Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ngày nay, năng lực công nghệ thông tin nói chung, năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng là xu thế tất yếu của nền giáo dục hiện đại. Nhiều người coi đó là một trong những năng lực cơ bản như làm tính và viết, đặc biệt đối với giáo viên trong bối cảnh dạy học trực tuyến và tác động của đại dịch Covid-19 (từ năm học 2019 - 2020). Xuất phát từ quan điểm việc hình thành năng lực ứng dụng CNTT để dạy học môn Lịch sử và Địa lí trong đào tạo giáo viên tiểu học phải dựa trên tìm hiểu các nguồn tài liệu liên quan đến quan điểm, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành… nên trong chương này, luận án tập trung làm sáng tỏ lịch sử nghiên cứu qua hai nhóm tài liệu tiếp cận: (1) Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm; (2) Những nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học để dạy học môn Lịch sử và Địa lí. Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm 1.
Trên thế giới * Nghiên cứu về năng lực ứng dụng CNTT trong giáo dục - Về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin Năng lực là thuật ngữ xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, được nhận diện trong các văn bản tiếng Anh, Pháp, Hà Lan với các từ “competence”, “competency”… và nhiều khái niệm lân cận khác như: khả năng/NL (Capability/ability), NL/NL thực hiện (competence), đặc tính (attribute), hiệu quả (effectiveness), thành thạo (proficiency) từ thế kỉ XVI. Đến những năm 70 của thế kỉ XX, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin, NL đã được tập trung nghiên cứu và được coi là đích đến của giáo dục, đào tạo – Competency based education and training (CBET) nhằm trang bị cho người học kiến thức, kĩ năng, thái độ để thích nghi, hòa nhập với một xã hội hiện đại biến đổi nhanh chóng. Quan niệm về NL, cách phân loại và các thành phần NL được thể hiện rõ trong các nghiên cứu của 9 Rychen, Salganik [149], Mulder, Weigel & Collin [138]; nghiên cứu sâu về đánh giá NL có Griffin [117], và Miller [136]. Nghiên cứu và xác định các NL cốt lõi của thế kỉ XXI được đưa ra trong các nghiên cứu của David và Alexis [112], Ananiadou, Claro [100], trong chương trình đào tạo các nước… Gắn liền với sự ra đời của máy vi tính (thập niên 70 – XX), Internet (thập niên 80 – XX, kĩ năng sử dụng các phương tiện kĩ thuật, hay NL CNTT được xác định là một trong những chìa khóa thành công và là một NL cốt lõi của công dân thế kỉ XXI [100].
“Nếu trẻ em cần trở thành những người biết chữ và số, ngày nay họ cũng cần biết một vài thứ về máy tính” (If children need to become literate and numerate, today they need also to know something about computers) [121]. - Về NL ứng dụng CNTT của giáo viên Trong lĩnh vực giáo dục, NL ứng dụng CNTT được quan tâm nghiên cứu đặc biệt là NL ứng dụng CNTT trong dạy học. GV được coi là lực lượng “đại diện, tiên phong trong xã hội toàn cầu và xã hội số”, là “hình mẫu công dân thời đại số” [122]. Trong nghiên cứu “Những kĩ năng và NL của người học trong thế kỉ 21 bài học từ các nước OECD” (21st century skills and competences for new millennium learners in OECD countries) của Ananiadou & Claro (2009) đã chỉ rõ yêu cầu về kĩ năng CNTT của GV.
Người GV không chỉ được đào tạo về cách giúp HS phát triển các kỹ năng và NL này mà GV cần được thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng về CNTT [100]. Các tổ chức quốc tế đã nghiên cứu đưa ra các chuẩn công nghệ dành cho GV, các hướng dẫn cho chương trình giảng dạy được quốc tế công nhận về đào tạo GV. UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc đã đưa ra Khung NL CNTT cho GV (UNESCO's ICT Competency Standards for Teachers) với 3 phiên bản trong các năm 2008, 2011 và 2018 [163]. ISTE - Hiệp hội Quốc tế về công nghệ trong giáo dục của Hoa Kỳ (International Society for Technology in Education) đưa ra chuẩn công nghệ (ISTE) cho GV (ISTE Standards for educators) [122]; Khung Châu Âu NL Kỹ thuật số của các Nhà Giáo dục viết tắt là DigCompEdu (European framework for the digital competence of educators: DigCompEdu) [146].
Ủy ban châu Âu chỉ rõ: “Sự phổ biến của các thiết bị kỹ thuật số và nhiệm vụ giúp HS trở nên có NL kỹ thuật số đòi hỏi các nhà giáo dục phải phát triển NL kỹ thuật số của riêng họ” (In particular the ubiquity of digital devices 10 and the duty to help students become digitally competent requires educators to develop their own digital competence) [146], [106]. Các khung NL CNTT cho GV của các Tổ chức giáo dục thế giới, đặc biệt của UNESCO là cơ sở cho các nhà làm chính sách giáo dục, các cơ sở đào tạo đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á như Indonesia [153], Philippines [145], Thái Lan [129]… đưa ra các chính sách, chuẩn NL CNTT, cũng như tiêu chuẩn đánh giá việc ứng dụng CNTT góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả tích hợp CNTT trong giáo dục, đào tạo. Riêng với môn Lịch sử, Địa lí: Ý nghĩa, vai trò của CNTT trong dạy học lịch sử, địa lí đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu [97], [102], [113]. Trong cuốn sách “Những vấn đề trong dạy học Lịch sử” (Issues in teaching history) của tác giả James Arthur and Robert Phillips đã đưa ra lý do vì sao cần ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử (Why ICT is an issue in history teaching) và khẳng định rằng: Trong tương lai sẽ (chỉ) còn 2 nhóm GV: nhóm nắm vững về CNTT và nhóm GV đã về hưu (In future, there will be two sorts of teacher, the IT literate, and the retired) [102].
Tuy chưa có những nghiên cứu cụ thể về NL ứng dụng CNTT để dạy học môn lịch sử, địa lí song đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những hướng dẫn cho GV khi ứng dụng CNTT trong dạy học những môn học này. Nhóm tác giả cuốn “Dạy và học Lịch sử với công nghệ” (Teaching and Learning History with Technology) [127] đưa ra những hướng dẫn cho GV xây dựng các trò chơi học tập qua các ứng dụng ảo (virtual), mô hình 3D, Google Earth và các trang web học tập. Đây là những gợi ý quan trọng về những ứng dụng phù hợp với đặc thù môn lịch sử. Vai trò của CNTT trong dạy học địa lí cũng được khẳng định trong nghiên cứu của tác giả Chris Fisher and Tony Binns [113] đó là CNTT không chỉ cung cấp một môi trường an toàn, đáp ứng đa dạng nhu cầu cá nhân và khả năng của từng HS mà còn cho phép HS truy cập các nguồn tài liệu, thông tin phong phú hơn để hiểu biết sâu sắc về không gian, môi trường, con người, văn hóa; trực quan các hiện tượng địa lí.
Đặc biệt, CNTT giúp HS phát triển các kĩ năng phân tích đồ họa, lập bản đồ, mô phỏng hoặc mô hình hóa các hệ thống và môi trường địa lí; giao tiếp với các HS khác ở các địa phương qua email, webcam và hội nghị truyền hình… 11 * Những nghiên cứu về hình thành năng lực ứng dụng CNTT cho sinh viên ngành sư phạm Các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, SV sư phạm và các biện pháp trang bị kĩ năng, NL tích hợp1 công nghệ thành công trong lớp học. Thứ nhất, nghiên cứu về rào cản, nguyên nhân ảnh hưởng đến việc ứng dụng (tích hợp) CNTT của giáo viên, sinh viên sư phạm Nhiều công trình chỉ ra các rào cản ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT của GV xuất phát từ quá trình đào tạo. Trong nghiên cứu Jones Andrew và cộng sự thuộc Cơ quan Công nghệ và Truyền thông Giáo dục Anh (BECTA) [124] chỉ ra rằng: Yếu tố từ đào tạo là nguyên nhân dẫn đến việc GV thiếu tự tin với công nghệ. Bởi quá trình đào tạo quá tập trung vào kĩ năng sử dụng thiết bị CNTT mà thiếu đào tạo về phương pháp sư phạm, dạy học với công nghệ hoặc ngược lại, không trang bị đầy đủ kĩ năng giải quyết các vấn đề về kĩ thuật khi sử dụng CNTT.
SV ít có cơ hội sử dụng CNTT trong quá trình đào tạo dẫn tới SV không thể vận dụng được những gì được dạy vào thực tiễn. Ngoài ra, còn có các rào cản về thiếu nguồn lực cơ sở vật chất, các vấn đề về kĩ thuật, niềm tin với công nghệ. Yếu tố liên quan đến quá trình trải nghiệm, thực hành, tiếp xúc với các ví dụ về ứng dụng CNTT thành công trong lớp học của SV được đưa ra trong bài viết “Chuẩn bị cho sinh viên sư phạm tích hợp công nghệ trong giáo dục: Tổng hợp các bằng chứng định tính” (Preparing pre-service teachers to integrate technology in education: A synthesis of qualitative evidence) của Jo Tondeur và các cộng sự (2012) [160]. Các tác giả cho rằng, quá trình đào tạo cần tăng cường trải nghiệm với công nghệ để SV hiểu được lý do sư phạm của việc sử dụng công nghệ và làm thế nào để CNTT hỗ trợ cho giảng dạy và học tập.
Trên cơ sở nhiều nghiên cứu trước đó, Dann Farjon, Anneke Smits, Joke Voogt (2019) trong bài viết: Việc tích hợp công nghệ của sinh viên sư phạm giải thích bởi thái độ và niềm tin, năng lực, tiếp cận và kinh nghiệm (Technology integration of pre-service teachers explained by attitudes and beliefs, competency, 1 Thuật ngữ tích hợp và ứng dụng là 2 thuật ngữ khác nhau song trong Luận án, 2 thuật ngữ được tác giả được sử dụng như nhau. 12 access, and experience) đã tổng hợp và đưa ra mô hình nghiên cứu (WEST) đánh giá ảnh hưởng của bốn yếu tố đến tích hợp CNTT của SV sư phạm gồm: Thái độ, niềm tin tích cực với công nghệ (ý chí – Will), kinh nghiệm công nghệ (Experiences), NL sử dụng công nghệ (Skill), tiếp cận với công nghệ (Tool), trong đó thái độ và niềm tin đã được tìm thấy là có ảnh hưởng mạnh nhất và tiếp cận công nghệ (công cụ) là yếu nhất [111]. Nghiên cứu về các rào cản, yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT cho thấy đào tạo là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến tích hợp công nghệ trong lớp học và hiệu quả ứng dụng CNTT của GV sau này.