Chương 1. Cơ sở lý luận Tổ chức dạy học Nói và nghe tuân thủ định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018: phát huy tính tích cực của người học; dạy học tích hợp và phân hóa; đa dạng hóa các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học…tạo cơ hội để học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tiễn; chủ động, tự tin trong giao tiếp và kết nối với văn học, với con người và thế giới xung quanh. Kỹ năng nói Kĩ năng nói (KNN) được đánh giá là phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực (NL) giao tiếp bằng một ngôn ngữ của mỗi người. Cùng với kĩ năng (KN) nghe, KNN được xác định là một trong những KN cơ bản của thế kỉ XXI.
Erik Palmer đã thống kê cách chúng ta sử dụng thời gian giao tiếp: Viết: 9%, Đọc: 16%, Nói: 30%, Nghe: 45%. Như vậy, chúng ta sử dụng 3/4 thời gian giao tiếp cho việc nghe và nói. Việc thiếu hụt KNN trong các hoạt động giao tiếp sẽ là một cản trở rất lớn đối với mỗi người trong xã hội. Nói là khả năng diễn đạt lời nói dưới dạng âm thanh, thể hiện ở việc người nói dùng khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục.
Làm chủ được KNN sẽ giúp người nói tạo ra mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, tự khẳng định mình và là công cụ tạo ảnh hưởng với người khác. Thực tế đã chứng minh những người giao tiếp bằng lời nói hiệu quả sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn trong trường học và trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói: - Yếu tố con người bao gồm các vấn đề về nhân khẩu học, phát âm, nhịp điệu, tốc độ nói, kinh nghiệm nói, sự chuẩn bị và tâm lí khi nói. Để rèn luyện tốt KNN, HS cần nhận thức rằng không nên chỉ cố gắng học thuộc lòng toàn bộ nội dung bài viết mà hãy biết điều khiển giọng nói của mình: cần thể hiện đúng ngữ điệu thể hiện mục đích nói của câu, ý thức được việc nhấn giọng trong cùng một câu nói nhưng ở những vị trí khác nhau sẽ tạo ra nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau.
Do đó, trong rèn luyện KNN, GV cần hướng dẫn HS cách tự đúc rút kinh nghiệm sau mỗi lần thực hiện việc nói tự do hoặc nói theo chủ đề. - Nội dung nói là một nhân tố thiết yếu. Để có tính hấp dẫn, thu hút người nghe, đề tài nói cần đảm bảo tính thiết thực, đặc sắc, mới lạ và độc đáo. Bố cục và trình bày nội dung nói cần được sắp xếp theo một tổ chức nhất định, rõ ràng, logic, hợp lí, có tính thuyết phục cao nhằm dẫn dắt người nghe theo dõi diễn tiến của bài phát biểu, từ đó hiểu được thông điệp truyền đạt.
Khi nói, người nói cần đảm bảo tính nhất quán về nội dung được nhắc đến, cụ thể là cần có sự tương đồng giữa các nội dung cơ sở lí thuyết, thực trạng, phân tích, đánh giá. - Các yếu tố bên ngoài như người nghe, không gian, thời gian nói, các phương tiện công nghệ hỗ trợ. có những ảnh hưởng quan trọng đến việc rèn luyện KNN. Trong đó, người nghe là tác nhân có ảnh hưởng lớn nhất.
Thái độ, sự hợp tác và ủng hộ của người nghe sẽ khiến cho người nói thoải mái hơn và bộc lộ hết khả năng và truyền tải được trọn vẹn, sinh động nội dung cần nói. Sử dụng công nghệ thông tin vào việc minh họa, hỗ trợ cho phần trình bày bằng lời cũng ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả và chất lượng nói. Việc sử dụng các công cụ trình chiếu, các hình ảnh minh họa cho bài phát biểu sẽ giúp người nghe hiểu rõ hơn về nội dung đang được nói đến và người nói sẽ dễ dàng tương tác với người nghe. Kỹ năng nghe Điểm khác biệt lớn nhất của Chương trình GDPT 2018 so với Chương trình GDPT 2006 là sự chuyển hướng hoàn toàn từ chương trình coi trọng truyền đạt kiến thức sang chương trình chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực, lấy các kĩ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết làm trục chính.
Trong đó, Chương trình GDPT 2018 đã quy định rõ thời lượng dành cho hoạt động nói và nghe là 10% số tiết của năm học. Lộ trình dạy học kĩ năng nói và nghe trong chương trình có sự nhất quán, liên tục cả ba cấp học. Ở cấp THPT, Chương trình định hướng người dạy tiếp tục phát triển các năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở với các yêu cầu cần đạt cao hơn: Nói và nghe linh hoạt; có khả năng nghe và đánh giá được nội dung cũng như hình thức biểu đạt của bài thuyết trình; có chủ kiến, cá tính, có thái độ tranh luận phù hợp… Kĩ năng nghe yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật,…; Kĩ năng nói và nghe tương tác gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn,… Như vậy, nghe và lắng nghe là kỹ năng tiếp nhận và diễn giải chính xác các thông điệp trong quá trình giao tiếp thông qua lời nói và cả ngôn ngữ cơ thể của đối phương. Ông bà ta từng nói : “người nói có người nghe”.
Bởi vậy, cùng với kỹ năng nói, lắng nghe là chìa khóa vàng của một cuộc đối thoại hiệu quả. Nếu không có khả năng này, các thông điệp giao tiếp sẽ không được truyền tải rõ ràng giữa người với người. Từ đó, quá trình đối thoại cũng dễ bị gián đoạn, khó tránh khỏi những hiểu lầm, thậm chí gây xích mích và ảnh hưởng tới mối quan hệ của người nói và người nghe. Việc lắng nghe trong học văn sẽ giúp học sinh tiếp thu ý kiến của thầy cô, các bạn, từ đó học hỏi và đưa ra những ý kiến cá nhân phù hợp trên cơ sở tôn trọng, hợp tác, chia sẻ.
để đạt hiệu quả tối ưu cho bài học. Khi lắng nghe một cách đồng cảm, bạn đang thể hiện sự quan tâm đến người đối diện. Bạn đang mong muốn hiểu rõ hơn tình huống, cảm xúc mà họ đang thảo luận. Bạn đặt mình vào vị trí của người nói để hiểu rõ hơn về những gì họ nói.
Mục tiêu của kỹ năng nghe trong giao tiếp là tập trung tất cả vào người nói chứ không phải vào bản thân mình. Do đó, bạn sẽ dễ dàng đồng cảm và thấu hiểu quan điểm của họ. Kỹ năng nghe còn giúp bạn đánh giá, phân tích tất cả thông tin và đưa ra quyết định. Lắng nghe để đánh giá cũng đồng nghĩa với việc bạn phải suy nghĩ cẩn thận hơn để đưa ra những nhận xét chuẩn xác dựa trên những gì mắt thấy, tai nghe và thấu hiểu.
Một người có kỹ năng lắng nghe giỏi sẽ là người có tư tưởng thoáng với những suy nghĩ khách quan. Luôn tôn trọng người nói và đồng cảm với quan điểm của họ. Suy cho cùng, không phải tất cả điều gì chúng ta nghĩ nó đúng là sẽ luôn đúng. Tiếp thu và cởi mở với tư tưởng mới, hạn chế cái tôi, học cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều hướng sẽ giúp bạn trở nên sâu sắc và giao tiếp hiệu quả hơn.
Qua hoạt động nghe của các bài học văn, HS biết xác định mục đích giao tiếp, lựa chọn nội dung, kiểu văn bản và thể loại, ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ khác nhau để thảo luận; biết đối thoại phù hợp dựa trên ngữ cảnh; chủ động, tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ trong giao tiếp. HS biết đồng cảm với suy nghĩ của người khác; biết sống hoà hợp và hoá giải các mâu thuẫn; thiết lập và phát triển mối quan hệ với người khác. Cơ sở thực tiễn 2. Thực tế của việc dạy học kỹ năng nói và nghe trong trường THPT hiện nay.
Phần Nói và nghe là một nội dung dạy học mới được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học của học sinh, bên cạnh nội dung Đọc và viết đã quen thuộc hơn. Tuy nhiên, theo phân phối chương trình Ngữ văn và cấu trúc bài học chủ đề, phần Nói - nghe chiếm dung lượng thời gian khá ít (1 tiết/ 1 bài Nói và nghe). Đây là một thử thách đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp để có thể tổ chức dạy học hiệu quả, giúp học sinh được thực hành nói và nghe đạt được yêu cầu và mục tiêu của bài học. Một thực tế có thể thấy là hiện nay, một bộ phận học sinh (HS) trung học còn yếu về kỹ năng nói và nghe.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Dễ thấy nhất là HS ngại nói trong giờ học, có tâm lí ngượng ngùng, dè dặt vì sợ nói sai, không có đủ thông tin để diễn đạt. Sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp, ít giao lưu trong gia đình, tập thể dẫn đến việc HS không chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện các chủ đề, hình thức nói. Các hoạt động tập thể cần đến việc trao đổi, thảo luận, diễn thuyết, hùng biện,.
ít và khó được tổ chức nên HS không có nhiều điều kiện để rèn luyện kỹ năng nói và nghe. Số lượng HS ở mỗi lớp học khá đông nên việc rèn luyện kỹ năng nói và nghe cho từng HS còn hạn chế. Một bộ phận giáo viên (GV) chú trọng rèn luyện KN viết, chưa có phương pháp phù hợp, sáng tạo để khuyến khích, tạo điều kiện và phát triển NL nói cho HS. Nhu cầu giao tiếp, truyền thông quốc tế ngày càng mở rộng trong thời đại thông tin đã khiến nhiều người tham gia vào các lớp học ngôn ngữ để nâng cao khả năng nói của mình.
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện sự quan tâm nhất định đến việc phát triển toàn diện các KN hoạt động lời nói cho người học, trong đó có kỹ năng nói và nghe. Bởi vậy, cần thiết có một sự nhìn nhận thỏa đáng và có những nghiên cứu thiết thực để tìm ra những cách thức dạy học (DH) kỹ năng nói và nghe hiệu quả cho HS.