Chương 1: R. Tagore với trẻ thơ Chương 2: Vẻ đẹp toàn bích của thế giới tâm hồn trẻ thơ trong Trăng non Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện thế giới trẻ thơ trong Trăng non. Cuối cùng là danh mục tư liệu tham khảo.TAGORE VỚI TRẺ THƠ 1. Tagore – Thời thơ ấu và những ước vọng của tuổi thơ 1.1 Thời thơ ấu của một thiên tài R.
Tagore sinh ngày 7 tháng 5 năm 1861 trong một gia đình trí thức giàu sang tại vùng Calcutta, xứ Bengal miền Đông Ấn Độ. Gia đình ông thuộc đẳng cấp quý tộc Bà la môn nổi tiếng và được mến phục vì đây là gia đình của những thiên tài, đã có nhiều cống hiến cho công cuộc cải cách xã hội ở Bengal và Ấn Độ. Cha ông, Devendranath, là một lãnh tụ của phong trào cải cách Hindu ở Ấn Độ cuối thế kỉ XIX, đồng thời là một nhà triết học nổi danh đã dốc hết sinh lực, trí tuệ và tiền của để làm việc thiện và hoạt động văn hóa xã hội. Trong gia đình, R.
Tagore là con trai út được yêu quý và chiều chuộng nhất. Tagore chào đời, cha ông đã xem đó là phúc trời nên đặt tên cho ông là Rabindranath, có nghĩa là mặt trời với mong muốn cậu bé sẽ trở thành nhân tài mang ánh sáng trí tuệ soi rọi sự tăm tối của đất nước Ấn Độ nghèo nàn và đau khổ. Tagore được sống trong thế giới của các gia nhân. Trong Hồi ức sau này, R.
Tagore gọi họ là “ vương quốc đầy tớ” một cách kính trọng. Là một cậu bé thích tự do, R. Tagore thường lang thang bắt bướm hái hoa ngoài trời và tụ tập với bọn trẻ cùng phố chơi bi, chơi đáo. Vì thế, mọi người cai quản cậu rất nghiêm ngặt.
Những giờ bị phạt trong nhà, cậu thường phóng tầm mắt nhìn ra ngoài cửa sổ ao ước tự do hoặc tìm đến góc nhà ngồi đọc sách. Hễ cầm được cuốn sách nào là Tagore đọc nghiến ngấu suốt ngày. Là cậu bé nhạy cảm, Tagore thường rơi lệ khi đọc những trang sách kể về nỗi đau khổ, chia li của người khác. Ngoài những quyển truyện cổ Ấn Độ, Tagore thường tìm đọc sách nước ngoài viết cho thiếu nhi đã được dịch ra tiếng Bengali.
Cậu thích sách của Dickens, V. Hugo và nhất là tác phẩm Rôbinxơn Cruxô của Defoe. Hình ảnh Rôbinxơn chống chọi với bão táp, hòa nhập với thiên nhiên trên hoang đảo khiến Tagore xúc động. Cậu bé lấy đó làm tấm gương cho cuộc sống tự lập của mình.
Cuốn sách đã kích thích trong lòng cậu ý tưởng được ra khỏi nhà, được tự do bay nhảy. Vào khoảng thời gian ở Cancutta xảy ra nạn dịch hạch, gia đình Tagore phải qua lánh nạn bên kia bờ sông Patma, một nhánh của con sông Hằng. Sống trong biệt thự gần sông gần gũi với thiên nhiên tươi đẹp, cậu bé Tagore sung sướng vô cùng. Như một con chim sổ lồng, cậu chạy nhảy khắp nơi.
Chuyến đi đó là bài học đầu tiên về thiên nhiên của cậu. Trong Hồi kí, Tagore kể lại: “ Cứ mỗi ngày khi màn đêm đã vén lên, tôi thức dậy có cảm giác như chân trời kia đang đem đến cho tôi một bức thư báo nhiều tin tức tốt lành khi tôi bóc nó ra. Tôi vội vàng không để chậm trễ một giây phút ngồi chễm chệ trong chiếc kiệu chuẩn bị đi ra ngoài trời. Ngày nào cũng như ngày nào, tôi được nhìn nước sông Hằng dâng lên hạ xuống, tàu bè xuôi ngược đôi bờ thật rộn rịp, cây ngả bóng xuống dòng sông lấp lánh khi mặt trời lên cao.
Hoàng hôn buông xuống rừng cây như ngủ lặng trong một màu đen nhờ nhờ. Có lúc, bất chợt một cơn mưa ập tới xóa nhòa cả chân trời rực sáng. Dòng sông trở nên âm u cuộn lên những con sóng, gió ào tới lay động cả một rừng cây, đôi lúc có cảm giác sợ hãi”. 442] Cảm giác ban đầu về thiên nhiên từ thuở ấu thơ đã gợi cho Tagore một ý niệm : thiên nhiên nhiên cũng có linh hồn giống con người.
Sự tươi thắm, kì diệu của hoa, lá của ánh sáng mặt trời … đã thức dậy nơi tâm hồn non nớt của cậu bé Tagore một tình yêu thiên nhiên sâu nặng. Cuộc sống bó hẹp trong khuôn viên biệt thự làm cậu cảm giác như bị cầm tù và khi đến tuổi đến trường cậu càng chán ghét không khí buồn tẻ, ngột ngạt của lớp học giữa bốn bức tường. Trong kí ức của Tagore trường học không lưu lại những ấn tượng tốt đẹp: “ Cái khổ của tôi là phải học trong những nhà trường như thế. Tôi đã từng thấy vũ trụ như đã biến mất quanh mình, chỉ được thấy những hàng ghế gỗ, những bức tường vôi trắng xoá.
Tôi cương quyết không muốn mình trở thành một đứa bé bị thầy giáo gõ đầu… May sao tôi thoát ra được những ngôi trường chật hẹp như cái chuồng hoặc như chiếc giầy bó chân của một người đàn bà Tàu…”[45, tr.Tagore được gửi đến trường là ba lần cậu bỏ học. Cuối cùng, gia đình phải mời gia sư lại nhà. Gyan Babu, con trai của học giả Vedantavaghish là người thầy đầu tiên của Tagore. Biết Tagore là cậu bé thông minh không thích cách học của trường lớp nên ông đã giảng các tác phẩm văn học nổi tiếng cho Tagore nghe trước rồi yêu cầu cậu dịch từ tiếng Anh , tiếng Sanskrit sang tiếng Bengali.
Cách học này đã lôi cuốn Tagore và truyền cho cậu niềm say mê, yêu thích văn chương. Năm lên bảy tuổi, Tagore bắt đầu tập tễnh làm thơ. Làm được bài nào là nhét vào túi áo bài đó. Nhiều người trong vùng rất thích thơ của cậu.
Từ nhỏ, Tagore đã nổi tiếng là cậu bé thần đồng của xứ Bengal. Mười ba tuổi, Tagore đăng trường ca Bông hoa rừng ( Benaphul) dài 1600 câu trên tạp chí Mầm kiến thức ( Gyânanka). Tiếp sau đó, cậu sáng tác hai tập thơ Tiếng hát buổi sáng (Prabhat Sangit) và Tiếng hát buổi chiều ( Sandya Sangit). Hai tập thơ nhỏ này đã bộc lộ tài năng và lòng yêu đời, yêu cuộc sống của Tagore.
Cha Tagore cũng là một người thầy đắc lực trong việc nâng cao học vấn cho Tagore. Ông luôn tôn trọng tự do của con cái. Từ năm 11 tuổi, ông đã cho Tagore theo mình trong những chuyến du lịch dài ngày lên đỉnh Himalaya, dạy cho Tagore bài học đầu tiên về tình yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống. Thuở nhỏ, Tagore không chỉ tự trao giồi ngoại ngữ để học trong sách vở mà còn chú trọng học những người xung quanh, những người lao động bình thường trong “ vương quốc những người đầy tớ “.
Tagore rất thích nghe họ kể và ngâm vịnh sử thi Ramayana, hát những bài ca dân gian đầy chất trữ tình, giàu lòng yêu con người. Cái “ vương quốc đầy tớ” này có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển tâm hồn và tài năng của Tagore. Có thể nói rằng, cuộc đời của Tagore phân nửa gắn liền với môi trường sáng tạo của những thiên tài, phân nửa gắn liền với văn hóa truyền thống: “Bước đầu của tôi đi vào văn học có nguồn gốc của nó trong những cuốn sách được lớp người tôi tớ yêu thích và truyền tụng”[60, tr. Suốt quãng đời thơ ấu, Tagore chủ yếu là tự học.
Ngoài sách vở thì mảnh vườn thân thiết sau nhà là “ngôi trường” lí tưởng của cậu bé Tagore. Trong “ngôi trường” đó, Tagore được tự do mơ mộng. Những sắc màu kì diệu của thiên nhiên đã đem đến cho cậu những câu hỏi ngây thơ về cuộc sống, cậu ao ước khám phá tất cả bằng trí óc non nớt của mình và từ chối những bài học gò ép nơi lớp học: “ Chúng tôi có một khu vườn nhỏ liền tiếp với nhà chúng tôi, đối với tôi, nó là mảnh đất thần tiên, hàng ngày hiện ra không biết bao nhiêu vẻ đẹp kì diệu.Bầu trời như đem lại cho tôi tiếng gọi bạn bè và cả trái tim tôi, cả cơ thể tôi nữa quen uống vào cái nguồn ánh sáng và yên tĩnh tràn trề của những giờ phút lặng lẽ đó. Tôi lo lắng không bao giờ để quên mất một buổi sáng nào, vì mỗi buổi sáng đều quý cho tôi, còn quý hơn vàng đối với một kẻ cùng khổ… tôi được trời phú cho tính hay kinh ngạc, nó giúp cho đứa bé có quyền được vào trong kho tàng huyền bí trong lòng cuộc sống.
Tôi lơ là với những bài học vì chúng muốn lôi tôi ra ngoài thế giới ở quanh tôi…nó muốn cầm tù tôi trong những bức tường đá của các bài học”[ 45, 449]. Nơi trường học thiên nhiên, Tagore học được nhiều điều quan trọng. Ngoài sự yêu thương, chỉ dẫn của gia đình, cậu còn được tự do hoà nhập với thiên nhiên. Điều đơn giản này không phải bất cứ đứa tre nào cũng đều có được.
Vì thế, sau này trưởng thành, Tagore đã thực hiện được ước mơ xây dựng một ngôi trường mới theo lí tưởng của mình: một ngôi trường bình yên cho trẻ thơ Ấn Độ. Hướng tới một nền giáo dục của người Ấn Độ Giáo dục trẻ bằng tình yêu thương và sự khoan dung chính là tư tưởng chủ đạo mà Tagore muốn chuyển tới những bậc làm cha mẹ và những người chịu trách nhiệm về việc “ trồng người”. Tư tưởng này bắt nguồn từ quan điểm giáo dục truyền thống của người Ấn Độ và từ trái tim giàu lòng trắc ẩn của nhà thơ bởi vì “ Tình ông bà yêu cháu, già yêu trẻ là một nét cảm động nhất của văn hoá Ấn Độ” [ 13, tr. Thuở nhỏ, Tagore được nhận hưởng một nền giáo dục tốt đẹp từ người cha đáng kính của mình.
Chính phương pháp giáo dục của gia đình và truyền thống văn hoá của dân tộc đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Tagore. Ông luôn quan niệm: giáo dục trẻ nhỏ phải cần tình thương và sự khoan dung. Roi đòn không thể thay đổi và hoàn thiện con người mà chỉ có tình yêu mới làm con ngưởi trở nên tốt đẹp: “ Một đứa bé sinh ra phải nuôi mình bằng sữa mẹ, do đó nó vừa biết thứ sữa mình ăn vừa biết cả người mẹ mình nữa. Thứ đồ ăn của bé đó vừa nuôi được cơ thể vừa nuôi được cả tâm hồn đứa bé.
Con người khi buớc vào đời cũng phải thế, nghĩa là phải lấy tình thương làm gốc, chứ không phải lấy quan hệ nhân quả làm nguyên tắc. 458] Trong kí ức của Tagore, người cha luôn là một tấm gương lớn về nhân cách: “ Người muốn chúng tôi yêu sự thật bằng cả tấm lòng mình. Cũng như trước kia, Người để tôi tự do leo núi thì bây giờ Người cũng để tôi tự do chọn con đường đi đến sư thật.