Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 1. Tình hình nghiên cứu về kỹ năng mềm và giáo dục kỹ năng mềm 1. Những nghiên cứu về kỹ năng mềm Trên thế giới, kỹ năng, kỹ năng sống, KNM đã được quan tâm, được nhận thức về giá trị, sự cần thiết và tầm quan trọng từ nhiều thập kỷ qua ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Sự bùng nổ của KH-CN, sự ra đời không ngừng và ngày càng được cải tiến, hiện đại, tinh xảo, đa năng của phương tiện, công cụ, sản phẩm phục vụ lao động, sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, giao tiếp xã hội… đã khiến cho kỹ năng của con người cũng cần phải thích ứng.
Những sự biến đổi, phát triển nhanh chóng của thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, của công nghệ số, thông tin truyền thông đa phương tiện, của KH-CN, của toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh quốc tế… đã tác động, chi phối, khiến cho mỗi người phải chuyển biến, thay đổi cho phù hợp cả về nhận thức tri thức, hiểu biết kiến thức và ứng dụng, thực hành kỹ năng, trong đó đặc biệt là KNM. Học sinh, SV là những người cần thiết nhất, trực tiếp nhất cần phải được giáo dục, đào tạo, trang bị, phát triển KNM, bởi đây là những người, những thế hệ nối tiếp nhau bước vào cuộc sống, vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống KT-XH, bổ sung vào lực lượng lao động, làm việc để tạo ra của cải vật chất, sản phẩm cho XH. Do đó, đã có rất nhiều đề tài, công trình khoa học trên thế giới nghiên cứu về KNM. - Nghiên cứu của tác giả Bernd Schulz, Trường Bách khoa Namibia “The importance of soft skills: Education beyond academic knowledge” – (Tầm quan trọng của KNM: Giáo dục còn quan trọng hơn nhiều kiến thức học thuật) [94, p146] thông qua quá trình khảo sát về tầm quan trọng của các KNM ở SV khi đang học và đã tốt nghiệp đại học, xác định những KNM bổ sung cho các kỹ năng cứng cần được hình thành và phát triển ở SV.
Kết quả nghiên cứu của tác giả đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng của KNM đối với SV trong quá trình đào tạo và đối với hoạt động nghề nghiệp trong tương lai của họ. - Nghiên cứu của tác giả S. Mangala Ethaiya Rani “Need and Importance of soft skills in students” (Sự cần thiết và tầm quan trọng của các KNM đối với sinh viên) [109, pg 1-6] dựa trên việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tiếp cận, tham 9 khảo, đánh giá thực tế ở nhiều quốc gia, tác giả khẳng định, việc có được và thuần thục về KNM sẽ giúp SV tăng cơ hội việc làm của họ và có khả năng đối mặt, vượt qua những thách thức trong các tình huống của cuộc sống hiện tại cũng như tương lai. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra nhận định, KNM sẽ giúp phát huy, phát triển tiềm năng con người.
Như vậy, cùng với Bernd Schulz, S. Mangala Ethaiya Rani đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của KNM đối với SV. - Nghiên cứu của tác giả Shariffah Bahyah Syed Ahmad, Trường Đại học Nilai, Malaysia “Soft skills level of Malaysian students at a tertiary institution: A comparative case study based on gender, area of residebce and type of schools” (Phân cấp KNM của sinh viên Malaysia ở bậc đại học: Điển cứu so sánh dựa trên giới, nơi sinh sống và kiểu loại trường học) [120] là một công trình nghiên cứu khá công phu về thực trạng mức độ KNM của SV từ chương trình dự bị đến cử nhân của một trường đại học tư nhân. Nghiên cứu này chủ yếu tập trung đánh giá nhận thức của SV về mức độ thành thạo KNM của họ và chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về KNM.
- Nghiên cứu của tác giả Sharayu Potnis “Importance of soft skills in students’ life” (Tầm quan trọng của KNM trong đời sống sinh viên) [119, pg57-65] đã đề cập đến định nghĩa và tầm quan trọng của các KNM đối với một SV, tuy nhiên chưa xác định được các KNM cụ thể cần hình thành và phát triển cho SV, cũng như chưa đề cập đến quá trình giáo dục KNM cho SV… - Nghiên cứu của tác giả Barbara Cimatti, Trường Đại học Bologna, Italia: “Defintion, developmetn, assessments of soft skills and their role for the quality of organizations and enterprises” – (Định nghĩa, sự phát triển, đánh giá KNM và vai trò của nó đối với chất lượng tổ chức và doanh nghiệp) [93, 97-130] đã khẳng định KNM là một thuật ngữ phổ biến chỉ kỹ năng xuyên suốt của cá nhân như năng khiếu xã hội, khả năng ngôn ngữ và giao tiếp, sự thân thiện và khả năng làm việc trong nhóm và các đặc điểm tính cách khác đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người. Đồng thời, tác giả đã bước đầu khái quát các dấu hiệu của KNM nhưng chưa thực sự đầy đủ. Nghiên cứu của tác giả Maria Cinque Phó giáo sư ngành Phương pháp giảng dạy, đào tạo và giáo dục đặc biệt, Khoa Nghiên cứu con người, Đại học LUMSA, Rome, Italia “Lost on Translation – Soft skills development in European Countries (Sai lệch trong những cách hiểu – Sự phát triển KNM ở các nước châu Âu)” [110, 389-427] đã chỉ ra rằng, các nghiên cứu do các công ty và chuyên gia nhân sự ở EU thực hiện cho thấy các kỹ năng được gọi là KNM có liên quan chặt chẽ với việc làm, đặc biệt là đối 10 với những người trẻ tuổi tham gia vào thị trường lao động. Các nước EU đều có những phương pháp và cách tiếp cận khác nhau đối với việc giảng dạy và đánh giá các KNM, đồng thời khẳng định, mỗi nước có cách hiểu KNM khác nhau.
Tuy nhiên, tác giả chưa xác định rõ được khái niệm KNM, đặc điểm, phân loại KNM và quá trình giáo dục KNM. * Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu khái niệm, tầm quan trọng của KNM đối với người lao động, sinh viên trong thời đại hiện nay; các KNM cần thiết cho người học, nhất là sinh viên, những người sau này ra làm việc trong đa dạng các lĩnh vực, ngành nghề; phương pháp, cách thức đào tạo, giáo dục, phát triển KNM cho SV… - “Đổi mới tư duy nhận thức về KNM trong sinh viên thời đại công nghiệp 4.0” là báo cáo tham luận của tác giả Lê Thị Hiếu Thảo, Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu tham dự và đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học tổ chức tại Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn năm 2016. Trong báo cáo nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập đến khái niệm KNM để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới. Qua khảo sát thực trạng học tập KNM trong SV hiện nay, tác giả khẳng định, để có thể thích ứng với điều kiện mới, sẵn sàng đón nhận và vững vàng trong thử thách, đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn đặt ra, SV các trường đại học ở nước ta, trong thời đại ngày nay, đòi hỏi không chỉ có đủ kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn mà còn cần phải có bản lĩnh vững vàng, linh hoạt, có khả năng ứng phó với mọi sự thay đổi, tức là phải được trang bị, rèn luyện, từng bước và không ngừng hoàn thiện, phát triển KNM.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, SV nhận thức chưa đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của việc tích lũy và trang bị KNM trong quá trình sống và học tập cho đến khi ra trường và tìm việc; thậm chí, nhiều SV không nhận ra nguyên nhân thực sự của việc không được tuyển dụng mặc dù có nhiều bằng cấp; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp thay đổi nhận thức về KNM trong SV có liên quan đến hai đối tượng là SV và nhà trường [70, tr 236]. Nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Thị Hiếu Thảo, Võ Minh Hùng, Lê Thị Lan Anh, Lê Văn Quốc (2018) “Định hướng mô hình giáo dục KNM cho sinh viên trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu” đã xác định khái niệm KNM: “Kỹ năng mềm thuộc nhóm kỹ năng xã hội, là hệ thống những kỹ năng giúp cá nhân thiết lập và duy trì các mối quan hệ trong xã hội được chi phối bởi những yếu tố liên quan đến mặt cảm xúc, ngôn ngữ, thái độ nhằm thiết lập ra những mối quan hệ xã hội tích cực để các cá nhân đạt được hiệu quả cao và hạnh phúc trong công việc” [71]. Bên cạnh đó tác 11 giả cũng xác định các đặc điểm của KNM như: KNM có tính đầy đủ; KNM không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh, nó là sản phẩm của thực tiễn, là quá trình luyện tập theo một quy trình nhất định; KNM không phải là sự “nạp” kiến thức đơn thuần mà đôi khi là “cái giá” của sự trải nghiệm không hề rẻ; KNM không chỉ là biểu hiện của “trí tuệ cảm xúc” mà còn là sự vận dụng linh hoạt tri thức, kinh nghiệm vào thực tế; KNM có tính thuần thục; KNM có tính linh hoạt, sáng tạo; KNM không “cố định” cho một ngành nghề riêng biệt, KNM áp dụng được với mọi người, mọi lĩnh vực. Qua các công trình nghiên cứu về KNM có thể nhận thấy rằng: - Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước ngày càng quan tâm nghiên cứu về KNM.
Điều này đã được khẳng định thông qua số lượng các công trình nghiên cứu đã được công bố. Tuy nhiên, những công trình đã có chủ yếu tập trung vào việc xác định tầm quan trọng của KNM; bước đầu quan tâm xác định khái niệm, đặc điểm của KNM và một số KNM cụ thể. song chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. - Các đặc điểm của KNM chưa được xác định mang tính thống nhất.
- Chưa có đề tài nào xác định được một cách toàn diện về hệ thống KNM và tiêu chí đánh giá KNM. Những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm * Trên thế giới, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục KNM. Có thể chỉ ra sau đây một số công trình nghiên cứu: - Nghiên cứu của tác giả Patricla A.