồ vật trẻ thích và nhận tranh), Người thứ hai là người hỗ trợ thể chất (ngồi phía sau trẻ để cầm tay hướng dẫn trẻ lấy tranh đưa cho đối tác mà tuyệt đối không dùng lời nhắc hay giao tiếp trực tiếp với trẻ), sau đó giảm dần sự trợ giúp để trẻ tự thực hiện.

5. Đề tài đề xuất những nhóm biện pháp can thiệp cụ thể nào?
Tác giả đề xuất 3 biện pháp đồng bộ: (1) Phối hợp giữa lực lượng giáo dục tại trung tâm và gia đình; (2) Xây dựng bộ hình ảnh PECS chuẩn hóa theo các chủ đề sinh hoạt cụ thể; (3) Cải tạo và thiết lập môi trường lớp học kết hợp môi trường gia đình phù hợp với hoạt động giao tiếp trao đổi hình ảnh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thu Hồng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về can thiệp giao tiếp cho trẻ RLPTK 3–4 tuổi bằng phương pháp PECS, đồng thời phản ánh khách quan bức tranh thực trạng tại Trung tâm Giáo dục Ngày Mới qua khảo sát định lượng trên 60 giáo viên. Các dữ liệu thu thập đã chỉ ra những điểm nghẽn thực tế về không gian lớp học, học liệu tranh ảnh và sự liên kết phụ huynh. Hệ thống 3 biện pháp can thiệp được đề xuất cùng thiết kế thực nghiệm sư phạm là đóng góp có giá trị ứng dụng rõ rệt cho công tác can thiệp sớm và giáo dục đặc biệt đối với trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non.