CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ chủ động phòng ngừa những hậu quả đáng tiếc do TNTT gây ra đối với trẻ. Vì vậy, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, các cơ quan, tổ chức Y tế. trong và ngoài nước.
Tựu trung lại, có thể tổng hợp thành các hướng nghiên cứu chính như sau: 1. Nghiên cứu tai nạn, thương tích ở trẻ em Các nghiên cứu theo hướng này trước hết đã khẳng định sự cần thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em, chỉ rõ những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ, từ đó, đề xuất các chiến lược, chương trình hành động, biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu TNTT ở trẻ em. Về sự cần thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em: Nghiên cứu về sự cần thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em chủ yếu được đề cập đến trong một số tài liệu như: tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [66], Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) [60], Cơ quan Y tế công cộng nước Anh (Public Healthy England) [69], Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội [10]. Những tài liệu này đã chỉ ra thực trạng đáng báo động về tình hình TNTT của trẻ em trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay và sự cấp thiết của vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ.
Trong đó, TNTT được xem là “kẻ giết người nguy hiểm đối với trẻ em trên toàn thế giới” [66], đồng thời, xác định vấn đề TNTT trẻ em “đang trở thành vấn đề y tế cộng đồng đe dọa tới sự sống còn và phát triển của trẻ” [10]. Tính cấp thiết của vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ em còn được thể hiện trong các văn bản, chỉ thị của Nhà nước, của các Bộ, ngành liên quan như: Bộ Y tế [11, 55], Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10], Bộ Giáo dục và Đào tạo [8], trong các chương trình, dự án giáo dục KN phòng tránh TNTT do các tổ chức phi chính phủ phối hợp với chính phủ Việt Nam thực hiện [3]. Về các yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ em: Một số nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu, phân tích những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ em, trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả:Rahul Bhamkar, Bageshree Seth và Maninder Singh Setia [70], Robert Eberl cùng các cộng sự [72], Trần Văn Nam [35], Nguyễn Thúy Quỳnh [43],…hay các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [66], của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10]… Nhìn chung, những yếu tố nguy cơ liên 9 quan đến TNTT ở trẻ em được phân tích trong các nghiên cứu trên khá đa dạng, phong phú,nhưng tựu trung lại, có thể tổng hợp thành 3 yếu tố chính, đó là yếu tố bản thân đứa trẻ (lứa tuổi, giới tính, kiến thức, KN, kinh nghiệm về phòng tránh TNTT.); yếu tố môi trường - Xã hội (điều kiện sống của gia đình, trình độ học vấn, ý thức của người lớn về bảo vệ an toàn cho trẻ. ); yếu tố tác nhân (phương tiện giao thông, nhà cửa, trang thiết bị, đồ dùng, các chất độc hại.
Việc hiểu rõ các yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT của trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những yếu tố nào có thể hỗ trợ, thúc đẩy quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ và ngược lại, những yếu tố nào sẽ kìm hãm, cản trở quá trình ấy, từ đó, đề xuất nội dung, biện pháp và hình thức giáo dục trẻ hợp lý và có hiệu quả. Về các chiến lược, chương trình hành động, biện pháp phòng tránh TNTT cho trẻ em: Trên cơ sở khẳng định tính cấp thiết của vấn đề phòng ngừa TNTT cho trẻ em cũng như chỉ rõ những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ, các nghiên cứu đã đi đến xác định một số chiến lược, kế hoạch hành động, biện pháp nhằm giảm thiểu TNTT cho trẻ. Nội dung này trước hết được thể hiện trong các tài liệu của Tổ chức Y tếThế giới [66],Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) [60], Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10]. Cụ thể, các tài liệu đề xuất một số chiến lược, kế hoạch hành động, biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gianhư: xác định tầm quan trọng của vấn đề thông qua giám sát và thu thập dữ liệu; tăng cường xây dựng và thực thi pháp luật; thay đổi thiết kế sản phẩm; thay đổi môi trường; giáo dục và phát triển KN; chăm sóc y tế khẩn cấp.
Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu liên quan đến những giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu hậu quả của TNTT gây ra đối với trẻ em từ 0-15 tuổi [35]; phòng chống TNTT cho học sinh tiểu học [43], tác giả Trần Văn Nam, Nguyễn Thúy Quỳnh…đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt của một số giải pháp như: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong phòng ngừa TNTT, đối với học sinh tiểu học, tích hợp giáo dục KN phòng tránh TNTT trong chương trình chính khóa hoặc ngoại khóa; xã hội hóa công tác phòng chống TNTT; Nâng cao chất lượng chuyên môn cho cán bộ y tế. Trong số các kế hoạch hành động và giải pháp nêu trên, giải pháp giáo dục và phát triển KN nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi phòng tránh TNTT được xem là giải pháp có tính chủ động trong việc phòng ngừa TNTT cho trẻ. Theo Nguyễn Thúy Quỳnh [43], những kiến thức liên quan đến vấn đề phòng tránh TNTT thường khá khô khan và phức tạp, cho nên, các nội dung, biện pháp giáo dục cần phải được xây dựng, thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ nhận thức của trẻ. Đây cũng là một trong những vấn đề sẽ được đặt ra trong nghiên cứu của luận án.
10 Tóm lại, các tài liệu, nghiên cứu trên đây đã cho thấy được tính cấp thiết của vấn đề phòng ngừa TNTT, chỉ rõ những yếu tố nguy cơ có liên quan đến TNTT, cũng như các chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp phòng ngừa TNTT ở trẻ. Mặc dù, các nghiên cứu không đi sâu vào khía cạnh giáo dục KN phòng tránh TNTT, song những kết quả nghiên cứu đó có giá trị định hướng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến TNTT ở trẻ em cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ. Nghiên cứu kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ em Các nghiên cứu theo hướng này trước hết nhìn nhận KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em, đồng thời xác định một số KN cụ thể giúp trẻ phòng tránh TNTT có hiệu quả khi gặp tình huống nguy hiểm. Về nghiên cứu KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em: Các nghiên cứu xem xét KN phòng tránh TNTT dưới góc độ là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em trước hết được thể hiện ở một số tài liệu của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hay của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF).
Theo UNESCO, KN sống được chia thành 2 nhóm: Nhóm KN chung và nhóm KN chuyên biệt, trong đó, ở nhóm KN chuyên biệt, tài liệu có đề cập các KN liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng, KN ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro. UNICEF khi tiến hành phân loại các nhóm KN sống cơ bản ở trẻ em đã xác định: KN bảo vệ bản thân là một trong những KN sống cần thiết thuộc nhóm KN tự nhận thức và sống với chính mình [6]. Cũng theo hướng này, khi nghiên cứu các nhóm KN sống cần thiết của học sinh tiểu học, Trương Thị Hoa Bích Dung đã xếp KN phòng tránh TNTT vào nhóm KN quản lý bản thân, cụ thể là: trẻ biết sử dụng các vật dụng thông thường, xử lý khi bị chấn thương nhỏ, tham gia giao thông an toàn. Lê Bích Ngọc xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống cần thiết của trẻ mẫu giáo và xếp chúng vào nhóm KN ý thức về bản thân, bao gồm: KN thực hiện quy tắc an toàn thông thường (quy tắc giao thông, quy tắc ăn uống), KNphòng chống các tai nạn thông thường (nhận ra và tránh xa vật nguy hiểm, nơi nguy hiểm, hành động nguy hiểm, gọi người giúp đỡ khi khẩn cấp).
Nhìn chung, các tài liệu, nghiên cứu trên đây chủ yếu đều xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của con người nói chung, trẻ em nói riêng và xếp chúng vào nhóm KNtự nhận thức và quản lý bản thân. Các tác giả Trương Thị Hoa Bích Dung, Lê Bích Ngọc bước đầu đã xác định được một số KN phòng tránh TNTT cụ thể phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ ở hai giai đoạn lứa 11 tuổi mầm non và tiểu học; trong đó, nếu xem xét kỹ thì có thể nhận thấy, cả hai độ tuổi trên đều cần phải có những KN phòng tránh TNTT cơ bản như: KN sử dụng các vật dụng thông thường (hay KN nhận ra và tránh xa các vật nguy hiểm), KN ăn uống an toàn, KN tham gia giao thông an toàn. Về phân loại KN phòng tránh TNTT của trẻ em: Các nghiên cứu về phân loại KN phòng tránh TNTT có ba hướng cơ bản: - Ở hướng thứ nhất, các tác giả đã dựa vào tiến trình (các giai đoạn) thực hiện hành động của chủ thể khi ứng phó với tình huống nguy hiểm để xác định những KN phòng tránh TNTT cần thiết. Có thể kể đến một số tác giả nghiên cứu theo hướng nàynhư: Raymond G.
Cụ thể, Raymond G. Miltenberge cho rằng, có 3 KN mà trẻ cần có để ứng phó với một tình huống nguy hiểm, đó là: 1) Nhận biết tình huống nguy hiểm và tránh tiếp xúc với chúng; 2) Thực hiện hành động để thoát ra khỏi tình huống đó; 3) Thông báo với người lớn về mối nguy hiểm cần loại bỏ. Theo phân tích của tác giả, khi một đứa trẻ nhận biết được mối nguy hiểm nào đó, thì KN đầu tiên là trẻ cần biết phải tránh tiếp xúc với chúng (ví dụ tránh tiếp xúc với khẩu súng khi không có người giám sát.