CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực tư duy phản biện của học sinh trung học phổ thông 1. Trên thế giới • Những nghiên cứu đầu tiên về tư duy phản biện Từ thời kỳ Cổ đại, “Critical” xuất hiện từ tiếng Hi lạp cổ “Kritikos” nghĩa là phán xét, quyết định một điều gì đó. Năm 2500, Socrates đã bắt đầu dạy học trò mình năng lực, quan sát, tư duy tổng hợp và suy luận (Socratic Questioning) [58] Plato và Aristotle đã kế thừa và phát triển hoàn thiện năng lực tư duy hệ thống.
Plato đã đặt tên cho bộ công cụ của mình là Oganoni. Critical thinking bắt nguồn từ một nhánh của triết học. Thực chất Critical thinking là tổng hợp những kĩ năng, kiến thức bao gồm khả năng ngôn ngữ, thấu hiểu ngữ cảnh, tình cảm cũng như cảm xúc, và khả năng mở mang trí tuệ để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Thời kỳ trung cổ, Thomas Aquinas (Sumna Theologica) Nhấn mạnh vai trò của suy luận trong nhận thức.
Phát triển phương thức “Cross-examined” tức thông tin phải được xác nhận từ thực tế khách quan sau đó đến quá trình nhận thức sâu bên trong tâm trí. Đến thời kỳ Phục hưng: Critical thinking được áp dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Thời kỳ phục hưng (TKXV– XVI): các học giả như Eramus, More… ứng dụng TDPB vào hầu như tất cả các khía cạnh của cuộc sống, nghệ thuật, tôn giáo, hội họa, xã hội. 50 năm sau Bacon, ở Pháp Descartes áp dụng suy luận logic vào triết học [53] Trong tác phẩm “Rules for the Dire TDP Bions of the mind” ông đề cập sự cần thiết về việc trao dồi một cách có hệ thống để tập luyện tâm trí tư duy một cách xác thực.
Mỗi một phần của tư duy, phải được nghi vấn và xác thực. “Cogito, ergo sum”. Trong kỉ phục hưng đến TK XIX: có nhiều học giả nổi tiếng ứng dụng và yêu cầu TDPB được thực hành trong giáo dục cũng như tất cả khía cạnh khác của cuộc sống. Như: Issac Newton (Thought Experiment), Robert Boyle, Voltaire, Diderot, Kant (Critique of Pure Reason), Spencer, Karl Marx, Sigmund Freud.
Năm 1906, Wiliam Graham Summer xuất bản “Folkways” trong quyển sách này ngoài những nghiên cứu về TDPB còn cho rằng trọng tâm của giáo dục nên đặc vào TDPB. Vì CT chính là công cụ duy nhất giúp con người có thể chống lại ảo tưởng, lừa dối, mê tín, tự huyễn. John Dewey, Ludwig Wittgenstein đồng ý với William hơn nữa còn đề cập đến việc cân nhắc về khả năng phân tích, sức mạnh cũng như giới hạn của tâm trí con người. Nhìn lại quá trình phát triển khái niệm TDPB xuất hiện rất sớm từ thời cổ Đại và xuyên suốt hàng năm lịch sử nhận loại.
TDPB là công cụ giúp con người giải quyết từ những vấn đề mang tính cấp thiết hàng ngày đến nghiên cứu lý luận triết học, khoa học xã hội, tự nhiên. và cho đến ngày nay, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới từ cuối TK XIX đến 5 đầu TK XXI đã chỉ ra rằng TDPB có vai trò quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. • Những nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu phát triển của năng lực tư duy phản biện trong giáo dục. Tư duy phản biện luôn được thúc giục như một mục tiêu của giáo dục trong suốt nhiều thế kỷ (ví dụ, John Dewey's How We Think, Năm 1910) và Ủy ban Chính sách Giáo dục của Trung tâm của Giáo dục Hoa Kỳ, 1961) [53], ban đầu đã có những nghiên cứu về TDPB.
Tuy nhiên, những năm 1980, cùng với việc đánh giá cáo vai trò của TDPB trong các môn học tự nhiên và khoa học, Steven D. Schafersman cũng chỉ ra sự thiếu hụt trong và khó khăn trong việc giảng dạy một cách chính thức TDPB trong nhà trường. Trong báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban về Giáo dục Xuất sắc (1983) (A Nation at Risk) đã cảnh báo: "Nhiều thanh niên 17 tuổi không có các năng lực trí tuệ 'bậc cao' mà chúng ta mong đợi ở họ. Gần 40 phần trăm không thể rút ra suy luận từ tài liệu viết; chỉ một phần năm có thể rút ra và viết một bài luận thuyết phục; và chỉ một phần ba có thể giải quyết một vấn đề toán học yêu cầu” [58] Trong nghiên cứu của Đại học khoa học Tự nhiên Indonesia cũng đồng quan điểm khi nói rằng sinh viên đại học ở Indonesia có năng lực TDPB kém [45] Matthew Lipman, là một Giáo sư Triết học xuất sắc ở Đại học Columbia ở New York vào những năm 60/70[32].
Giáo sư tỏ ra ngày càng trở nên thất vọng vì nhận thấy rằng sinh viên đại học của giáo sư thiếu một số các năng lực tư duy cơ bản, chẳng hạn như khả năng xây dựng một lập luận, để làm rõ ý tưởng, để xem mọi thứ theo quan điểm của người khác và những thứ tương tự. Giáo sư cũng bị thuyết phục rằng đã quá muộn để thay đổi thói quen suy nghĩ của họ ở cấp đại học nên anh ta đã thiết kế Chương trình Triết học cho Trẻ em nhằm mục đích dạy những và các năng lực tư duy khác cho học sinh 5-15 tuổi (Lipman (1980) (1991)) Đây là một chương trình độc lập - trong đó các năng lực tư duy được dạy tách biệt với các môn học bình thường ở trường. Kể từ đó sự chú ý đến nghiên cứu về TDPB đã tăng lên đáng kể với một số đánh giá TDPB, những bài kiểm tra tư duy phê phán và cách phát triển đánh giá TDPB. Để có thể đáp ứng được việc khảo sát TDPB từ đó đưa ra chương trình nằm phát triển TDPB nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục tổng thể cho học sinh nói chung.
Những nhiên cứu về nhu cầu phát triển Năng lực TDPB hay rèn luyện năng lực TDPB ngày càng rộng rãi từ khắp các nên giáo dục trên thế giới. Senad Bećirović (2019) của Thổ Nhĩ Kỳ đã nghiên cứu về “Phát triển Năng lực TDPB trong Milieu của Giáo dục Trung học” [33]. Nghiên cứu định lượng này cố gắng điều tra mức độ năng lực TDPB cũng như tác động của cấp lớp, giới tính và quốc tịch đối với phát triển những năng lực này ở 279 học sinh trung học Bosnia-Herzegovinian và Thổ Nhĩ Kỳ. Các khóa học về năng lực Tư duy phản biện đã được giảng dạy tại trường Đại học trong các lĩnh vực học thuật khác nhau bao gồm luật, triết học, tâm lý học, xã hội học và điều dưỡng, tất cả đều với mục tiêu cải thiện hiệu suất Tư duy phản biện[56].
Các 6 khóa học như vậy cũng đã được thông báo bởi các khái niệm khác nhau về Tư duy phản biện (ví dụ Ennis, 1987; Facione, 1990b; Halpern, 2003; Paul, 1993). Mặc dù nghiên cứu chỉ ra rằng Tư duy phản biện có thể được cải thiện trong các lĩnh vực học thuật khác nhau (ví dụ: Abrami và cộng sự, 2008; Alvarez-Ortiz, 2007; Gadzella, Ginther, & Bryant, 1996) • Những nghiên cứu về công cụ khảo sát, đánh giá TDPB, năng lực TDPB Trên thế giới từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các bài kiểm tra TDPB. Tổ chức The Foundation for Critical Thinking- tổ chức thúc đẩy sự thay đổi thiết yếu của giáo dục và xã hội thông qua việc nuôi dưỡng TDPB đã đưa ra những bài test có thể dùng để đánh giá TDPB có thể kể đến như là: Bài đánh giá TDPB Watson Glaser (Watson Glaser Critical Thinking Appraisal – W-GCTA) là bài test về critical thinking phổ biến nhất hiện nay, gốc được xây dựng bởi Goodwin Watson và Edward Glaser. Bài test này đã tồn tại hơn 85 năm và được sử dụng rộng rãi bởi các hãng luật.
Bài test về TDPB của Test Partnership đo lường khả năng suy nghĩ dựa trên phân tích và dựa trên lý trí của bạn. Bài test gồm 20 câu hỏi và mỗi câu hỏi, bạn có 40 giây để trả lời. Một bài test được sử dụng nhiều trong giáo dục là Cornell Critical Thinking Assessment. Bài test này có hai phiên bản, một cho trẻ em, một cho người lớn.
Nó cũng được sử dụng như bài test kiểm tra đầu vào cho một số khóa học nhất định hoặc quá trình tuyển dụng tại các doanh nghiệp. Trong lĩnh vực giáo dục, song song với với việc nghiên cứu thực trạng, các nhà nhiên cứu trên thế giới cũng lần lược đưa ra những công cụ đánh giá, các bài kiểm tra TDPB của học sinh, sinh viên. Ban đầu chúng là những công cụ được tổng hợp Từ những nghiên cứu TDPB đề nâng cao nhận thức về TDPB cho học sinh. Như giáo sư Paul, Richard và cộng sự năm 1989 đã đưa ra cuốn sổ tay TDPB dành cho học sinh TH đã nói lên vai trò của TDPB đối với giáo dục.
Trong đó chỉ yếu tố còn thiếu để học sinh có thể trở thành những sinh viên lý tưởng đó chính là năng lực TDPB mà sự thiếu hụt này bắt nguồn từ phong cách giảng dạy của giáo viên quá đề cao kiến thức và phong cách truyền tải khiến cho học sinh không còn cơ hội để TDPB. Đồng thời ông cũng đưa ra những biện pháp để thực nâng cao năng lực TDPB ở tất cả các môn học và trong cuộc sống sau này của các em học sinh. Nghiên cứu của Lisa M. Marina và Diane F.
Halpern (2010) [40] đã so sánh các phương thức giảng dạy rõ ràng của giáo viên, sau đó đánh giá TDPB của sinh viên với “Đánh giá TDPB của Halpern”, sử dụng cả định dạng câu trả lời được xây dựng và câu trả lời trắc nghiệm với các tình huống hàng ngày. Kết quả cho thấy những sinh viên được hướng dẫn kỹ càng có TDPB tốt hơn so với nhóm đối chứng. Một nghiên cứu của Okan Sarigoz “Đánh giá năng lực TDPB của học sinh trung học” đã phát triển một bảng câu hỏi dạng Likert 5 điểm gồm 21 câu hỏi, nghiên cứu này được thực hiện để xác định năng lực TDPB của học sinh trung học. Nghiên cứu mang tính mô tả và được thực hiện với mô hình khảo sát.
Để đánh giá năng lực TDPB của học 7 sinh. Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy năng lực TDPB của học sinh khác nhau giữa các loại hình trường học như Trường Trung học Anatolian, Trường Trung học Khoa học và Trường Trung học Dạy nghề. [49] Giáo sư Yetrie Ludang-Indonesia (2021) nghiên cứu của bà được kỳ vọng phát triển các công cụ nhằm nâng cao TDPB và thành tích học tập cho học sinh. Nghiên cứu ban đầu này nhằm mục đích phát triển việc học tập có thể cải thiện năng lực TDPB của học sinh.
Phát triển học tập sử dụng mô hình phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá.