CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về năng lực Ngày nay khái niệm NL được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều cách thức khác nhau. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) cho rằng NL là “khả năng đáp ứng của con người một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”[16].
Tác giả Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ của con người dựa vào việc huy động và sử dụng có hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống”[17].Weinert: “NL là những kĩ năng, kĩ xảo sẵn có của cá nhân hoặc được hình thành do quá trình học hỏi nhằm giải quyết các tình huống thực tiễn xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [26]. Theo Howard Gardner: “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động của cá nhân có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”[18]. Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 khái niệm năng lực được hiểu là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định [1]. Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì khái niệm năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa: Một là chỉ khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn của mỗi cá nhân để thực hiện một hoạt động nào đó.
Hai là chỉ một phẩm chất. một đặc điểm tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một công việc nào đó có chất lượng cao [12]. 8 Từ quan niệm trên khái niệm “Năng lực” trong đề tài này được hiểu là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một công việc nào đó có chất lượng cao”. Khái niệm về năng lực giải quyết vấn đề * Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Năng lực GQVĐ là một trong những năng lực quan trọng của con người cần hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục.
Trong dạy học việc phát hiện và bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS là một việc làm quan trọng và cần thiết. Năng lực GQVĐ của HS trong dạy học được bộc lộ thông qua các hành vi, thái độ của HS khi tham gia vào các hoạt động học tập. Vì vậy có thể hiểu NL GQVĐ của HS là khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học và những kinh nghiệm thực tiễn của bản thân để giải quyết một vấn đề, tình huống nào đó khi gặp phải trong cuộc sống cũng như trong học tập. Khi HS giải quyết vấn đề cần thực hiện các bước sau đây: - HS cần xác định được vấn đề và mục tiêu của nhiệm vụ cần giải quyết; - Sau đó thu thập thông tin và phân tích, đề xuất các giải pháp; - HS lựa chọn ra được giải pháp tối ưu trong các giải pháp đề ra để thực hiện giải quyết vấn đề; - HS tự đánh giá được kết quả sau quá trình giải quyết vấn đề, rút kinh nghiệm khi xử lí các vấn đề khác và đề xuất được phương án giải quyết các vấn đề mới khi cần thiết.
Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA đã định nghĩa năng lực giải quyết vấn đề của HS là khả năng một cá nhân tham gia vào việc xử lí, nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề tại thời điểm đó chưa tìm ra được phương pháp giải quyết rõ ràng. năng lực giải quyết vấn đề bao gồm sự tự nguyện tham gia giải quyết tình huống để cá nhân đạt được tính phản xạ và xây dựng [23]. Khi thực hiện luận án nghiên cứu về năng lực giải quyết và vấn đề và sáng tạo, tác giả Nhữ thị Việt Hoa cho rằng: “Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là năng lực của mỗi người học sử dụng các phương pháp sáng tạo để giải quyết vấn đề giúp người học hình thành và tạo ra được cách thức giải quyết mới, sản phẩm có tính mới”[6]. 9 Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Sửu khi nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề đã cho rằng: “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng một cá nhân tham gia vào việc xử lý, nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề tại thời điểm đó chưa tìm ra được phương pháp giải quyết rõ ràng.
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm sự tự nguyện tham gia giải quyết tình huống để cá nhân đạt được tính phản xạ và xây dựng”[10]. Thông qua tổng hợp các nghiên cứu đã trình bày ở trên về khái niệm năng lực và năng lực giải quyết vấn đề, trong đề tài này khái niệm về năng lực giải quyết vấn đề đối với HS tiểu học theo chúng tôi được hiểu như sau: Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng kết hợp các yếu tố thuốc tính tâm lí, kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học để đánh giá chính xác một vấn đề, tìm kiếm, thực hiện giải pháp tối ưu nhất cho vấn đề đó. Đối với HS tiểu học thì các hành vi biểu hiện ra bên ngoài của năng lực giải quyết vấn đề là HS phát hiện được vấn đề, tìm hiểu được giải pháp, vận dụng được những kiến thức kỹ năng đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ/ công việc được giao hoặc tìm hiểu hình thành kiến thức, kĩ năng mới. Một số vấn đề về năng lực giải quyết vấn đề 1.1 Cấu trúc của năng lực Chúng tôi tổng hợp và nghiên cứu tài liệu của Bộ GD&ĐT, Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội cho rằng cấu trúc của năng lực như sau [2, 9, 20]: 10 Hình 1.1 cấu trúc của năng lực.
Từ các cấu trúc của năng lực như đã trình bày ở trên, căn cứ theo các trụ cột giáo dục của UNESO cấu trúc của năng lực có thể được mô tả bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2 Cấu trúc của năng lực Từ cấu trúc của khái niệm NL như đã trình bày ở trên cho thấy giáo dục định hướng phát triển NL không chỉ hướng tới mục tiêu phát triển các NL chuyên môn mà còn phát triển các năng lực thành phần còn lại của NL GQVĐ bao gồm: NL phương 11 pháp, NL xã hội và NL cá thể. NhữngNL nàylà các thành tố không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ để tạo thành NL giải quyết vấn đề.2 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề Năng lực GQVĐ là sự tổng hòa của các năng lực sau: - Năng lực nhận thức, học tập bộ môn. Là năng lực giúp người học nắm vững kiến thức bao gồm các khái niệm, quy luật, các mối quan hệ và các kỹ năng trong từng bộ môn cụ thể. - Năng lực hợp tác và làm việc nhóm.
HS có năng lực hợp tác và làm việc nhóm sẽ học được cách ứng xử, quan hệ xã hội và tích lũy kinh nghiệm giải quyết vấn đề cho bản thân. - Năng lực tự học là năng lực giúp người học có khả năng tự chủ động tìm tòi học hỏi những vấn đề cá nhân cảm thấy cần thiết. - Năng lực vận dụng kiến thức kỹ năng đã học vào giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Là năng lực giúp người học có khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức trong việc phát hiện vấn đề và vận dụng những kiến thức kỹ năng đã học kết hợp với kinh nghiệm của bản thân để giải quyết những vấn đề học tập có liên quan đến thực tiễn cuộc sống.
Như vậy, năng lực giải quyết vấn đề có cấu trúc chung là sự kết hợp của các năng lực trên. Bên cạnh đó năng lực giải quyết vấn đề còn là sự bổ trợ của một số kỹ năng thành tố thuộc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt khác. Qua đó cấu trúc NL GQVĐ được mô tả bởi các thành tố và các chỉ số hành vi như sau: 12 Sơ đồ 1.3 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề.3 Biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề của HS tiểu học. Theo Nguyễn Thị Thủy ở mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có các biểu hiện về năng lực giải quyết vấn đề khác nhau.
Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của HS tiểu học như sau [13]: - Tìm hiểu và phát hiện vấn đề: Phát hiện và xác định các vấn đề cần giải quyết. HS biết phân tích một số thông tin ban đầu để chuyển vấn đề cần giải quyết đó thành các nhiệm vụ đơn giản hơn để có thể khám phá và tháo gỡ. - Xác định hướng giải quyết vấn đề: Biết đặt câu hỏi, chọn và ghi lại các thông tin có liên quan đến vấn đề. Biểu hiện này cho thấy rằng không phải lúc nào các em cũng có thể nhận diện và tìm ra cho mình giải pháp để tháo gỡ vấn đề, tuy nhiên đây là biểu hiện sơ đẳng của năng lực giải quyết vấn đề.
Thu thập thông tin khác nhau từ nhiều nguồn để phân tích, từ đó đưa ra các phương án giải quyết. HS dựa trên những 13 thông tin, giả thuyết cho sẵn để phân tích tìm mối liên hệ với những kiến thức có sẵn rồi đề xuất các phương án giải quyết. - HS trình bày các giải pháp: Có thể lựa chọn phương án tối ưu và trình bày ý kiến cá nhân về phương án đã lựa chọn. - HS đánh giá và phản ánh giải pháp đã lựa chọn: HS hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề.
HS giải thích được lý do lựa chọn các giải pháp, khám phá các giải pháp mới có thể thực hiện được và điều chỉnh hành động của bản thân. Trong quá trình thực hiện có thể xảy ra những sai sót hay những vấn đề mới này sinh, vì vậy HS có thể điều chỉnh thay đổi các giải quyết vấn đề theo một hướng khác với các giải pháp mới. Xem lại phương pháp giải quyết vấn đề của mình, đánh giá cách thức đã làm và đề xuất những cải tiến phù hợp.