đặt vấn đề trẻ em lên trước, không để vấn đề trẻ em ra sau các quyết sách. c) Tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản và nhu cầu của trẻ em, bảo đảm cho trẻ em phát triển hài hoà về nhân cách, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. d) Sự phát triển và tiến bộ của trẻ em là một trong những yếu tố bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả và bền vững e) Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hôi, trước tiên là của mỗi gia đình và cộng đồng g) Thực hiện công bằng xã hội, không phân biệt đối xử trong bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em h) Bảo đảm tính khoa học và nghệ thuật trong bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho các bậc cha mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Ban Bí thư trung ương khóa IX yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, đoàn thể các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ sau: " Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình.
Cung cấp tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống, như: kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với cộng đồng. Trong giáo dục, phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển. Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu rõ Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là: " nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống nhà trẻ trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình". Mục tiêu cụ thể là “Phát triển chương trình phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình thông qua sách hướng dẫn, các phương tiện truyền thanh, truyền hình và các tổ chức, đoàn thể xã hội.
Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ đồng thời góp phần giảm thiệt thòi cho số trẻ còn lại chưa được đến trường”. Đối tượng chủ yếu của chiến lược là “vùng nông thôn, vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long”. Hệ thống văn bản chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em • Chỉ thị số 03/2000/CT - TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em • Chỉ thị số 55 - CT /TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em • Quyết định số 23/2001/QĐ – TTg ngày 26/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 • Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QHH 11 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 • Nghị định số 36/2005/N Đ – CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em • Và rất nhiều văn bản khác do Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, Bộ Tài chính, Bộ Y tế ban hành quy định những vấn đề chi tiết cụ thể liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 18 4. Nhận xét về hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Như phần trên đã trình bày, Đảng và Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ, luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các lực lượng, đặc biệt là gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực (kiến thức và kỹ năng) cho các bậc cha mẹ trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là hoạt động phổ biến, tuyên truyền kiến thức cho các bậc cha mẹ đã có nhưng chưa đầy đủ và trong thực tế cuộc sống, việc thực thi các văn bản chính sách đó cũng chưa triệt để và hiệu quả. Một điều đáng buồn là vấn đề giáo dục gia đình, nâng cao kỹ năng làm cha làm mẹ ai cũng quan tâm nhưng chưa Bộ, ngành nào triển khai hoạt động có hiệu quả, các hoạt động chồng chéo nhau vào theo các mảng nội dung trong lĩnh vực thuộc mình quản lý chứ chưa có tác động nào mang tính hệ thống, tổng quát. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên cũng xuất phát từ sự thiếu hụt của hệ thống chính sách và sự buông lỏng quản lý của Chính phủ và chính quyền các cấp.
Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em * Các yếu tố chủ quan của chủ thể giáo dục – cha mẹ: - Kiến thức và kỹ năng của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất - là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý bẩm sinh của bộ não, của hệ thống thần kinh, của cơ quan phân tích, tạo nên sự khác biệt giữa con người với nhau. Tư chất là một trong những điều kiện hình thành kiến thức và kỹ năng, nhưng tư chất không quy định trước sự phát triển của các kiến thức và kỹ năng. - Đặc điểm thể chất của các bậc cha mẹ – lực lượng có ảnh hưởng lớn nhất tới trẻ em: Chúng ta xác định nhóm đối tượng tác động là các bậc cha mẹ, như vậy, dù đó là đứa con đầu hay đứa con thứ hai thì đa phần các bậc cha mẹ cũng trong độ tuổi từ 25 đến 55. Nhóm dân số từ 25 - 55 thuộc nhóm người trưởng thành, với những đặc trưng tâm lý - xã hội nhất định.
Họ đã tham gia vào lực lượng lao động, có trình độ nhận thức, kinh nghiệm cuộc sống và vị trí xã hội nhất định. Những yếu tố này tác động đến kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngay tại giai đoạn đầu của quá trình hình thành tư cách, đạo đức của một con người. 19 - Trình độ văn hoá của các thành viên trong gia đình: Trình độ văn hoá của các thành viên trong gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là tiền đề cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ của các thành viên. Khi các thành viên trong gia đình có trình độ văn hoá cao thì họ có điều kiện để tiếp cận và ứng dụng tri thức hiện đại khoa học liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục cho con trẻ.
Điều đó cũng phần nào thể hiện sự khác biệt giữa hoạt động có mục đích và hoạt động theo bản năng. * Các yếu tố thuộc môi trường gia đình: - Văn hoá gia đình là một dạng văn hoá cộng đồng đặc thù, một môi trường văn hoá đặc thù. Khái niệm văn hoá gia đình có nội hàm rộng lớn, trong đó nổi lên các quan hệ đạo lý, chuẩn mực, khuôn phép trong sinh hoạt, ứng xử, các quan hệ về tình cảm, việc chăm sóc giáo dục con cái, các tập quán về thờ phụng tổ tiên. mà mỗi thành viên trong gia đình chấp nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện.
Những đặc trưng của văn hoá gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi của các bậc cha mẹ trong giáo dục đạo đức con trẻ. Điều này còn có thể gọi là tác động "luân hồi" từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo số liệu báo cáo năm 2001 của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, tình trạng trẻ em hư, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng ở nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn, đang là nỗi lo của mỗi gia đình và toàn xã hội. Trong số trẻ em làm trái pháp luật, 30% ở trong các gia đình có bố mẹ nghiện ma tuý, ham mê cờ bạc; 21% trong gia đình làm ăn phi pháp; 8% có anh chị có tiền án, tiền sự; 10,2% mồ côi cả cha lẫn mẹ; 32% mồ côi bố hoặc mẹ; 7,3% có bố mẹ ly hôn.
Những số liệu trên cho chúng ta thấy: môi trường gia đình đã tác động ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ tại gia đình, mà kết quả của năng lực yếu kém đó là hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội của những đứa trẻ. * Các yếu tố thuộc môi trường xã hội: - Chính sách và chương trình của Nhà nước Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước quản lý gia đình bằng hệ thống luật pháp và chính sách. Vì vậy, các chính sách và chương trình của Nhà nước tác động rất lớn đến năng lực làm cha mẹ ở các gia đình.
Ở đây, chúng ta phải xác định rõ sự phân cấp trách nhiệm và quyền lợi giữa gia đình - chính quyền - cộng đồng. Bản thân các bậc cha mẹ là chủ thể của quá trình tự trau dồi năng lực làm cha làm mẹ và cũng là đối tượng thụ hưởng các tác động từ phía chính quyền và cộng đồng. Chính quyền là chủ thể quản lý, điều phối các tác động bên ngoài đến năng lực làm cha làm mẹ. Các chính sách và chương trình 20 của Nhà nước có tính chất định hướng, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ các bậc cha mẹ nâng cao kiến thức và kỹ năng.