CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về tư duy và tư duy phê phán 1. Khái niệm về tư duy Tư duy là một khái niệm thuộc lĩnh vực tâm lý học nhưng đã được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau. Trên khía cạnh tâm lí học, Phạm Minh Hạc (1992) quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết.
Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính” [6]. Trên khía cạnh triết học thì “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối quan hệ của thực tại” [12, tr. Ở khía cạnh xã hội, tư duy được xem là "quá trình tìm tòi, khám phá, phát hiện bản chất, quy luật vận động của sự vật hiện tượng” [22, tr. Nghĩa trong tiếng Anh của thuật ngữ tư duy là “thinking” - có nghĩa là "quá trình suy nghĩ về sự vật hiện tượng, nói cách khác tư duy được hiểu là hoạt động của não bộ nhằm đưa ra các ý tưởng (ideal), quan điểm (views) liên quan đến bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng” [24].
Vấn đề tư duy cũng được các nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu. (1970) cho rằng: “Tư duy là sự nhận thức khái quát hoá và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng, trong những mối quan hệ và 9 liên hệ của chúng; tư duy cũng là sự nhận thức và sự xây dựng sáng tạo những sự vật và hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát hoá đã thu nhận được” [21, tr. Theo Trần Thúc Trình (2003), “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính cơ bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết” [19, tr. 1] Như vậy, có thể hiểu, tư duy là một quá trình nhận thức bậc cao có ở con người, nó giúp phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người.
Tư duy diễn ra dựa trên các thao tác: Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa… Tư duy nảy sinh trong hoạt động xã hội, là sản phẩm hoạt động xã hội, kết quả của quá trình tư duy là sự nhận thức những dấu hiệu bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Các thao tác tư duy cơ bản a) Phân tích – tổng hợp Phân tích là thao tác tư duy nhằm tách ra những thuộc tính, những bộ phận, những đặc điểm, tính chất của đối tượng được tư duy để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn [11, tr. Tổng hợp là thao tác tư duy gộp những thuộc tính, những thành phần của đối tượng tư duy thành một chỉnh thể, từ đó nhận thức về đối tượng được bao quát hơn [11, tr.1: HS thực hiện thao tác tư duy phân tích để tìm ra các yếu tố của đề toán: yếu tố nào đã biết, yếu tố cần tìm, mối quan hệ giữa các yếu tố này trong bài toán dưới đây: Bài toán: Mẹ hơn con 27 tuổi, 3 năm nữa tuổi mẹ gấp 4 lần tuổi con. Tính tuổi của mỗi người hiện nay.
- Yếu tố đã biết: + Hiệu số tuổi của hai mẹ con (Mẹ hơn con 27 tuổi) + Tỉ số tuổi của mẹ và con 3 năm nữa (3 năm nữa tuổi mẹ gấp 4 lần tuổi con). - Yếu tố cần tìm: Tuổi của mỗi người hiện nay. 10 HS thực hiện thao tác tổng hợp để thấy rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và cần tìm, từ đó nhận dạng đề toán, lựa chọn phương pháp giải phù hợp và đưa ra được các bước giải bài toán: - Dạng toán: Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó. Bài giải Do hiệu số tuổi không thay đổi theo thời gian, nên sau 3 năm nữa hiệu số tuổi của hai mẹ con vẫn là 27 tuổi.
Ta có sơ đồ biểu thị tuổi của mẹ và con sau 3 năm là : ? tuổi 27 tuổi Tuổi con Tuổi mẹ ? tuổi Theo sơ đồ ta thấy hiệu số phần bằng nhau là: 4 - 1 = 3 (phần) Tuổi con sau 3 năm là: 27 : 3 = 9 (tuổi) Tuổi con hiện nay là: 9 – 3 = 6 (tuổi) Tuổi mẹ hiện nay là: 6 + 27 = 33 (tuổi) Đáp số : Con 6 tuổi; Mẹ 33 tuổi Mặc dù phân tích và tổng hợp có những chức năng đối lập nhau nhưng chúng không tách rời nhau trong một quá trình tư tưởng thống nhất. Chúng có sự liên quan chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau: Phân tích cung cấp cơ sở để tổng hợp, tổng hợp diễn ra sau khi đã có kết quả của phân tích. Phân tích và tổng hợp không chỉ có quan hệ với nhau mà còn liên quan mật thiết đến các hoạt động trí óc khác. Chúng có mặt trong mọi giai đoạn của quá trình suy nghĩ và trong mọi hoạt động của các hoạt động khác.2: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chu vi là 400 mét, chiều dài hơn chiều rộng 40 mét.
a) Tính diện tích thửa ruộng. b) Trung bình 100 m 2 thu được 65kg thóc. Hỏi cả thửa ruộng thu được bao nhiêu kg thóc? GV hướng dẫn HS phân tích đề toán bằng các câu hỏi như: - Bài toán cho biết gì? - Bài toán hỏi gì? - Thửa ruộng có hình gì? - Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm thế nào? - Muốn tính diện tích thửa ruộng ta làm như thế nào? - Muốn biết cả thửa ruộng thu được bao nhiêu kg thóc ta làm như thế nào? Sau khi tìm hiểu và phân tích đề toán, GV hướng dẫn HS tổng hợp các dữ liệu để đưa ra lời giải cho bài toán bằng các câu hỏi: Bài toán thuộc dạng toán nào? Để giải bài toán cần thực hiện những phép tính nào? Thứ tự các phép tính? Từ đó, HS có thể đưa ra lời giải cho bài toán. b) So sánh, tương tự So sánh là thao tác tư duy để xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng (hoặc giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của một số sự vật, hiện tượng) [11, tr.
Tương tự là thao tác tư duy mà "từ chỗ hai đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu ta rút ra kết luận rằng các đối tượng này giống nhau ở các dấu hiệu còn lại" [11, tr. Thao tác tư duy tương tự được thực hiện dựa trên sự giống nhau của các đối tượng toán học, nói cách khác, thao tác tư duy tương tự diễn ra dựa trên kết quả của so sánh.3: Thực hiện thao tác tư duy so sánh, HS tìm ra được sự giống và khác nhau của hai dạng toán: tìm hai số khi biết tổng – tỉ số và tìm hai số khi biết hiệu – tỉ số của hai số đó.1: So sánh hai dạng toán Tìm 2 số khi biết tổng – tỉ số và hiệu – tỉ số của 2 số đó Tìm 2 số khi biết tổng – tỉ số của 2 Tìm 2 số khi biết hiệu – tỉ số của 2 số đó. Thực hiện theo 4 bước giải: Bước 1: Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng. Bước 2: Tìm tổng số phần bằng nhau.
Bước 2: Tìm hiệu số phần bằng nhau. Bước 3: Tìm giá trị một phần. Bước 3: Tìm giá trị một phần. Giá trị một phần = Hiệu : Hiệu số Giá trị một phần = Hiệu : Hiệu số phần bằng nhau.
phần bằng nhau. Bước 4: Tìm từng số cần tìm: Số bé = Giá trị một phần Số phần của số bé. Số lớn = Giá trị một phần Số phần của số lớn. c) Trừu tượng hóa, khái quát hóa Trừu tượng hóa là thao tác tư duy gạt bỏ những thuộc tính, những bộ phận, những quan hệ… không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố bản chất, dấu hiệu chung đặc trưng về một đối tượng nhận thức [11, tr.
Khái quát hóa là thao tác tư duy bao quát một số thuộc tính chung và bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của nhiều đối tượng khác nhau thành một loại hoặc một nhóm. Kết quả của khái quát hóa cho nhận thức về đặc tính chung của hàng loạt sự vật, hiện tượng cùng loại [11, tr.4: Khi hình thành biểu tượng khái niệm hình bình hành, hình thoi, có thể cho HS cắt các hình bình hành, hình thoi với kích thước; chất liệu; màu sắc. khác nhau, giúp HS nhận dạng, phát hiện các đặc điểm đặc trưng về cạnh và góc của các hình. Sau đó, GV yêu cầu HS nêu đặc điểm chung của các hình bình hành, hình thoi đã quan sát.
HS s ẽ tiến hành thao tác tư duy trừu tượng hóa để gạt bỏ các đặc điểm không phải là bản chất (số đo cụ thể của cạnh và góc, chất liệu, màu sắc.) và thực hiện khái quát hóa 13 cho kết quả là đặc điểm chung về số cạnh, số đỉnh, số góc… của hình bình hành, hình thoi. Hai thao tác tư duy này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau. Khái quát hóa được thực hiện trên cơ sở đã trừu tượng hóa gạt bỏ những dấu hiệu không bản chất của đối tượng nhận thức. Khái quát hóa chính là sự tổng hợp ở mức độ cao.
Do đó, chúng còn có liên quan chặt chẽ với các thao tác tư duy khác như: tổng hợp, phân tích, tương tự, so sánh… Khi một hoạt động tư duy diễn ra, nhiều thao tác tư duy được sử dụng cùng một lúc. Chúng được thực hiện đan xen, bổ trợ cho nhau một cách thống nhất nhằm đạt được mục tiêu nhận thức. Cần chú ý rằng, không phải mọi hành động của tư duy nhất thiết phải bao gồm tất cả các thao tác trên mà phụ thuộc vào mọi mục đích và điều kiện của tư duy. Tư duy phê phán 1.
Khái niệm tư duy phê phán TDPP là một loại hình tư duy biện chứng giúp con người xử lý, chọn lọc thông tin và cách giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.