Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 1.1 Quan niệm về kỹ năng sống Giáo dục những KN cần thiết trong cuộc sống cho HS được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu khá sớm, vào những năm 1960, trong giai đoạn này các nhà khoa học đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KNS, tuy nhiên phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này đều cho rằng KNS chính là KN xã hội như tác giả Altman và Taylor, ông nói về KN cần thiết để thực hiện các mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội. Với nhà khoa học Alpert và Haber cho rằng sự lo lắng của một cá nhân có thể ảnh hưởng lớn đến thành tích học tập cũng như các mối quan hệ xã hội. Do đó các nhà khoa học cho rằng nếu người học được trang bị các KN để giải tỏa được những căng thẳng thì sẽ mang lại kết quả học tập và quan hệ xã hội tốt hơn (Alpert, 1960; Altman, 1965; Argyle, 1984). Vào cuối thế kỷ XX, xuất hiện những quan điểm khác nhau về KNS của các tổ chức lớn trên thế giới như UNICEF, UNESCO, WHO.
UNICEF cho rằng KNS là quá trình hoạt động của con người nhằm thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Quan điểm này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, KN và hình thành thái độ. WHO cho rằng “KNS là những hành vi thích ứng và tích cực của con người để có thể ứng xử hiệu quả trước những nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (WHO, 1999; Rasnack, 2011). Cả hai quan điểm này cho rằng KNS chính là KN xã hội.
Trong khi đó, quan niệm về KNS của UNESCO có nội hàm rộng hơn, nó bao gồm những năng lực để thực hiện đầy đủ chức năng tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Như vậy quan điểm về KNS của UNESCO bao gồm luôn những KN cơ bản như KN đọc, viết, tính toán và cả những KN trong cuộc sống. Trong khi đó KN xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong số những KN cần thiết trong cuộc sống hàng ngày (UNESCO, 2003). Cùng quan điểm của UNESCO, tác giả Hamburg cho rằng “KNS là những 9 KN cần thiết để sống sót, sống với người khác và thành công trong một xã hội phức tạp” (Hamburg, 1990) hay tác giả Susan B.
Mundell Karen Delario cho rằng “KNS bao gồm tất cả các KN mà HS sẽ cần để thành công trong cuộc sống và đọc, viết và toán là một phần của những KNS” (Delario và cộng sự, 1994). Theo Hendricks cho rằng “KNS là những KN giúp HS có nguy cơ thích nghi và ứng xử tích cực để có thể đối phó hiệu quả với những thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Điều quan trọng là họ sống sót ở trường hoặc ngoài trường học, các KN cần thiết làm được điều đó là các KN xã hội, nhận thức và sức khỏe (Mansor, 2017). Năm 2011, trong công trình nghiên cứu về việc GDKNS thông qua HĐTN giáo sư Punam Bansal và cộng sự của ông quan niệm “KNS là công cụ mà HS và người lớn sử dụng để đối phó với hoàn cảnh hàng ngày, đưa ra quyết định quan trọng và nâng cao chất lượng cuộc sống hàng ngày của họ” (Bansal, 2011).
Ở Việt Nam, giáo dục con người có những KN như đối nhân xử thế, biết làm ăn, biết ứng phó với những thách thức của tự nhiên, cuộc sống đã có từ rất lâu trong những câu ca dao, tục ngữ. Trong giáo dục Việt Nam thì quan điểm học để làm người là một mục tiêu quan trọng. Tuy nhiên những nội dung giáo dục lúc đó chưa được gọi là GDKNS. Thuật ngữ KNS được biết đến vào năm 1996 thông qua chương trình “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chóng HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện (Nguyễn Thanh Bình, 2007).
KNS giai đoạn này được hiểu là những KN ứng phó với nhũng tình huống xã hội, bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội của nhóm người có khả năng lâm vào các tệ nạn xã hội (Nguyễn Thanh Bình, 2006). Khái niệm KNS được hiểu cụ thể và ràng về thực chất sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO tài trợ tổ chức tại Hà Nội năm 2003. Những nhà giáo dục nhận định rõ hơn GDKNS và trách nhiệm phải GDKNS cho tất cả mọi người đặc biệt là HS sinh viên chính quy chứ không phải chỉ dành cho đối tượng có nguy cơ như trước đây. KNS được hiểu với nghĩa rộng bao gồm cả KN xã hội thể hiện sự tương tác của cá nhân trong các quan hệ xã hội và những KN cơ bản như đọc, 10 viết, tính toán… Năm 2010 trong tài liệu dành cho GV: “GDKNS trong các môn học ở TH” cho rằng KNS là cầu nối giúp con người chuyển hoá kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực giúp thúc dẩy sự phát triển cá nhân và xã hội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010).
Cũng trong năm này tác giả Phan Thanh Vân cho rằng “KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách thay đổi tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” (Phan Thanh Vân, 2010). Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng cho rằng “KNS là khả năng cá nhân thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân, hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà chủ thể có được. Tác giả Ngô Thị Tuyên đã chỉ ra rằng “KNS là năng lực thực hiện KN về thể chất, KN về xã hội và các KN cơ bản” (Ngô Thị Tuyên, 2010). Tác giả Nguyễn Dục Quang cho rằng “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống” (Nguyễn Dục Quang, 2012).
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “… KNS còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại. Nghiên cứu của nhóm Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng không chỉ nói tới KNS hay GDKNS mà nhóm tác giả khai thác thêm khía cạnh giá trị sống. Các tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa KNS và giá trị sống. Để tăng hiệu quả GDKNS cho HS thì cần kết hợp giáo dục giá trị sống cho HS trước làm nền tảng cho việc GDKNS (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cộng sự, 2010).
Như vậy từ các nghiên cứu về quan điểm KNS của nhiều tác giả và các tổ chức lớn trên thế giới cho thấy quan điểm về KNS còn chưa thống nhất. Tuy nhiên phần lớn các quan điểm của các nhà khoa học đều thiên về quan điểm KNS gồm những năng lực để thực hiện đầy đủ chức năng tham gia vào cuộc sống hàng ngày và 11 nâng cao chất lượng cuộc sống, KNS của HS thể hiện chất lượng của giáo dục.2 Nội dung giáo dục kỹ năng sống Năm 1979 Gilbert Botvin, nhà khoa học người Mỹ đưa ra một số chương trình GDKNS cho HS từ lớp 7 đến lớp 9, chương trình của ông tập trung giáo dục các KN như: Tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề. Chương trình GDKNS này đã nhanh chóng được tổ chức ở nhiều cơ sở giáo dục khác nhau, từ trường công lập đến những trung tâm giáo dưỡng. Như vậy ông cho rằng HS chính quy hay những trẻ chưa vị thành niên mà có những hành vi vi phạm pháp luật đều cần được giáo dục những KN cần thiết trước khi tham gia vào cuộc sống xã hội (Pan American Health Organization, 2000).
Cũng như nghiên cứu của Botvin, tác giả Argyle đã nêu ra sự cần thiết giáo dục KN xã hội và đề xuất những biện pháp giáo dục KN xã hội nhằm giáo dục nhũng KN cần thiết để con người có thể phòng tránh hay giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống. Chính sự cần thiết của nó nên giáo dục KN xã hội xuất hiện trong hầu hết các chương trình đào tạo các lĩnh vực khác nhau như đào tạo GV, bác sĩ và những ngành nghề khác kể cả những ngành nghề đào tạo để làm việc trong những nền văn hóa khác nhau (Argyle, 1984). Cuối thế kỷ XX, nhiều chương trình GDKNS đực thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như UNICEF, UNESCO, WHO. GDKNS được đẩy mạnh qua nhiều cách khác nhau như tổ chức hội thảo, cung cấp tài liệu.
Nội dung GDKNS giai đoạn này ở khu vực Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào các KN nhằm chăm sóc sức khỏe và những KN để phòng chống HIV/AIDS ở các nước như Indonesia, Philippin, Thái Lan, Campuchia, Myanma, Việt Nam… (Shiu- Kee, 2003; Pan American Health Organization, 2000; UNESCO, 2001; Boampong, 2008). Nội dung GDKNS cho HS ở khu vực Đông Nam Á cũng rất phong phú. Philippin GDKNS được lồng ghép vào trong quân sự với các KN như tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm xúc, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, KN sản xuất kinh doanh. Ở Lào GDKNS cho HSTH được thực 12 hiện với các nội dung như vấn đề sức khỏe, vấn đề giới, vệ sinh, dân số, môi trường, mối quan hệ bạn bè, trách nhiệm công dân thông qua môn học Thế giới quanh ta.
Ở Myanmar chương trình giáo dục sống khỏe mạnh và phòng chóng HIV/AIDS bắt đầu từ năm 1996 với sự hỗ trợ của UNICEF. Chương trình với mục đích đưa GDKNS vào nhà trường để đẩy mạnh lối sống lành mạnh và ngăn ngừa lây nhiễn HIV cho trẻ em, thanh thiếu niên (Boampong, 2008; Unicef, 2006). GDKNS cho HS đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm và đề xuất nhưng quan niệm về GDKNS ở các nước không giống nhau. Do đó ở chương trình GDKNS ở các nước có nội dung không giống nhau.