Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHH GDMN - Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHH GDMN của các phòng GDĐT tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 - 2013 - Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tỉnh Bình Dương và khảo nghiệm tính khả thi một số biện pháp. - Kết luận, khuyến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục ở một số nước trên thế giới Ngày nay, quy mô phát triển của các nền kinh tế thị trường và các hệ thống giáo dục định hướng thị trường ngày càng mở rộng trên toàn cầu. Trong kinh tế thị trường, nền giáo dục của các nước vừa chịu sự quản lý và điều tiết của nhà nước vừa chịu sự tác động của thị trường với các quy luật cạnh tranh, cung – cầu và giá cả…. Chính điều này đã tạo nên sự đa dạng và tính phức tạp của các nền giáo dục. - Theo nghiên cứu của Trần Anh Phương [50], mục tiêu chính của cải cách giáo dục hiện nay ở Hàn Quốc là nhằm xây dựng một nền giáo dục mở, tạo cơ hội cho mọi người được học tập suốt đời để họ có thể trở thành những con người mới có đủ tri thức, năng lực đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thông tin và toàn cầu hoá.
Để đạt được mục tiêu trên, Hàn Quốc đã xác định trách nhiệm cải cách, nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của riêng Bộ Giáo dục và Phát triển nhân lực mà là của cả bộ máy chính phủ, là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi gia đình, mỗi công dân. Hoạt động cải cách giáo dục được thực hiện sâu rộng, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân. Có thể nói, cuộc cải cách giáo dục lần này của Hàn Quốc là cuộc cải cách toàn diện, năng động, có quy mô lớn và được XHH cao nhất so với tất cả các cuộc cải cách giáo dục trước đây. - Nghiên cứu của Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo [32] cho thấy Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn quốc, chính phủ đóng vai trò là nhà đầu tư chính và các đối tác xã hội là 9 các nhà đồng đầu tư.
Bộ Giáo dục là cơ quan nắm quyền quản lý cao nhất, chịu trách nhiệm thực thi các văn bản luật liên quan, các qui định, các hướng dẫn và các chính sách của trung ương; lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục; tích hợp và điều phối các sáng kiến và chương trình giáo dục cấp quốc gia; hướng dẫn thực hiện cải cách giáo dục trên toàn quốc. Chính quyền cấp tỉnh có vai trò xây dựng các kế hoạch, ban hành các quyết định và điều lệ liên quan trực tiếp đến địa phương, phân bổ các nguồn quỹ tới các địa khu, và quản lý một số trường trung học điểm. Chính quyền cấp địa khu có vai trò phân bổ các nguồn quỹ đến các huyện, giám sát hoạt động giáo dục, giảng dạy và quản lý trường THPT, các trường sư phạm, các trường sư phạm tại chức, các trường nghề nông nghiệp, cùng với trường tiểu học và THCS điểm ở địa phương. Chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trường còn lại gồm THCS, tiểu học và mẫu giáo.
Ngoài ra, những thành phần khác bao gồm các Bộ, các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước cũng góp phần trong đào tạo nghề và giáo dục cho người lớn. Nhà nước ủng hộ các tổ chức giáo dục tư thục. “Luật khuyến khích giáo dục tư thục” đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01/9/2003. Sự phát triển của các trường tư thục đồng nghĩa với sự tăng lên về tổng thể các nguồn cung cho giáo dục từ đó đáp ứng tốt hơn các nhu cầu giáo dục, giúp nâng cao chất lượng cho giáo dục của Trung Quốc.
Ở Malaysia, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: GDMN, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục sau trung học. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học trong các trường công do Bộ Giáo dục quản lý, và chính sách giáo dục đại học xây dựng năm 2004 do Bộ Đại học quản lý. Riêng đối với GDMN (dành cho trẻ từ 4-6 tuổi), Chính phủ không có chương trình GDMN chính quy, ngoại trừ có một khoá bồi dưỡng chính thức để cấp chứng chỉ cho hiệu trưởng và giáo viên trước khi họ thành lập và quản lý trường mầm non. Có các chương trình GDMN khác do các nhóm tôn giáo quản lý.
10 Vì vậy, tham gia học chương trình GDMN không phổ biến ở Malaysia và nhìn chung chỉ những gia đình giàu có mới đủ khả năng cho con học trường Mầm non tư thục. Đối với Nhật Bản, hệ thống giáo dục được chuẩn hóa và thống nhất trên cả nước với đa số là các trường công lập. Nhưng cũng giống như Malaysia, GDMN (dành cho trẻ từ 3 - 5 tuổi) là cấp học không bắt buộc. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích tăng cường mở rộng và phát triển nhà trẻ, mẫu giáo theo hướng XHH nhằm tạo điều kiện cho các bà mẹ có thể yên tâm đi làm nên tỷ lệ trường Mầm non tư thục chiếm khá cao so với các cấp học khác (Trường Mầm non tư khoảng 58%, trường tiểu học tư chỉ có khoảng 1%).
Ở Phần Lan, trẻ em và thế hệ trẻ luôn có địa vị đặc biệt trong xã hội Phần Lan.Theo mô hình nhà nước phúc lợi, hầu hết mọi dịch vụ do chính phủ cung cấp cho mọi người đều miễn phí, đặc biệt đối với trẻ em. Mọi loại hình giáo dục đều miễn phí, không những thế hệ thống giáo dục còn nhận được sự hỗ trợ nhiều mặt, từ nhiều phía. Các trường học cung cấp dịch vụ y tế miễn phí; học sinh và giáo viên được phục vụ ăn miễn phí trong trường; học sinh được sử dụng miễn phí máy tính và máy in; tất cả các máy tính trong trường đều kết nối Internet; học sinh từ lớp 1 trở đi có cơ hội tiếp cận tới các máy tính để nhận email từ nhà trường và dùng vào mục đích học tập khác; học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 được cung cấp miễn phí sách giáo khoa, vở học tập và bút chì; đối với những học sinh ốm mệt trong ngày và nhà cách trường quá 5km đều được taxi hàng ngày đưa đón tới trường miễn phí. Giáo viên có quyền in hoặc sao chép các bài giảng để phát miễn phí cho học sinh làm tài liệu giảng dạy với số lượng không hạn chế.
Phần Lan chỉ có một số rất ít trường tư và ngay cả trường tư thì tài chính phần lớn cũng là từ chính quyền. - Theo nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Toản [57], hệ thống giáo dục 11 của Mỹ rất đa dạng các loại hình trường lớp: Trường công, trường tư, trường bán công, các doanh nghiệp, công ty đại học, trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, giáo dục gia đình…. Ở Mỹ, trong GDMN không có các chương trình GDMN công lập do Chính phủ quản lý. Chính phủ Liên bang chỉ có các chính sách trợ cấp cho các gia đình có thu nhập thấp để họ tự tìm kiếm nơi gửi con phù hợp.
Qua các công trình nghiên cứu trên, ta thấy hầu hết các nước phát triển kinh tế thị trường đều có một nền giáo dục đa dạng và mở với các loại hình trường học khác nhau, sử dụng đa dạng các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục là phổ biến, thể hiện được nội hàm của xã hội hoá giáo dục. Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục Mầm non tại Việt Nam Nghiên cứu về XHH GDMN đã được sự quan tâm ở nước ta trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Theo nghiên cứu “Phát triển giáo dục ngoài công lập – thực hiện chủ trương XHH giáo dục” của tác giả Bùi Tiến Hanh [37] thì phát triển giáo dục ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục) là biện pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục.
Trong những năm qua sự phát triển giáo dục ngoài công lập đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh [38] cho biết: Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ chức GDMN bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em. Vì vậy, XHH GDMN 12 nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng GDMN, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học.
Việc huy động các nguồn lực cho GDMN sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc, giáo dục, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GDMN. Theo tác giả Đào Thanh Âm, trong bài viết “Nhận thức cho đúng khái niệm XHH công tác GDMN” [34] đã cho rằng XHH sự nghiệp GDMN là một bài học thành công trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống GDMN của nước ta. Đây cũng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra. Với những suy tư, trăn trở về giáo dục, tác giả Hồ Thiệu Hùng, trong bài viết “Để GDMN vững bước trên con đường XHH” [43] cho biết: Muốn XHH GDMN thành công thì cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục.