Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non" của nghiên cứu sinh Lê Thị Huyên được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hòa, thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Mầm non), bảo vệ năm 2020.

Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ định hướng đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, trong đó nhấn mạnh chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Tính tự lập là một phẩm chất tâm lý quan trọng của nhân cách, giúp cá nhân chủ động, thích ứng với hoàn cảnh thực tiễn và gia tăng cơ hội thành công. Lứa tuổi 3 - 4 tuổi là giai đoạn trẻ bắt đầu xuất hiện nhu cầu tự lập, mong muốn tự thực hiện các thao tác, hành động giống người lớn và không muốn người lớn can thiệp sâu vào hoạt động của mình. Chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non bao gồm các chuỗi hoạt động ăn, ngủ, học, chơi, lao động tự phục vụ và vệ sinh, là phương tiện sư phạm phù hợp để tổ chức cho trẻ rèn luyện kỹ năng và hình thành thói quen tự lập.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: trong thực tiễn giáo dục mầm non, việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi chưa được quan tâm đúng mức. Do ảnh hưởng của quan niệm truyền thống Á Đông, cha mẹ thường có xu hướng bao bọc, nuông chiều, làm thay, làm hộ những công việc trẻ có thể tự làm được. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục tính tự lập trước đây chủ yếu tập trung vào độ tuổi 5 - 6 tuổi hoặc giai đoạn nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi, chưa có công trình khai thác một cách hệ thống và đồng bộ toàn bộ chế độ sinh hoạt hàng ngày như một phương tiện giáo dục tính tự lập dành riêng cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non, đề xuất một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi, tạo điều kiện và cơ hội cho trẻ được tự làm trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non và ở nhà.

Giả thuyết khoa học: Trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi đã có thể tự làm được một số việc trong sinh hoạt hàng ngày. Nếu tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày theo hướng kích thích và khuyến khích trẻ bộc lộ nhu cầu, mong muốn được tự làm và tạo cơ hội cho trẻ được tự làm, thường xuyên được hoạt động, luyện tập, thực hành, trải nghiệm,… tính tự lập của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi sẽ tốt hơn.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở một số trường mầm non.
  3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Nghiên cứu biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
  • Về khách thể khảo sát: 80 giáo viên dạy lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi, 120 trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và 120 phụ huynh của các trẻ được khảo sát.
  • Về địa bàn nghiên cứu: 8 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, bao gồm: Trường Mầm non Thực hành Đại học Hồng Đức, Mầm non Quảng Tâm, Mầm non Lam Sơn, Mầm non An Hoạch, Mầm non Đông Thọ, Mầm non Trường Thi A, Mầm non Trường Thi B và Mầm non Ngọc Trạo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân tích và tổng hợp các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tính tự lập và giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non theo các nhóm nội dung cụ thể:

  1. Những nghiên cứu về bản chất của tính tự lập: Các tác giả L.S. Vygotsky, N.A. Kuzovkova, A.N. Alekseeva, Badina, Yuri Serov, Marantseva, S.L. Rubinstein, M. Porebska, A.M. Godina, E.O. Smirnova tiếp cận bản chất tính tự lập từ nhiều góc độ. Một số tác giả xem tính tự lập là phẩm chất nhân cách gắn liền với các quá trình nhận thức (tư duy, trí nhớ, chú ý) và hoạt động ý chí; số khác xem tính tự lập là năng lực hành động độc lập, khả năng tự đặt mục tiêu, kiên trì giải quyết nhiệm vụ mà không cần sự giúp đỡ từ người khác. Luận án tổng hợp và xác định bản chất tính tự lập của trẻ là một phẩm chất nhân cách thể hiện ở năng lực cá nhân với sự tham gia của ý chí và tinh thần trách nhiệm.

  2. Những nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tính tự lập: Các nghiên cứu của A.A. Lyublinskaya, Nguyễn Hồng Thuận, Nguyễn Ánh Tuyết, Natalya, Frenck, S. Teplyuk, Maria Montessori khẳng định tính tự lập nảy sinh từ sớm (khoảng 18 tháng đến 3 tuổi) thông qua nhu cầu tự hoạt động và tự ý thức. Tính tự lập hình thành qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn tự thể hiện nhu cầu cá nhân (bắt chước thao tác người lớn), giai đoạn tự tái tạo (tập làm công việc quen thuộc qua hoạt động hàng ngày và trò chơi) và giai đoạn tự lập sáng tạo (chủ động giải quyết nhiệm vụ trong điều kiện mới).

  3. Những nghiên cứu về cấu trúc tâm lý của tính tự lập: Các tác giả S.V. Borisova, Zvereva, Vlasova, T. Molnar, A.M. Godina đưa ra các mô hình cấu trúc khác nhau. Luận án kế thừa quan điểm cấu trúc tâm lý gồm 3 thành phần có mối quan hệ qua lại: Nhận thức, Thái độ (xúc cảm, tình cảm) và Hành vi.

  4. Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện giáo dục tính tự lập: Các tác giả H. Goodenough, S.V. Borisova, G.A. Uruntayeva, N. Ubranckaia, Vũ Huyền Trinh, Nguyễn Hồng Thuận, I. Baisheva, M.S. Abdulova, Maria Montessori, Eliseeva, J. Pôntaxeva, Nguyễn Thanh Huyền phân tích hai nhóm điều kiện tác động: điều kiện tâm lý bên trong (nhu cầu, hứng thú, ý chí, lòng tự tin) và điều kiện sư phạm bên ngoài (môi trường vật chất, phương pháp của giáo viên, sự tương tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường).

  5. Những nghiên cứu về giáo dục tính tự lập thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày và các dạng hoạt động: Các tác giả Deborah Stewart, Daria Tomaeva, Hoàng Thị Phương, Nguyễn Thanh Huyền, Sheryl, Manuscript, Olga Cherenkov khẳng định tính lặp lại có chu kỳ của chế độ sinh hoạt giúp củng cố kỹ năng và thói quen tự lập. Olga Sergienko, Victoria Vinogradova, Carrie Shrier, Voronchikhina, Schukina, I. Baisheva tập trung vào nội dung giáo dục tự phục vụ và tinh thần trách nhiệm. Về phương tiện hoạt động, N. Acxarina, G.A. Uruntayeva, Ivanenko, Evseeva lựa chọn hoạt động lao động tự phục vụ và lao động ngoài thiên nhiên; L.S. Vygotsky, Yandex, Voronchikhina nhấn mạnh hoạt động vui chơi; Nguyễn Hồng Thuận nghiên cứu chế độ sinh hoạt trong gia đình cho trẻ 5 - 6 tuổi; Nguyễn Thị Mỹ Lộc nghiên cứu qua hoạt động tạo hình.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu trên trẻ 5 - 6 tuổi hoặc trẻ nhà trẻ, hoặc chỉ khai thác từng hoạt động riêng lẻ (chơi, lao động tự phục vụ, tạo hình). Luận án của Lê Thị Huyên lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục tính tự lập đồng bộ thông qua toàn bộ các khâu của chế độ sinh hoạt hàng ngày dành riêng cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án xác lập các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu dựa trên sự đối sánh thuật ngữ tiếng Pháp (Indépendant), tiếng Anh (Self-reliance, Independence), tiếng Nga (самостоятельность, Независимость) và các từ điển chuyên ngành (Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Nguyễn Thanh Huyền, I.S. Kon, V.S. Myazin, Nguyễn Hồng Thuận):

  • Tính tự lập: Là một phẩm chất nhân cách, thể hiện ở năng lực của cá nhân biết tự đưa ra quyết định và tự thực hiện quyết định đã lựa chọn mà không phụ thuộc vào người khác, luôn cố gắng nỗ lực và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của bản thân để thực hiện mục đích đề ra.
  • Tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi: Là một phẩm chất tâm lý được thể hiện ở năng lực tự đưa ra sự lựa chọn, tự làm, tự thực hiện theo quyết định của cá nhân trẻ hoặc nhiệm vụ được giao đến cùng với sự cố gắng của bản thân để thực hiện mục đích đề ra.
  • Cấu trúc tâm lý tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi: Gồm ba thành phần: Nhận thức (ý thức về nhu cầu, trách nhiệm, nhiệm vụ), Thái độ (sự yêu thích, tính tích cực, kiên trì, không bỏ dở) và Hành vi (mức độ tự làm, chủ động tìm phương tiện, nhờ trợ giúp hợp lý).
  • Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non: Là sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày ở cơ sở giáo dục mầm non một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lý của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nền nếp, thói quen và những kỹ năng sống tích cực (theo Chương trình Giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, M. Chuvalova, Nguyễn Thị Hòa, Hoàng Thị Phương).
  • Giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non: Là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục với trẻ thông qua việc tổ chức các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày nhằm giáo dục tính tự lập cho trẻ.

Quan điểm tiếp cận

Luận án vận dụng 5 quan điểm tiếp cận khoa học:

  • Tiếp cận hoạt động: Coi trẻ là chủ thể hoạt động, tính tự lập được hình thành và phát triển thông qua việc trẻ trực tiếp thực hành trong chế độ sinh hoạt.
  • Tiếp cận tích hợp: Lồng ghép nội dung giáo dục tính tự lập vào tất cả các thời điểm sinh hoạt trong ngày (đón trẻ, học, chơi, ăn, ngủ, vệ sinh, trả trẻ).
  • Tiếp cận hệ thống: Xem xét trẻ trong mối quan hệ tổng thể giữa thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm và các yếu tố môi trường.
  • Tiếp cận phát triển: Tổ chức các yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi.
  • Tiếp cận cá thể hóa: Quan tâm đến đặc điểm, nhu cầu, khả năng riêng biệt của từng trẻ để tạo cơ hội tự lập phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các nhóm phương pháp:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các nguồn tài liệu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên và trẻ trong sinh hoạt hàng ngày; kết hợp ghi chép, chụp ảnh, quay băng hình.
    • Phương pháp điều tra viết: Sử dụng phiếu hỏi (Phụ lục 1 và Phụ lục 2) khảo sát 80 giáo viên và 120 phụ huynh tại 8 trường mầm non.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên, phụ huynh và trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích giáo án, kế hoạch tổ chức hoạt động ngày của giáo viên mầm non.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm thăm dò và thực nghiệm chính thức trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20 để tính toán các tham số: Điểm trung bình cộng (Mean), Độ lệch chuẩn (Standard Deviation), tỷ lệ phần trăm, tần suất; thực hiện kiểm định Paired Samples t-test nhằm so sánh giá trị trung bình trước và sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng dựa trên mức ý nghĩa $p < 0,05$ (sig $< 0,05$).
Thông số nghiên cứu Đặc tính quy định trong luận án
Chuyên ngành đào tạo Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Cấu trúc tâm lý tính tự lập 3 thành phần: Nhận thức - Thái độ - Hành vi
Khách thể khảo sát thực trạng 80 giáo viên, 120 trẻ 3 - 4 tuổi, 120 phụ huynh
Địa bàn khảo sát 8 trường mầm non tại thành phố Thanh Hóa
Phần mềm xử lý số liệu SPSS phiên bản 20 (Mean, SD, Paired Samples t-test)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý thuyết toàn diện cho đề tài:

  • Luận giải vai trò của tính tự lập đối với sự phát triển nhân cách trẻ 3 - 4 tuổi trên các phương diện: phát triển thể chất (tăng cường vận động thô và vận động tinh, giúp vận động chính xác), phát triển nhận thức và tâm lý (rèn luyện tư duy, ghi nhớ, chú ý), làm giàu xúc cảm tình cảm (tự hào, tự tin khi hoàn thành việc), phát triển ngôn ngữ (bộc lộ nhu cầu, giao tiếp xã hội) và tăng cường khả năng thích ứng với môi trường tập thể.
  • Phân tích đặc điểm tâm sinh lý trẻ 3 - 4 tuổi: Về sinh lý, kỹ năng vận động thô (chạy, nhảy, leo trèo) và vận động tinh (xâu hạt, xây dựng, vẽ, nặn, xé dán, tự xúc ăn, tự mặc quần áo) phát triển nhưng hệ xương còn mềm, vận động còn vụng về; không có sự khác biệt giữa bé trai và bé gái về năng lực vận động. Về tâm lý, trẻ xuất hiện ý thức về cái tôi ("để con tự làm lấy"), ghi nhớ nhanh nhưng nhanh quên, chú ý tăng về khối lượng nhưng dễ bị phân tán nếu hoạt động lặp lại đơn điệu, tư duy trực quan chiếm ưu thế, vốn từ phát triển đạt 800 - 1926 từ (theo nghiên cứu của E. Arkin), cảm xúc gắn liền với hành động thực tế và rất thích được khen ngợi.
  • Xác định cấu trúc tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi gồm 3 thành phần: Nhận thức, Thái độ và Hành vi.
  • Phân tích ưu thế của chế độ sinh hoạt hàng ngày gồm các thời điểm: đón trẻ, thể dục sáng, hoạt động học, hoạt động chơi ở các góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động ăn, hoạt động ngủ, hoạt động vệ sinh, hoạt động chiều và trả trẻ.
  • Xác định hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục tính tự lập: nhóm yếu tố chủ quan bên trong (nhu cầu, năng lực thể chất, ý chí của trẻ) và nhóm yếu tố khách quan bên ngoài (môi trường sư phạm, năng lực tổ chức của giáo viên, sự phối hợp của gia đình).

Chương 2: Thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở một số trường mầm non Thành phố Thanh Hóa

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 8 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa với 80 giáo viên, 120 phụ huynh và 120 trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi:

  • Thực trạng nhận thức: Phần lớn giáo viên và phụ huynh đều nhận thức được sự cần thiết của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi (Bảng 2.1 và Bảng 2.7).
  • Thực trạng nội dung, phương pháp, hình thức và biện pháp: Giáo viên đã chú ý lồng ghép nội dung tự lập trong các hoạt động tự phục vụ, tuy nhiên việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức chưa thực sự đa dạng; còn tình trạng giáo viên và phụ huynh làm thay, làm hộ do tâm lý sợ trẻ làm bẩn, làm hỏng hoặc mất thời gian (Bảng 2.2, Bảng 2.3, Bảng 2.4, Bảng 2.5).
  • Thực trạng đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng: Việc đánh giá kết quả tính tự lập của trẻ chưa được tiến hành thường xuyên theo tiêu chí rõ ràng (Bảng 2.6); các yếu tố về môi trường cơ sở vật chất, sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục (Bảng 2.8, Bảng 2.9).
  • Thực trạng biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi: Khảo sát thực trạng tính tự lập của 120 trẻ qua 3 tiêu chí cấu trúc (Bảng 2.10 và Bảng 2.11) cho thấy mức độ tính tự lập của trẻ nhìn chung đạt mức trung bình, có sự chênh lệch giữa các tiêu chí (tiêu chí hành vi và thái độ thể hiện rõ hơn tiêu chí nhận thức), đặt ra yêu cầu cần xây dựng hệ thống biện pháp tác động sư phạm phù hợp.

Chương 3: Biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non

Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm và đánh giá hiệu quả qua thực nghiệm:

  • Các nguyên tắc đề xuất biện pháp: Đảm bảo tính mục đích, tính hệ thống, tính vừa sức và phù hợp đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, tính tích hợp trong chế độ sinh hoạt hàng ngày và phát huy vai trò chủ thể của trẻ.
  • Hệ thống các biện pháp giáo dục tính tự lập được thiết kế theo từng khâu của chế độ sinh hoạt:
    • Biện pháp tạo môi trường tâm lý thân thiện và môi trường vật chất thuận tiện nhằm kích thích nhu cầu tự làm của trẻ.
    • Biện pháp tổ chức rèn luyện kỹ năng tự phục vụ trong các hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, đón và trả trẻ.
    • Biện pháp khai thác hoạt động vui chơi (chơi phân vai, chơi xây dựng, trò chơi học tập) để phát triển tính chủ động, khả năng lựa chọn và giải quyết nhiệm vụ.
    • Biện pháp hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt động lao động tự phục vụ và lao động chăm sóc thiên nhiên đơn giản.
    • Biện pháp phối hợp đồng bộ giữa giáo viên mầm non và cha mẹ trẻ trong việc duy trì thói quen tự lập tại gia đình.
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm:
    • Tiến hành thực nghiệm thăm dò (Bảng 3.1) và thực nghiệm chính thức trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC).
    • Kiểm tra trước thực nghiệm (TTN) cho thấy mức độ tính tự lập của 2 nhóm tương đương nhau qua 3 tiêu chí (Bảng 3.2, Bảng 3.3, Bảng 3.4).
    • Sau khi tiến hành tác động sư phạm bằng hệ thống biện pháp đề xuất ở nhóm TN và áp dụng phương pháp hiện hành ở nhóm ĐC, kết quả sau thực nghiệm (STN) ghi nhận sự chuyển biến rõ rệt ở nhóm TN (Bảng 3.5, Bảng 3.6, Bảng 3.7, Bảng 3.8, Bảng 3.9).
    • So sánh giới tính: Trẻ trai và trẻ gái ở nhóm thực nghiệm đều có sự tiến bộ tương đương sau thực nghiệm (Bảng 3.10).
    • Kiểm định thống kê: Sử dụng Paired Samples t-test trên phần mềm SPSS 20 cho thấy sự khác biệt về điểm trung bình trước và sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm có ý nghĩa thống kê ($sig < 0,05$), trong khi nhóm đối chứng có sự thay đổi không đáng kể (Bảng 3.11, Bảng 3.12).
Danh mục bảng thực nghiệm (Chương 3) Nội dung thống kê phân tích
Bảng 3.1 Kết quả trước và sau TN của nhóm thực nghiệm thăm dò
Bảng 3.2 & Bảng 3.3 Mức độ tính tự lập của 2 nhóm ĐC và TN trước TN qua 3 tiêu chí và từng tiêu chí
Bảng 3.4 Mức độ tính tự lập của trẻ trai và trẻ gái ở 2 nhóm ĐC và TN trước TN
Bảng 3.5 & Bảng 3.6 Mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ nhóm ĐC và TN sau TN theo từng tiêu chí và tổng thể
Bảng 3.7 & Bảng 3.8 So sánh kết quả tính tự lập trước và sau TN riêng biệt của nhóm ĐC và nhóm TN
Bảng 3.9 So sánh kết quả mức độ biểu hiện tính tự lập trước và sau TN giữa nhóm ĐC và nhóm TN
Bảng 3.10 So sánh mức độ tính tự lập giữa trẻ gái và trẻ trai lớp thực nghiệm trước và sau TN
Bảng 3.11 & Bảng 3.12 Kiểm định kết quả thực nghiệm nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN (t-test, sig)

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và làm phong phú cơ sở lý luận về giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
  • Làm rõ khái niệm tính tự lập, cấu trúc tâm lý gồm 3 thành phần (Nhận thức, Thái độ, Hành vi) và quy luật phát triển tính tự lập qua 3 giai đoạn ở lứa tuổi 3 - 4 tuổi.
  • Khẳng định và luận giải vị trí của chế độ sinh hoạt hàng ngày như một phương tiện sư phạm tích hợp toàn diện để hình thành và phát triển phẩm chất tự lập cho trẻ.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp dữ liệu thực trạng khách quan về nhận thức của giáo viên, phụ huynh cũng như thực trạng mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi tại 8 trường mầm non thành phố Thanh Hóa.
  • Đề xuất hệ thống các biện pháp giáo dục tính tự lập có tính khả thi, gắn liền với các thời điểm sinh hoạt trong ngày của trường mầm non, được kiểm chứng hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non, cũng như các bậc phụ huynh trong việc phối hợp chăm sóc, giáo dục trẻ.

Khuyến nghị sư phạm

  • Đối với các cơ sở giáo dục mầm non: Cần xây dựng kế hoạch giáo dục theo hướng tích hợp, tạo điều kiện cho trẻ được tự trải nghiệm, thực hành kỹ năng tự phục vụ trong mọi hoạt động của chế độ sinh hoạt hàng ngày.
  • Đối với giáo viên mầm non: Chuyển đổi vai trò từ người làm thay sang người hướng dẫn, tổ chức môi trường, kiên nhẫn tạo cơ hội cho trẻ tự làm và động viên, khen ngợi kịp thời.
  • Đối với cha mẹ trẻ: Cần thống nhất quan điểm giáo dục với nhà trường, không bao bọc quá mức, trao quyền và khuyến khích trẻ tự thực hiện các nhiệm vụ sinh hoạt cá nhân tại gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung tại 8 trường mầm non thuộc khu vực đô thị (thành phố Thanh Hóa), quy mô mẫu khảo sát giới hạn ở 80 giáo viên, 120 trẻ và 120 phụ huynh; chưa mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các trường mầm non ở vùng nông thôn, miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội khác biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát và thử nghiệm hệ thống biện pháp trên các địa bàn đa dạng; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc theo dõi tính liên tục của sự phát triển tính tự lập khi trẻ chuyển tiếp lên các độ tuổi mẫu giáo tiếp theo (4 - 5 tuổi và 5 - 6 tuổi).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lý thuyết cấu trúc tâm lý tính tự lập (Nhận thức - Thái độ - Hành vi), quy trình thiết kế công cụ điều tra (phiếu hỏi phụ lục 1 & 2), kỹ thuật quan sát sư phạm và quy trình xử lý số liệu thống kê thực nghiệm bằng SPSS phiên bản 20 (Mean, SD, Paired Samples t-test).
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tài liệu hỗ trợ giảng dạy các học phần Giáo dục học Mầm non, Tổ chức hoạt động sinh hoạt hàng ngày và Phương pháp giáo dục trẻ em.
  • Đối với cán bộ quản lý và giáo viên mầm non: Cung cấp quy trình tổ chức thực hành từng khâu trong chế độ sinh hoạt hàng ngày (ăn, ngủ, chơi, lao động, vệ sinh) theo hướng tăng cường tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Cung cấp các chỉ dẫn khoa học về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi lên ba và các cách thức hỗ trợ con rèn luyện thói quen tự phục vụ tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cấu trúc tâm lý tính tự lập của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi trong luận án gồm những thành phần nào? Luận án xác định cấu trúc tâm lý tính tự lập của trẻ 3 - 4 tuổi gồm 3 thành phần: Nhận thức (khả năng hiểu biết về công việc cần làm, ý thức trách nhiệm về nhiệm vụ), Thái độ (xúc cảm, tình cảm, sự hào hứng, tính kiên trì, không bỏ dở công việc) và Hành vi (mức độ tự bắt chước, tự thao tác, chủ động tìm kiếm phương tiện hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ hợp lý khi gặp khó khăn).

  2. Tại sao chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non được chọn làm phương tiện giáo dục tính tự lập cho trẻ 3 - 4 tuổi? Chế độ sinh hoạt hàng ngày có tính lặp đi lặp lại có chu kỳ khoa học, bao gồm đầy đủ các dạng hoạt động tự nhiên của trẻ (ăn, ngủ, chơi, học, lao động tự phục vụ, vệ sinh). Đây là môi trường thực tế diễn ra thường xuyên, tạo nhiều cơ hội để trẻ được trực tiếp thực hành, trải nghiệm, củng cố nề nếp thói quen và rèn luyện kỹ năng tự làm mà không bị gò bó.

  3. Quy mô khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng của luận án được thực hiện như thế nào? Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 80 giáo viên dạy lớp 3 - 4 tuổi, 120 trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi và 120 phụ huynh của các trẻ này, tại 8 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa: MN Thực Hành Đại học Hồng Đức, MN Quảng Tâm, MN Lam Sơn, MN An Hoạch, MN Đông Thọ, MN Trường Thi A, MN Trường Thi B và MN Ngọc Trạo.

  4. Phần mềm và kỹ thuật thống kê nào được sử dụng để xử lý dữ liệu trong luận án? Luận án sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20. Các kỹ thuật và chỉ số thống kê bao gồm: tính điểm trung bình cộng (Mean), độ lệch chuẩn (Standard Deviation), tính tần suất và tỷ lệ phần trăm, sử dụng phép kiểm định Paired Samples t-test để so sánh giá trị trung bình trước và sau thực nghiệm với mức ý nghĩa kiểm định $p < 0,05$ (sig $< 0,05$).

  5. Sự khác biệt về khả năng vận động và tính tự lập giữa trẻ trai và trẻ gái 3 - 4 tuổi được luận án ghi nhận như thế nào? Luận án chỉ ra rằng ở độ tuổi 3 - 4 tuổi, giữa trẻ trai và trẻ gái không có sự khác biệt rõ rệt về khả năng vận động. Kết quả thực nghiệm sư phạm (Bảng 3.10) cũng chứng minh sau quá trình tác động bằng các biện pháp sư phạm, mức độ tiến bộ về tính tự lập của trẻ trai và trẻ gái ở lớp thực nghiệm diễn ra đồng đều qua các tiêu chí.

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thị Huyên đã giải quyết một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non. Trên cơ sở làm rõ cấu trúc tâm lý 3 thành phần và khảo sát thực trạng tại 8 trường mầm non ở thành phố Thanh Hóa, đề tài đã đề xuất và thực nghiệm thành công hệ thống các biện pháp sư phạm tích hợp. Kết quả xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20 khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất, đóng góp tư liệu chuyên môn cho ngành Giáo dục Mầm non.