Chương I: Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học, tự giải bài tập. Chương II: Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự giải bài tập khi học chương Các định luật bảo toàn Vật lý lớp 10 chương trình nâng cao. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 Luan van CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG WE SITEHỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 1.
Hoạt động học và bản chất của hoạt động học Học là quá trình tự giác, tích cực, chủ động để tiếp thu, lĩnh hội các tri thức của nhân loại. Tâm lý học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của HS. Hoạt động học sẽ có hiệu quả nếu HS có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữa các khái niệm, quy luật, cách thức, để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tập tốt hơn. Tâm lý học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành những hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành vi để đáp ứng lại những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài.
Qua hoạt động học HS hình thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để mối quan hệ đó mạnh lên, vững chắc hơn. Hoạt động học chính là quá trình củng cố sự trả lời. Với quan niệm về hoạt động học như vậy, việc học ở trạng thái thụ động và chất lượng hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả sự tác động của GV. Hoạt động học được xác định là quá trình HS kiến tạo, xây dựng tri thức HS tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải thích thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới.
Lý thuyết kiến tạo quan tâm đến những đặc điểm tâm lý bên trong của HS và việc thể hiện nó, những yếu tố được xem là quan trọng hơn là những yếu tố tác động từ môi trường. Lý thuyết thông tin cho rằng loài người thường xuyên xử lý thông tin. Hoạt động học được xem là quá trình xử lý thông tin. HS đóng vai trò là người tiếp nhận thông tin được đưa đến và xử lý nó.
Từ đó, giáo trình và tài liệu tham khảo, các nguồn cung cấp thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập. Ngoài ra hoạt động học còn ảnh hưởng bởi yếu tố xã hội – văn hóa. Đây là yếu tác động rất mạnh đến tâm lý HS. Vưgôtxki đã phân biệt việc học trong cuộc sống hằng ngày và hoạt động học xảy ra trong nhà trường.
Việc phân biệt này đã có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với 5 Luan van việc tự học. Hoạt động học được coi là một hoạt động đặc biệt, chú trọng đến sự thay đổi của chính bản thân mỗi HS. Hoạt động học xảy ra một cách có chủ định, có mục đích và không là yếu tố bổ sung cho bất kì hoạt động chủ đạo nào khác. Hoạt động học có chủ định có 4 đặc điểm cơ bản, đó là: có đối tượng là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, nhằm phát triển trí tuệ, năng lực HS, làm thay đổi bản thân HS; có tính chất tái tạo và nhằm tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức, được điểu khiển một cách có ý thức.
Ngoài ra, Vưgôtxki còn phân biệt việc học mang tính chất kinh nghiệm (empirical learning) với việc học mang tính chất lý thuyết (theoretical learning). Việc học mang tính chất kinh nghiệm dựa trên quá trình so sánh một số đối tượng khác nhau, tìm ra những đặc điểm chung có thể quan sát được và trên cơ sở đó xây dựng khái niệm chung về nhóm đối tượng. Như vậy, khái niệm được hình thành thông qua con đường đi từ cụ thể đến cái khái quát. Đây là hình thức học mang tính chất đặc trưng của trẻ trước khi đến trường và cũng được sử dụng trong hệ thống nhà trường truyền thống.
Hình thức này có thể đạt hiệu quả cao, nếu HS thấy việc học hấp dẫn và thật sự muốn học. Điểm yếu nhất của hình thức học này là HS có thể hình thành những khái niệm sai lệch. HS hình thành những khái niệm dựa trên những đặc điểm chung của các đối tượng, trong khi đó những đặc điểm chung này chưa chắc đã là những đặc điểm chủ yếu làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm. Đây là hình thức học ở mức độ phát triển thấp.
HS thường sử dụng hình thức học này khi không có hệ thống dạy học được tổ chức một cách phù hợp. Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho HS những phương pháp chung và hoàn thiện để giải quyết một nhóm những vấn đề nhất định. Những phương pháp này hướng HS đến những đặc điểm chủ yếu, chứ không phải là đặc điểm chung của mỗi nhóm. HS dần dần chiểm lĩnh và nội tâm hóa việc sử dụng những phương pháp đó thông qua những hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt.
Đây là một quá trình đi từ khái quát đến cụ thể. Việc học này giúp hình thành những khái niệm khoa học. Các nhà khoa học Nga đã chứng minh rằng hình thức học này ít đòi hỏi luyện tập và nhớ một cách máy móc nên thường hấp dẫn HS, ít bị lỗi. Ngoài ra, hình thức học này đưa đến sự chiếm lĩnh hoàn toàn, mức độ lưu dữ cao và tri thức được sử dụng một cách rộng rãi và có ý thức.
Có thể nói, trường phái tâm lý học này thấy được rằng vai trò thúc đẩy sự phát triển nhận thức của dạy học phụ 6 Luan van thuộc chủ yếu vào loại hoạt động nào được tổ chức cho HS chứ không phải vào việc môn học nào được dạy trong nhà trường. Yếu tố văn hóa – xã hội đóng vai trò đặc biệt trong hoạt động học. Sự nhận thức là quá trình của cá nhân và được chia sẻ trong xã hội, được xã hội chuyển tải và chịu ảnh hưởng của những người khác trong giao lưu. Văn hóa và xã hội tác động đến việc HS tư duy như thế nào, học cái gì.
Các chức năng tâm lý cấp cao đều là những mối quan hệ xã hội đã được nội tâm hóa. Việc học, tư duy và tri thức đều có được từ sự hợp tác, năng lực tự học được phát triển cao trong cách học hợp tác với những người khác. Ngày nay ở phương Tây, tâm lý học xã hội – văn hóa hay tâm lý học – lịch sử mà Vưgôtxki là một đại biểu xuất sắc được phát triển thành một trong ba hệ thống quan điểm chính nghiên cứu về tri thức và việc học, với tên gọi là xu hướng toàn cảnh bên cạnh thuyết hành vi và tâm lý học nhận thức. Xu hướng này cho rằng, tri thức là kết quả của kiến tạo xã hội, là kết quả sự tác động qua lại giữa cá nhân với môi trường.
Sự hiểu biết là một đặc trưng của nhóm gồm những người cùng tham gia hoạt động và của cá nhân người tham gia trong cộng đồng. Nhóm hoặc cá nhân có tri thức sẽ có thể hòa hợp với những điều kiện của hoạt động bao gồm các quy định và sự ủng hộ của xã hội và hệ thống vật chất, kĩ thuật của môi trường. Như vậy, việc học là hoạt động tạo ra sự hòa hợp với những quy định và sự ủng hộ đó của hệ thống vật chất và xã hội mà con người có quan hệ tác động qua lại. Theo quan điểm tâm lý học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chất của cấu trúc hình động.
Cùng một biểu hiện hành vi bên ngoài giống nhau nhưng chất lượng hiệu quả của sự học là khác nhau, tùy thuộc vào cấu trúc của hành động học cụ thể, ở đây hành vi được xem như biểu hiện ra ngoài của kết quả hành động, còn cách thức để đạt tới kết quả đó được xem như cấu trúc bên trong của hành động. Như vậy, sự học phải có quá trình hình thành và phát triển của các dạng hành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể. Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó. Động cơ là một cái khách quan hàm chứa nhu cầu.
Cái khách quan ấy làm cho hoạt động có đối tượng và là cái hướng hoạt động (mục đích) vào một kết quả nhất định. Khi đó hoạt động của con người là hoạt động của chủ thể có ý thức bao gồm một hệ 7 Luan van thống các hành động tương ứng với các điều kiện và phương tiện hành động, cấu trúc của lý thuyết. Hoạt động được xây dựng theo sơ đồ sau: Động cơ Hoạt động Mục đích Hành động Phương tiện, điều kiện Thao tác Sơ đồ 1. Sơ đồ cấu trúc lý thuyết hoạt động học Sự hình thành các biểu tượng, khái niệm, kiến thức được xem là sự hình thành các hành động trí tuệ, là hình thức hành động ngôn ngữ trong.
Hoạt động dạy học phát triển theo Vưgôtxki cần phải tiến điến vùng phát triển gần. Từ sự phân tích lý thuyết hoạt động và vận dụng nó vào trong dạy học như nêu ở trên đều cần hiểu: Học là hành động của chủ thể thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Mỗi tri thức mới học được của HS là sản phẩm hoạt động xây dựng tri thức mới. Phương tiện quan trọng để GV định hướng hành động nhận thức của HS là câu hỏi.
Định hướng hành động trong dạy họcVật lý: Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của HS trong dạy học, ta có thể có ba mức độ định hướng trong đó GV hướng HS vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động cái mà HS dã nắm được hoặc dã được GV chỉ ra một cách tường minh, HS có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận. Tự học, một trong những yếu tố quyết định chất lƣợng đào tạo Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo…đã nêu rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực: Học về cơ bản là tự học, nói đến tự học là nói đến nội lực của HS và ngoại lực của HS.