CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 4 CHO HỌC SINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Cơ sở lý luận của việc tích hợp giáo dục môi trường địa phương trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Môi trường và môi trường địa phương Khái niệm về MT được các nhà nghiên cứu bàn luận là định nghĩa theo nhiều cách khác nhau vì nó phụ thuộc vào cách nhìn nhận vấn đề. Môi trường là một tập hợp các yếu tố xung quanh, là các điều kiện bên ngoài có tác động qua lại tới sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Theo Luật Bảo vệ MT (Điều 3 - 2004) “ MT là hệ thống yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới sự sống và sản xuất của con người như: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên, độ ẩm, công nghệ, kinh tế, chính trị… Trong “ Từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững Anh Việt”, khái niệm MT được định nghĩa là toàn bộ các điều kiện bao gồm những yêu tố không sống (trừ các chất hoá học và năng lượng) và sống (con vật, thực vật, kí sinh trùng,…) có tác động lên đời sống sinh vật hoặc một hệ thống đặc trưng khác. Như vậy, MT là tập hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể, sự kiện hay một cơ thể sống. Bất kì một vật thể, sự kiện hay một cơ thể sống nào cũng luôn tồn tại và biến đổi trong một MT nhất định.
Cách phân loại MT phổ biến khác theo phạm vi không gian bao quanh MT. Đó là MT toàn cầu, MT khu vực, MT quốc gia và MT địa phương. Phạm vị địa phương ở đây cũng rất rộng, có thể là một vùng, miền, một tỉnh, thành phố hay quận, huyện, xã, phường,… Trong luận văn này chúng tôi giới hạn 9 MT địa phương là MT của một tỉnh, hay thành phố cụ thể hơn ở đây chính là MT của thành phố Hải Phòng. Tích hợp Trong các tài liệu nghiên cứu, người ta phân chia tích hợp thành hai xu hướng.
Một là xu hướng tích hợp các khoa học trong quá trình phát triển. Hai là tích hợp các môn học trong quá trình DH. Hai xu hướng này khác nhau về cả nội dung và nguyên nhân. Trong tích hợp khoa học, khi nghiên cứu đối tượng đều tuân theo quy luật nhận thức từ tổng quát đến phân tích và cuối cùng và tổng hợp, về thực chất đó là quá trình nhận thức về tổng thể, bộ phận theo tầng bậc xoáy ốc.
Hình thái khoa học ở thế kỷ XX xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển nhanh, qua đó các thông tin khoa học cập nhật ngày càng nhiều. Trong khi đó DH phản ảnh sự phát triển của khoa học, thời gian học tập trong trường không nhiều và không thể kéo dài nên xuất hiện xu hướng từ việc dạy các môn học riêng lẻ sang DH tích hợp các môn học. Làm như vậy thì GV sẽ nâng cao được hiệu quả của giáo dục và HS sẽ được tiếp nhận được nhiều nguồn tri thức từ các môn. Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [16, tr. Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch DH” [10, tr. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”, có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Thuật ngữ “tích hợp” không những được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, mà trong những thập niên gần đây nó cũng thường 10 xuyên được đề cập trong lĩnh vực kinh tế xã hội và giáo dục.
Cuộc sống hiện đại không ngừng phát triển đã mang lại rất nhiều lợi ích tốt đẹp cho con người, song bên cạnh đó, nó cũng đòi hỏi con người phải biết cân bằng và hài hòa giữa các mặt của đời sống như giữa kinh tế và xã hội, giữa xã hội và tự nhiên… Các mặt này thường xuyên tác động và đan xen lẫn nhau trong một hệ thống, được gọi là MT sống. Cho nên khi con người làm bất cứ một việc gì đều phải tính toán đến các mối quan hệ hữu cơ nêu trên. Nói một cách khác, chúng ta phải thường xuyên tích hợp các mặt của cuộc sống với nhau để chúng có thể đi đúng và phát triển theo quỹ đạo đã đặt ra. Như vậy tích hợp được hiểu là sự gộp lại, dồn chung lại, lắp ghép có hệ thống nội dung kiến thức trong lĩnh vực giáo dục nào đó vào kiến thức môn học để hình thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau.
Dạy học tích hợp Dạy học tích hợp là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình DH các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông… Đây là một quan điểm sư phạm, ở đó người dạy lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học. Ví dụ như lồng ghép nội dung giáo dục dân số, GDMT, bảo vệ sức khỏe sinh sản, giáo dục tiết kiệm. vào nội dung các môn học. Trong quá trình DH, GV có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ đề giáo dục lồng ghép thông qua hình thức truyền đạt bằng trình chiếu, giảng dạy, thảo luận, DH dự án.
Giáo dục môi trường Giáo dục môi trường là quá trình tạo cho người học được tham gia vào sự phát triển một xã hội bền vững thông qua việc hình thành và phát triển cho họ sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về MT. Mục đích của GDMT là từ hình thành ở học sinh những kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi giữ gìn, bảo vệ và sử dụng MT theo cách bền vững cho tương lai. Nó cũng bao hàm việc tìm tòi, học tập cách sử dụng công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh được những thảm hoạ về MT, xoá đói giảm nghèo, tận dụng tối đa cơ hội và đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên. Đồng thời, nó bao gồm cả việc đạt được những kĩ năng, động lực, hành động để giải quyết những vấn đề MT hiện tại và phòng ngừa những vấn đề khác nảy sinh.
GDMT nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có kiến thức và nhạy cảm về MT cùng các vấn đề của nó, nắm được những khái niệm cơ bản về MT và BVMT; giúp cho họ có những tình cảm, trách nhiệm trong việc cải thiện MT và có những kĩ năng giải quyết, thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia [19]. Khái quát về tích hợp giáo dục môi trường Đầu những năm 80 của thế kỉ XX, trong quá trình triển khai cải cách giáo dục và tiến hành thay sách giáo khoa, các cơ quan chỉ đạo và nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bước đầu nêu ra định hướng về giáo dục MT. Kể từ đó đến nay, nôi dung GDMT được tích hợp vào chương trình các môn học có nhiều khả năng tích hợp GDMT như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Địa lí, Sinh học,…… Chương trình DH ở tiểu học, trung học cơ sở đã định hướng biên soạn và thử nghiệm ở một số địa phương. Tuy vậy trong nội dung của chương trình GDMT vẫn còn đề cập nhiều về các khía cạnh kiến thức, các thành phần như thái độ, kĩ năng còn ít được quan tâm, đôi lúc còn ít được đề cập đến trong chương trình.
12 Giáo dục môi trường đã được tích hợp vào hệ thống giáo dục ở tất cả các bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Châu Á, GDMT đã được tích hợp ở tất cả bậc học. Tích hợp GDMT là sự kết hợp các khía cạnh của MT vào trong quá trình giáo dục, pha trộn nội dung có liên quan đến các vấn đề MT khác nhau vào những môn học tự nhiên, môn khoa học xã hội. Tích hợp GDMT là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức về GDMT và kiến thức môn học thành nội dung hoàn chỉnh, thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ được đề cập trong bài học.
Theo tác giả Nguyễn Thị Thấn [20] có ba dạng bài học tích hợp GDMT: Dạng tích hợp: Ở dạng này một phần nội dung của môn học chính là nội dung GDMT có trong chương trình và sách giáo khoa. Nội dung GDMT có thể là một chủ đề hay một số bài trọn vẹn. Nội dung GDMT có thể là một chủ đề hay một số bài trọn vẹn. Dạng lồng ghép: Ở dạng này một số kiến thức môn học cũng chính là kiến thức GDMT có trong chương trình và sách giáo khoa theo các mức độ khác nhau: - Có thể chiếm một vài câu, một đoạn hay một mục trong bài học.
- Có thể là bài đọc thêm cuối bài học nhằm bổ sung kiến thức về GDMT. Dạng liện hệ: Ở mức độ này, các kiến thức GDMT không được nêu rõ, cụ thể trong sách giáo khoa nhưng khi dựa vào kiến thức bài học, GV có thể liên hệ các kiến thức vào bài dạy cho phù hợp. Dựa vào các dạng tích hợp GDMT trên, ta có thể phân biệt được ba loại bài khác nhau khi tiến hành GDMT: Loại một: Toàn bài có nội dung lồng ghép với GDMT (Mức độ toàn phần). Loại hai: Bài học có một số nội dung lồng ghép với GDMT (Mức độ bộ phận).
13 Loại ba: Bài học có một hay nhiều chỗ có khả năng liên hệ những kiến thức về môi trường (Mức độ liên hệ).