đặt vấn đề và dẫn dắt người học tư duy, tự tìm cách giải quyết vấn đề đó. Mức độ 2: Người học được hướng dẫn phát hiện vấn đề và tự giải quyết vấn đề, GV chỉ cho người học thấy sự tồn tại của vấn đề. Mức độ 3: GV gợi ý để người học tự phát hiện vấn đề, tự nêu lên tình huống có vấn đề và tự giải quyết trọn vẹn vấn đề. Việc xác định mức độ của PPDH nêu vấn đề tùy thuộc vào mức độ tham gia của người học trong việc giải quyết vấn đề học tập cũng như mức độ tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình người học tiếp xúc và giải quyết vấn đề của người học.
Đặc trưng, bản chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề Đặc trưng cơ bản của PPDH nêu vấn đề được nhận diện ở các đặc điểm chủ yếu dưới đây: 14 Một là, tình huống có vấn đề là thành tố quan trọng của PPDH nêu vấn đề. Do đó, GV đưa người học vào những tình huống học tập để họ nhận diện, phát hiện vấn đề, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề, nhờ đó tri thức môn học được HS chiếm lĩnh một cách tự giác, tích cực. Đặc trưng này phản ánh đúng quy luật nhận thức của con người. Khi sử dụng PPDH nêu vấn đề, người học ngay từ đầu được tiếp cận vấn đề của bài học và vấn đề có thể là một sự kiện, một tình huống trong bài học hay một hiện tượng đã, đang diễn ra trong thực tế cuộc sống chứa đựng những yêu cầu cần lý giải.
Hai là, PPDH nêu vấn đề bao gồm hệ thống tác động của GV và HS, những cách thức thực hiện tổng quát các quy luật và nguyên tắc dạy học nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học. Nhiệm vụ của dạy học có thể thâu tóm ngắn gọn trong chức năng giáo dục (đạo đức, tình cảm, thái độ, lý tưởng, niềm tin, nhân sinh quan và thế giới quan) và chức năng phát triển năng lực trí tuệ và tư duy sáng tạo (năng lực nhận thức, năng lực hành động) của người học. Năng lực về trí tuệ chính là khả năng vận dụng các tri thức vào sự tích lũy trí tuệ. Trong nhiệm vụ này người GV cần phải giúp HS sử dụng thành thạo các thao tác về trí tuệ như: Định hướng của trí tuệ (HS xác định được con đường để đạt được trí tuệ là gì?); Chiều rộng của trí tuệ (HS có thể tiến hành được nhiều hoạt động trong các lĩnh vực có mối liên quan đến nhau); Chiều sâu của trí tuệ (HS tự tiến hành được các hoạt động và nắm được bản chất của các sự vật, hiện tượng thông qua các hoạt động).
Theo đó, PPDH nêu vấn đề là một trong những phương pháp biểu hiện tập trung và chủ yếu tính mục đích của chức năng giáo dục và chức năng phát triển năng lực cho HS. Ba là, những quy luật tâm lý tư duy và quy luật lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức được xem là cơ sở của dạy học nêu vấn đề. Vì thế, PPDH nêu vấn đề được xem là sự mô hình hoá quá trình tư duy. Tư duy giúp con người thu thập, phân tích và sử dụng thông tin một cách hữu ích, đưa ra phương hướng phù hợp để giải quyết vấn đề và phát triển bản thân.
Tính "có vấn đề" là đặc điểm quan trọng của tư duy, là tính chất cơ bản và quan trọng nhất trong quá trình tư duy. Khả năng suy nghĩ và mở rộng vấn đề chính là kỹ năng tư duy bậc cao. Thực tế đã chứng minh khả năng tư duy bậc 15 cao có thể phát triển thông qua quá trình con người suy nghĩ logic, sáng tạo, biết giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định cũng như có những ý tưởng mới, khả năng xử lý, phân tích thông tin. Như vậy, phát triển tư duy cần phải gắn liền với thực tiễn và thực hành.
Do đó, PPDH nêu vấn đề được xem là sự mô hình hoá quá trình tư duy và góp phần phát triển tư duy độc lập sáng tạo của người học. Bốn là, trong PPDH nêu vấn đề, phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của người học là việc người dạy tạo nên tình huống có vấn đề, người học ý thức được vấn đề đó và tự lực hoặc dưới sự định hướng của người dạy giải quyết vấn đề, kiểm tra những kết luận đã rút ra. Ở bình diện này, “người học giữ vị trí trung tâm trong PPDH nêu vấn đề nhưng không vì thế mà mâu thuẫn với vai trò chỉ đạo, định hướng của người dạy” [25, tr. Vai trò này được thể hiện: Dựa vào nội dung bài học, GV định hướng, tổ chức các hoạt động để HS xác định mâu thuẫn khách quan của các vấn đề được đưa ra; GV định hướng giúp HS xác lập phương pháp để giải quyết vấn đề; chuẩn bị các câu hỏi gợi mở; tổng kết, khái quát những tri thức mà người học cần lĩnh hội tạo nền tảng vững chắc để người học tiếp nhận các nội dung kiến thức tiếp theo.
Thực chất của PPDH nêu vấn đề là đưa người học vào các hoạt động phát hiện, tìm tòi, nghiên cứu giải quyết các mâu thuẫn, qua đó phát triển năng lực của người học – năng lực tự chủ, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề. Do đó, trong dạy học nêu vấn đề, GV không cung cấp cho người học những tri thức có sẵn mà đặt người học trước một hoặc một số vấn đề cần phải giải quyết và tạo ra những điều kiện để HS tự lực giải quyết dựa trên cơ sở mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần biết, giữa điều đã biết và điều chưa biết. Khi đó, năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoàn thành trong vấn đề được nêu ra. Mục tiêu chủ yếu của PPDH nêu vấn đề là phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của người học dưới vai trò định hướng của GV.
Đây là PPDH đòi hỏi GV phải tìm ra các phương cách kích thích nhu cầu nhận thức, ham học hỏi, khát vọng khám phá, chiếm lĩnh trí thức mới một cách tích cực của người học. Vai trò của GV và HS trong PPDH nêu vấn đề Vai trò/nhiệm vụ Vai trò/nhiệm vụ Vấn đề - thử thách và tạo của GV của HS động cơ học tập - Đưa ra câu hỏi có chứa - Tư duy, phát hiện các vấn - Vấn đề được đưa ra nảy đựng tình huống vấn đề đề cần được giải quyết sinh từ thực tiễn cuộc sống hoặc định hướng, gợi dẫn và cần có mối liên hệ chặt để HS tự phát hiện, đề xuất chẽ với nội dung bài học vấn đề - Kích thích tư duy tìm tòi, - Nhận diện, liệt kê các - Vấn đề cần có tính phức khám phá của HS vấn đề cần giải quyết tạp nhưng phải có tính hấp dẫn - Tổ chức chuyển giao - Chủ động, tự giác nhận - Kích thích, thúc đẩy nhu nhiệm vụ để HS giải quyết và hoàn thành nhiệm vụ cầu muốn tìm tòi, khám vấn đề đặt ra phá, muốn chiếm lĩnh tri thức của HS - Động viên, khuyến khích - Tích cực tư duy, trao đổi, - Vấn đề được đưa ra phù mọi HS cùng tham gia. tranh luận để tìm cách giải hợp với trình độ, năng lực Điều chỉnh mức độ khó quyết vấn đề của HS/nhóm HS khăn của vấn đề (nếu cần) - Phân tích, đánh giá cách - Tự giác nhận thấy điểm - Giải quyết vấn đề đúng giải quyết vấn đề của cá đúng/chưa đúng/đầy tạo hứng khởi cho HS nhân/nhóm HS đủ/chưa đầy đủ trong cách - Giải quyết vấn đề chưa giải quyết vấn đề của bản đúng/chưa đầy đủ, chưa thân/của nhóm toàn diện kích thích nhu cầu tiếp tục khám phá của HS - Kết luận và chốt lại vấn đề - Tìm ra ý nghĩa của vấn đề - Tạo tiền đề cho việc học tập tiếp theo Thực chất của PPDH nêu vấn đề là PPDH tiếp cận năng lực. HS được đứng trước tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, HS được định hướng việc tìm tòi, giải quyết vấn đề, qua đó giúp HS tự lực khám phá, chiếm lĩnh tri thức, hình thành, phát triển kĩ năng và phương pháp nhận thức.
Như vậy, chủ thể phát hiện tình huống có vấn đề có thể là GV, cũng có thể là người học nhưng giải quyết tình huống có vấn đề lại thuộc về trách nhiệm của HS. Đây là vấn 17 đề có tính chất nguyên tắc, vì thế dạy học nêu vấn đề đã trở thành PPDH để phát huy tính tích cực nhận thức của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của HS. Cách thức tiến hành PPDH nêu vấn đề: - GV nêu vấn đề dưới dạng các tình huống kích thích nhu cầu khám phá của người học. - GV định hướng HS nhận diện, phân tích vấn đề cần giải quyết, định hướng cách sử dụng những tri thức khoa học để giải quyết vấn đề.
- HS tự giác, chủ động tư duy, phân tích những điều mình đã biết, những tri thức đã có, những điều mình chưa biết để tìm cách thức giải quyết vấn đề. Ưu điểm, hạn chế của phương pháp dạy học nêu vấn đề Trên thực tế, không có một PPDH nào đem lại hiệu quả toàn diện đối với tất cả các môn học, các đơn vị kiến thức. PPDH nêu vấn đề vừa có những ưu điểm, vừa có những hạn chế, khó khăn nảy sinh trong quá trình vận dụng. Nhận diện đầy đủ vấn đề này là điều cần thiết để vận dụng hiệu quả phương pháp nêu vấn đề trong từng môn học, từng bài dạy cũng như từng đơn vị kiến thức.
Ưu điểm của PPDH nêu vấn đề: Một là, PPDH nêu vấn đề đặt người học vào vai trò, nhiệm vụ khám phá, chiếm lĩnh tri thức dưới sự định hướng của GV với tư cách là lực lượng chủ đạo. Do đó, sử dụng phương pháp này sẽ đảm bảo cho người học nắm được tri thức một cách vững chắc, đồng thời nắm được cả phương pháp tự học… từ đó tạo nên hứng khởi cho người học trong quá trình tìm tòi, khám phá tri thức và nhờ vậy người học cũng sẽ ghi nhớ kiến thức ấy một cách sâu sắc hơn. Hai là, thông qua việc giải quyết vấn đề nảy sinh trong tư duy, trong thực tiễn, PPDH nêu vấn đề góp phần hình thành, phát triển năng lực tự học, tự chủ, giao tiếp và hợp tác của HS nhờ việc trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.