CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3-4 TUỔI THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP PECS 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu trên thế giới “Trẻ Rối loạn phổ tự kỷ được phát hiện từ những năm 40 của những thế kỷ trước nhưng thực ra đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người rồi [3]”. Hiện nay, trẻ Rối loạn phổ tự kỷ trở thành “Căn bệnh của thời đại” và có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về trẻ Rối loạn phổ tự kỷ. Dưới đây là một số nghiên cứu về vấn đề trên.
Jean Marc Itard (1774-1838) đã tiếp nhận một cậu bé hoang dã tên là Victor. “Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và diễn đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hay nhận thức, cách ứng xử xa lạ với cuộc sống của xã hội loài người. Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường [7]”. Ngày nay thì người ta cho rằng Victor chính là trẻ Rối loạn phổ tự kỷ.
Để khắc phục tình trạng này thì Itard đã nghĩ rằng việc giáo dục trẻ này phải khác hơn so với những trẻ bình thường. “Thuật ngữ Tự kỷ (Autism) được bác sĩ tâm thần người Thụy Sỹ Engen Bleuler (1857 - 1940) đưa ra vào năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở người lớn, đây là hiện tượng mất nhận thức thực tế của người bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của người bệnh có xu hướng không thống nhất với kinh nghiệm thông thường của họ [3]”. Cho đến năm 1943 bác sĩ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner mô tả trong một bài báo với nhan đề “ Autism Disturbance of Effective Contract”. “Ông cho rằng trẻ Rối loạn phổ tự kỷ là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cách thể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và đặc trưng tính rập khuôn; gần như không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường rõ rệt như: nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi 5 giao tiếp; rất thích nhìn các vật xoay tròn; có khả năng cao trong quan sát không gian và có trí nhớ “như con vẹt”; gặp khó khăn trong học tập ở các lĩnh vực khác nhau; thích độc thoại riêng trong thế giới của mình; khó khăn trong việc thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề như: cho búp bê ăn, nói chuyện điện thoại, bác sĩ tiêm bệnh nhân,…; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói; thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu; giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát, mặc dù vẻ bề ngoài trông rất nhanh nhẹn, thông minh [10]”.
Kanner còn nhấn mạnh triệu chứng rối loạn phổ tự kỷ có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu. Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỷ ngày nay nó là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới. Trong những thập niên nửa cuối thế kỷ XX, nhiều cuộc tranh cãi đã diễn ra xung quanh việc định nghĩa tự kỷ. “Trong suốt quá trình phát hiện và nghiên cứu tự kỷ, các nhà khoa học đã đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán được đầy đủ khái quát trong hai bảng phân loại bệnh quốc tế là DSN IV và ICD 10.
Nhìn chung các nghiên cứu được đề cập đến ở trên đã noisleen rằng, giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng là cần thiết [1]”. “Nghiên cứu về phát triển kỹ năng giao tiếp của tác giả Kak - Hai - Nodich người Đức cũng đã nêu rõ về ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ. Trẻ tự kỷ chưa có ngôn ngữ, chưa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện hơi, luyện giọng sau đó đến luyện nói. Bằng những ví dụ cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con bị tự kỷ có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp.
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè [10].” Muốn giúp trẻ tự kỷ giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, cho trẻ học, 6 chơi với bạn thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Tác giả đã giúp cho phụ huynh trẻ tự kỷ biết cách lựa chọn môi trường can thiệp và giáo dục cho trẻ phù hợp. Tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu được bản thân trẻ (tên gọi, bộ phận trên cơ thể,…), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, cách sử dụng, tính chất), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp.
Tác giả đã giúp cho giáo viên, phụ huynh biết được một phương pháp mới trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Nghiên cứu về biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ đã được tiến hành để cung cấp các phương pháp hiệu quả và hỗ trợ cho trẻ tự kỷ trong việc phát triển khả năng giao tiếp của họ. Dưới đây là một số phương pháp nghiên cứu và áp dụng trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ: kĩ thuật học thông qua trò chơi và hoạt động, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng trò chơi và hoạt động có thể giúp trẻ RLPTK hứng thú và tham gia vào quá trình học; hướng dẫn hình thức và hình ảnh, sử dụng hình ảnh, biểu đồ, biểu đồ trực quan là một cách hiệu quả để hỗ trợ trẻ RLPTK hiểu và sử dụng các kĩ năng giao tiếp; kỹ thuật xã hội hóa, đây là quá trình giúp trẻ học cách tương tác và giao tiếp thông qua bắt chước người khác. Năm 1980 Andrew Bandy (nhà tâm lý Nhi) và Lori Frost (nhà âm ngữ trị liệu) nghiên cứu phương pháp PECS (hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh - Picture Exchange Communication System) ứng dụng vào can thiệp kĩ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK.
Tác giả sử dụng một loạt chiến lược để giúp trẻ RLPTK có được các kĩ năng giao tiếp. Tuy nhiên phương pháp này mới tập trung vào giúp trẻ giao tiếp không lời, cho phép trẻ lựa chọn cách thể hiện nhu cầu của mình bằng tranh ảnh. Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở trên thế giới tuy nhiều nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu cách phát hiện, chẩn đoán, phương pháp chứ chưa có nhiều các công trình đi sâu nghiên cứu về phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ Rối loạn phổ tự kỷ. 7 Nghiên cứu của Ganz và Simpson (2004) nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng PECS để cải thiện kĩ năng giao tiếp từ cơ bản đến nâng cao cho trẻ tự kỷ.
Nghiên cứu của Flippin, Reszka và Watson (2010): Nghiên cứu này xem xét hiệu quả của PECS đối với trẻ tự kỷ và những hệ quả của việc sử dụng PECS trong môi trường giáo dục. Kết quả cho thấy PECS là một công cụ hữu ích để phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ tự kỷ và có thể áp dụng trong nhiều ngữ cảnh giáo dục. Nghiên cứu của Kagohara và đồng nghiệp (2013): Nghiên cứu này xem xét hiệu quả của PECS đối với trẻ tự kỷ không nói chuyện ở mức cơ bản. Kết quả cho thấy PECS giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp và tăng cường khả năng trao đổi thông tin của trẻ tự kỷ.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay cũng đã xuất hiện nhiều mô hình trợ giúp cho trẻ RLPTK như các trung tâm (Trung tâm Phúc Tuệ, trung tâm Hy Vọng, trung tâm Sao Mai, trường Bình Minh,…) chuyên về chăm sóc, dạy và trị liệu cho trẻ.
Khoa giáo dục đặc biệt thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Câu lạc bộ gia đình trẻ tự kỷ, Khoa phục hồi chức năng ở Viện Nhi Quốc gia, ở Bệnh viện Bạch Mai. “Từ những năm 2000 trở lại đây, vấn đề trẻ Rối loạn phổ tự kỷ đã được nhiều ngành quan tâm nghiên cứu hơn trước như tâm lý học, y học, giáo dục học,… một loạt các trung tâm nuôi dạy trẻ Rối loạn phổ tự kỷ ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho trẻ Rối loạn phổ tự kỷ, các trường học mở ra lớp học chăm sóc, giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỷ là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này [8].” Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài “Xây dựng bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non”. Đề tài đã thiết kế 20 bài tập phát triển giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 24 – 36 tháng dành cho phụ huynh. Tuy nhiên chưa tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của các bài tập phát triển giao tiếp tổng thể.
Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Điệp trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức trẻ Tự kỷ tại Thành Phố Hồ Chí Minh” đã cho thấy được thực trạng mức độ nhận thức của trẻ Tự kỷ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan và khách quan đến nhận thức của trẻ Rối loạn phổ tự kỷ.