Luận án tiến sĩ tổ chức dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10 thpt theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổ chức dạy học chương Các định luật bảo toàn Vật lý 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.

Trường đại học

Đại học Huế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

257
17
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển năng lực sáng tạo

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh (HS) trở thành một yêu cầu cấp thiết. Giáo dục THPT cần chú trọng đến việc trang bị cho HS không chỉ kiến thức mà còn kỹ năng và khả năng tư duy sáng tạo. Theo đó, định luật bảo toàn trong chương trình vật lý 10 là một nội dung quan trọng, giúp HS không chỉ hiểu về các quy luật vật lý mà còn phát triển khả năng sáng tạo thông qua việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc tổ chức dạy học theo hướng này sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích HS tham gia vào các hoạt động thực nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

1.1. Khái niệm năng lực sáng tạo

Năng lực sáng tạo được hiểu là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách độc đáo và hiệu quả. Trong dạy học, việc phát triển năng lực sáng tạo cho HS không chỉ giúp các em nắm vững kiến thức mà còn hình thành khả năng tư duy phản biện và sáng tạo. Điều này đặc biệt quan trọng trong môn vật lý, nơi mà việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn là cần thiết để hiểu sâu hơn về các hiện tượng tự nhiên.

1.2. Tầm quan trọng của dạy học vật lý

Môn vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực sáng tạo cho HS. Chương trình vật lý 10 không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản mà còn tạo cơ hội cho HS thực hành và trải nghiệm. Việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo sẽ giúp HS không chỉ học thuộc lòng mà còn hiểu và áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề.

II. Phương pháp dạy học tích cực

Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học chương các định luật bảo toàn là một trong những cách hiệu quả để phát triển năng lực sáng tạo cho HS. Các phương pháp này bao gồm: dạy học dự án, giải quyết vấn đề, và thí nghiệm thực hành. Những phương pháp này không chỉ tạo ra sự hứng thú cho HS mà còn khuyến khích các em tham gia tích cực vào quá trình học tập. Theo nghiên cứu, khi HS tham gia vào các hoạt động học tập chủ động, họ sẽ phát triển được kỹ năng tư duy và khả năng sáng tạo tốt hơn.

2.1. Dạy học dự án

Dạy học dự án là một phương pháp giúp HS thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Qua đó, HS có cơ hội để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, từ đó phát triển năng lực sáng tạo. Phương pháp này khuyến khích HS làm việc nhóm, trao đổi ý tưởng và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề thực tế.

2.2. Giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học giúp HS phát triển kỹ năng phân tích và tư duy phản biện. Khi HS được đặt vào tình huống cần giải quyết, họ sẽ phải tư duy sáng tạo để tìm ra giải pháp. Phương pháp này không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một bước quan trọng để kiểm chứng tính khả thi của các phương pháp dạy học được đề xuất. Qua thực nghiệm, có thể đánh giá được mức độ phát triển năng lực sáng tạo của HS sau khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Kết quả từ các thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng các phương pháp này không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục mà còn giúp HS phát triển toàn diện hơn.

3.1. Thiết kế thực nghiệm

Thiết kế thực nghiệm cần được thực hiện một cách khoa học, bao gồm việc xác định đối tượng, nội dung và phương pháp thực nghiệm. Mục tiêu là đánh giá hiệu quả của các phương pháp dạy học tích cực trong việc phát triển năng lực sáng tạo cho HS. Kết quả thực nghiệm sẽ cung cấp những thông tin quý giá cho việc điều chỉnh và cải tiến phương pháp dạy học.

3.2. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy, HS tham gia vào các hoạt động dạy học tích cực có sự tiến bộ rõ rệt về năng lực sáng tạo. Sự hứng thú và tích cực trong học tập của HS tăng lên, đồng thời khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn cũng được cải thiện. Điều này chứng tỏ rằng, việc phát triển năng lực sáng tạo thông qua dạy học là hoàn toàn khả thi và cần thiết.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ tổ chức dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10 thpt theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về năng lực và năng lực sáng tạo 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Khái niệm NL (competence) có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ” [85].

Hiện nay, đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về NL, khái niệm NL được sử dụng với nhiều thuật ngữ tiếng Anh khác nhau như competence, capacity, ability, possibility, literacy. Do đó, khái niệm NL được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học, NL trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong các công trình của F. Trong nghiên cứu của mình, F.

Ganton cho rằng NL có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động nào đó. Người có NL là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. NL gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách [31]. Rudich, NL đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định [31].

NL của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả của quá trình hoạt động. Khi xét ở góc độ hoạt động, J.Coolahan cho rằng: NL được xem như là “Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [102], A. Cosmovici “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [91]. Leonchiev cho rằng “Năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”[98].

Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Châu Âu về việc làm và lao động (2005) đưa ra khái niệm “Năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó” [15]. Như vậy, NL luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ thể mà trong đó các NL được đòi hỏi. Sự tích hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ làm nên khả năng thực hiện một công việc, một hoạt động cụ thể. 8 luan an Theo PISA, thuật ngữ NL (literacy) bao hàm cả kiến thức, kĩ năng và qui trình nhận thức, các mảng NL gồm: NL đọc hiểu, NL toán học, NL khoa học và NL giải quyết vấn đề.

Tổ chức này cũng nhấn mạnh đến việc sử dụng kiến thức, kĩ năng tích lũy được ở trường học vào bối cảnh, tình huống thực trong đời sống nhằm góp phần thay đổi thái độ của người học. Để đánh giá kết quả học tập theo hướng tiếp cận NL của người học, PISA có cách tiếp cận rộng hơn về việc đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS, đó là hướng tới đánh giá các NL sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ và thách thức thường nhật. Cách tiếp cận bao quát và thực tiễn này giúp PISA phản ánh kịp thời các thay đổi trong quá trình phát triển, cụ thể hơn đó là phương thức dựa trên mô hình học tập suốt đời, trong đó việc tích lũy các kiến thức và kĩ năng mới cần thiết để thích nghi trong một thế giới luôn thay đổi và một quá trình diễn ra suốt đời, không chỉ bó hẹp trong phạm vi trường học [22]. Như vậy PISA đã xây dựng công cụ và tiến hành đánh giá các loại NL, trong đó có những chú trọng đến các yếu tố về mặt kiến thức liên quan đến thực hành.

Tuy nhiên nội dung khảo sát của PISA chưa tập trung vào các “chương trình học”. Điều này làm hạn chế sự so sánh giữa kết quả thu được và nội dung chương trình học. Ngoài ra, trong cách đánh giá đó, các kĩ năng thực hiện với các công cụ thực vẫn chưa được thể hiện rõ nét. Dưới góc độ của các nhà Giáo dục học, thuật ngữ NL cũng được xem xét đa chiều hơn: NL là một tập hợp kiến thức, thái độ và kĩ năng hoặc các chiến lược tư duy cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng; NL là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc.

Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm “Năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge), từ đó đã tổng hợp các định nghĩa chính về NL trong đó nêu ra: NL là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó”. Theo chương trình giáo dục phổ thông của Quebec – Canada thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [109], [93]. Từ việc tìm hiểu các nghiên cứu về NL có thể thấy, quan niệm về NL của các tác giả tuy còn có sự khác nhau nhất định, song đều có điểm chung thống nhất là nói đến NL là nói đến khả năng làm được, thực hiện được một công việc, một hoạt động cụ thể mà không chỉ là biết và hiểu. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khoa học sáng tạo bắt đầu phát triển dựa trên thành tựu của cách mạng khoa học - kĩ thuật.

Cùng lúc này, bên cạnh các nhà khoa học cơ bản thì những chuyên gia về tư duy sáng tạo cũng như các nhà Tâm lí học bắt đầu nhập cuộc. Từ đây, ST mới được nghiên cứu trên cả diện rộng và sâu. Từ những nghiên cứu chuyên biệt về ST của các nhà toán học, các nhà khoa học khác cũng bắt đầu chuyên tâm khám phá về những nguyên lí của sự ST. Đầu tiên là tìm hiểu về cách ghi nhớ và cách ST, những yếu tố rất quan trọng hình thành NLST.

Theo hai chuyên viên não học Jeff Brown và Mark Fenske : “Một trong những phương pháp giúp truy xuất thông tin hiệu quả là xây dựng một bộ não hoạt bát: Thay vì lưu trữ ký ức như một cuốn album hay một đoạn băng ngắn về những điều từng xảy ra, ta có thể lưu trữ ký ức mới trong mối tương quan với các ký ức cũ, xác định tầm quan trọng của ký ức mới dung nạp này trong ngữ cảnh của toàn bộ ký ức đã có trước đó. Bằng cách này, mỗi ký ức có một vị trí nhất định trong bộ nhớ, và khi cần truy xuất trí nhớ để giải quyết một vấn đề tương lai, bộ não sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi đã xác định được tầm quan trọng của thông tin cần xử lý. Ngoài ra, tăng cường trải nghiệm sống cũng là một lựa chọn tốt, vì bộ não phản ứng hoạt bát hơn với các thông tin hoàn toàn mới, do đó quá trình thu nhận thông tin trở nên nhạy bén hơn, đồng thời “nguyên liệu” cho việc truy xuất thông tin cũng dồi dào hơn. Các phương pháp luyện trí nhớ khác như lặp lại thông tin cần nhớ, phương pháp liên tưởng, phương pháp lập nhóm… cũng được đánh giá cao” [56], [89].

Học cách ST không chỉ mang tính thiên phú mà còn là kết quả của quá trình miệt mài luyện tập. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu não bộ nhận ra có những ngả đường dẫn đến ST tiềm ẩn trong mỗi con người thì việc rèn luyện khả năng ST trở thành một kĩ năng có thể phát triển được. Một nghiên cứu não gần đây nhất cho thấy khi những người tham gia thí nghiệm bắt đầu một quá trình động não mang tính ST, hàng loạt sóng não được khởi 10 luan an động để nối kết các tế bào não nằm ở các khu vực khác nhau, tạo thành một mạng lưới thần kinh liên kết. Shelley Carson thuộc Đại học Harvard, tác giả cuốn sách Bộ não sáng tạo của bạn, cũng cho biết tiến trình ST không phụ thuộc nhiều vào khả năng thiên phú mà chủ yếu vào phong cách tư duy, điều mà mọi người đều có thể học cách cải thiện.

Theo đó, các bước đi cụ thể để cải thiện khả năng ST cá nhân bao gồm: Thu nhận (thông tin); Hình dung tưởng tượng; Nối kết; Lý luận; Đánh giá; Đắm mình vào ý tưởng [56], [90]. Có thể thấy rằng, mặc dù nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã tập trung nghiên cứu khá nhiều về ST nhưng vẫn còn nặng về tính chất mô tả kinh nghiệm chứ không phải là thực nghiệm để rút ra quy luật. Điều mà thực tiễn đòi hỏi là phải tìm ra những quy luật của ST để có thể lấy đó làm cơ sở điều khiển, phát huy ST thì gần như các nhà giáo dục học vẫn chưa giải quyết được. Các nghiên cứu ở trong nước Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, vấn đề NL nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả trong nước như: Phạm Minh Hạc [21], Phạm Viết Vượng [87], Phạm Thị Phú và Nguyễn Đình Thước [57], Đặng Thành Hưng [28], Hoàng Hòa Bình [5], với một nội hàm khá rõ ràng.

NL theo các nhà tâm lý học là những thuộc tính của cá nhân [29], [82]; sự kết hợp linh hoạt và độc đáo hay tổ hợp đặc điểm tâm lý của con người [21], [27]; NL là cái có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng và trải nghiệm thực tiễn [87]. Những nghiên cứu này cho thấy, NL gắn liền với hoạt động và giá trị thu được của hoạt động ấy. Cụ thể, Đặng Thành Hưng [28] cho rằng kĩ năng phản ánh NL làm, tri thức phản ánh NL nghĩ và thái độ phản ánh NL cảm nhận. Tác giả nhận định: “NL là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”; Hoàng Hòa Bình [5] trình bày những bàn luận chuyên sâu về khái niệm NL, cấu trúc của NL, … Tác giả cho rằng NL có hai đặc trưng cơ bản là được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động và đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt được kết quả mong muốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ với tiêu đề "Luận án tiến sĩ về tổ chức dạy học định luật bảo toàn vật lí 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo" của tác giả Đỗ Hùng Dũng, dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Gia Anh Vũ và TS. Quách Nguyễn Bảo Nguyên, được thực hiện tại Đại học Huế, mang đến những nghiên cứu sâu sắc về phương pháp dạy học vật lý trong chương trình lớp 10. Luận án không chỉ trình bày các phương pháp tổ chức dạy học hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. Điều này giúp giáo viên có thể áp dụng các kỹ thuật giảng dạy mới, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và khơi dậy niềm đam mê học tập ở học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về phương pháp dạy học trong lĩnh vực vật lý, bạn có thể tham khảo bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lí Theo Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học Chương Điện Từ Học. Bài viết này cũng đề cập đến các phương pháp nghiên cứu khoa học trong dạy học vật lý, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về lĩnh vực này.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học cơ học vật lý 10. Bài viết này tập trung vào việc sử dụng phim học tập để bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh, một khía cạnh quan trọng trong việc phát triển tư duy sáng tạo.

Cuối cùng, bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Phim Học Tập Trong Dạy Học Cơ Học Vật Lí 10 cũng mang lại những kiến thức bổ ích về việc áp dụng phim học tập trong dạy học vật lý, từ đó giúp giáo viên có thêm công cụ để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp dạy học vật lý và cách phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.