Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học" của tác giả Vũ Thu Hằng được thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lương Việt Thái, thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục (Mã số: 9.02).
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và sự triển khai của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Sự chuyển đổi căn bản từ nền giáo dục định hướng nội dung sang phát triển năng lực và phẩm chất đòi hỏi phương pháp dạy học phải đặt người học vào trung tâm, tạo điều kiện để học sinh "tự giác, tự do, tự khám phá". Dạy học phân hóa (DHPH) là chiến lược đáp ứng sự khác biệt cá nhân về nhận thức, nhu cầu và phong cách học tập, có vai trò hỗ trợ học sinh yếu kém đạt chuẩn kiến thức, đồng thời thúc đẩy học sinh khá, giỏi nâng cao năng lực. Trong cấu trúc của dạy học phân hóa, bài tập phân bậc (BTPB) giữ vai trò là công cụ kĩ thuật cốt lõi giúp giáo viên phân hóa nhiệm vụ và đánh giá mức độ nhận thức. Tuy nhiên, thực tế tại các trường tiểu học cho thấy giáo viên gặp nhiều khó khăn, việc ứng dụng BTPB còn mang tính rời rạc, thiếu đồng bộ và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà chưa có một quy trình sư phạm chuẩn hóa dựa trên thang đo nhận thức khoa học.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Mặc dù các lý luận về dạy học phân hóa và bài tập đã được nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập, song chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa ở cấp tiểu học dựa trên thang đo nhận thức 6 cấp độ của Bloom nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa, xây dựng quy trình thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom nhằm hỗ trợ giáo viên tiểu học vận dụng thiết kế bài tập phân bậc trong các môn học, từ đó phân loại mức độ nhận thức và điều chỉnh quá trình dạy học đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực và phẩm chất cho học sinh tiểu học, phù hợp với thực tiễn giáo dục hiện nay.
- Giả thuyết khoa học: Bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa đóng vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cấp tiểu học. Nếu xây dựng quy trình thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa theo thang Bloom đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, góp phần hỗ trợ giáo viên tiểu học vận dụng thiết kế bài tập phân bậc trong các môn học để giúp kiểm tra, đánh giá và phân loại mức độ nhận thức của học sinh, từ đó điều chỉnh hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thiết kế và sử dụng bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa ở các trường tiểu học; từ đó làm cơ sở thực tiễn đề xuất quy trình thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom.
- Đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở cấp tiểu học.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của quy trình thiết kế và sử dụng bài tập phân bậc theo thang Bloom; từ đó khẳng định tính khoa học của giả thuyết đề ra.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phân hóa ở tiểu học.
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Quy trình thiết kế và sử dụng bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa cấp tiểu học, vận dụng minh họa và thực nghiệm trên môn Toán lớp 5 và môn Khoa học lớp 4.
- Không gian (địa bàn khảo sát và thực nghiệm): 50 trường tiểu học thuộc 3 địa phương: 28 trường tại thành phố Hà Nội (Quận Ba Đình, Quận Cầu Giấy, Quận Nam Từ Liêm, Huyện Đông Anh, Huyện Phú Xuyên); 12 trường tại tỉnh Lào Cai (Phường Lào Cai, Phường Cốc Lếu, Phường Kim Tân, Phường Bắc Cường, Xã Tả Phời, Xã Hợp Thành); 10 trường tại tỉnh Ninh Bình (Phường Thanh Bình, Phường Tân Thành, Phường Nam Bình, Huyện Nho Quan, Huyện Kim Sơn).
- Khách thể khảo sát và thực nghiệm: 2.130 giáo viên (bao gồm cán bộ quản lí và giáo viên tiểu học) và 3.039 học sinh tiểu học.
- Thời gian khảo sát thực trạng: Năm học 2018 – 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy tư tưởng dạy học phân hóa đã manh nha từ thời cổ đại phương Đông với Khổng Tử qua việc dạy học chú ý đến từng cá nhân, phân chia bài dạy thành "công truyền" (luân thường đạo lý cho số đông) và "tâm truyền" (kiến thức cao sâu cho người có tư chất đặc biệt). Tại phương Tây, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, các nhà giáo dục tiến bộ đã nhấn mạnh việc phát huy tiềm năng cá nhân: J. Comenius (Comensky, J.) nhấn mạnh dạy học phải khơi gợi tính tích cực, chủ động tự tìm tòi của học sinh; J. Rousseau (Rousseau, J.) chú trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ; A. Diesterweg (Disterweg, A.) khẳng định dạy học cần dựa vào tâm lý học sinh và người giáo viên giỏi phải dạy học sinh cách tìm ra chân lý; J. Dewey (Deway, J.) xem giáo dục là sự phát triển tiềm năng cá nhân dựa trên kinh nghiệm và hứng thú; E. Claparède (Claparede, E.) đề cao việc khơi dậy phản ứng tích hợp của trẻ dựa trên khả năng riêng biệt.
Cơ sở khoa học của dạy học phân hóa thế kỷ XX được xây dựng từ các lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development) của L. Vygotsky: Học sinh khác nhau ở vùng phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất, đòi hỏi dạy học phải dựa trên mức độ vừa sức và có tính nâng cao.
- Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner (1993): Mỗi cá nhân sở hữu 8 loại hình trí tuệ khác nhau (ngôn ngữ, logic – toán, không gian, hình thể – động năng, âm nhạc, giao tiếp, nội tâm, tự nhiên học), là cơ sở để tôn trọng và đáp ứng sự khác biệt của người học.
Các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu về dạy học phân hóa gồm: C.A. Tomlinson (1999, 2001, 2003, 2010, 2014) với các công trình về lớp học phân hóa, khẳng định dạy học phân hóa là chiến lược giảng dạy linh hoạt đáp ứng nhu cầu khác biệt của từng học sinh dựa trên mức độ sẵn sàng, hứng thú và phong cách học tập; Hall (2002); Batt & Lewis (2005); Brimijoin & Narvaez (2008); Hiam Ginott (1972); Allen, Gregory, Mikami, Hamre & Pianta (2012); John Hattie (2009); David & Kimberly (2007); Chapman & King (2003, 2005); O'Meara (2010).
Về bài tập phân bậc và tổ chức luyện tập, J.H. Pestalozzi (1746–1827) khẳng định kỹ năng hành động được hình thành nhờ hệ thống bài luyện tập có độ phức tạp tăng dần; Ahmed đưa ra 3 giai đoạn tổ chức bài tập tự học; Robert J. Pollock chỉ ra bài tập phân bậc giúp người học đào sâu kiến thức và rèn luyện kỹ năng; I.F. Kharlamov nhấn mạnh vai trò của bài tập sáng tạo trong hoạt động trí tuệ; R. Pierce xây dựng 3 bậc bài tập (dưới chuẩn, đạt chuẩn, trên chuẩn) dựa trên 10 tiêu chí phân hóa (mức độ kỹ năng, vốn từ vựng, tính phức tạp, mức độ tư duy, mức độ hứng thú, mức độ trừu tượng, mức độ tinh tế trong nghiên cứu, độ cởi mở của quá trình và sản phẩm, quan điểm/vai trò thực tế, sản phẩm thực tế).
Tại Việt Nam, tư tưởng dạy học phân hóa được đề cập trong các nguyên lý giáo dục của Đặng Vũ Hoạt (1987, 2015), Thái Duy Tuyên (1993, 2001, 2012), Nguyễn Bá Kim (2006), Tôn Thân (1995, 2005, 2006). Đặng Hữu Giang (2001) phân loại học sinh tiểu học thành 4 nhóm (giỏi, khá, trung bình, yếu kém). Về môn Toán tiểu học, Trần Ngọc Lan & Nguyễn Thúy Vân (2009) đề xuất quy trình 4 bước dạy học phân hóa; Lê Thị Thu Hương (2012) đề xuất quy trình 3 bước; Vũ Văn Tảo & Trần Văn Hà (1996) phân tích bài tập như cầu nối lý thuyết với thực hành. Các công trình của Đào Thị Oanh (2014), Đặng Thành Hưng (2005), Lê Hoàng Hà (2014), Nguyễn Thị Cẩm Vân (2014) cũng phân tích sâu về lớp học phân hóa. Các luận án nghiên cứu hệ thống bài tập rèn luyện tư duy có: Trần Đình Châu (1996), Tôn Thân (1995) trong môn Toán THCS; Lê Hữu Tỉnh (2001), Xuân Thị Nguyệt Hà trong môn Tiếng Việt tiểu học.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận dạy học phân hóa ở cấp vĩ mô (phân ban, trường chuyên, lớp chọn) hoặc nghiên cứu hệ thống bài tập cho học sinh khá giỏi theo kinh nghiệm của từng môn học riêng lẻ. Luận án này tập trung giải quyết khoảng trống về phương diện lí luận dạy học vi mô: chuẩn hóa một quy trình thiết kế bài tập phân bậc tích hợp trực tiếp thang 6 cấp độ nhận thức của Bloom cho cấp tiểu học, gắn kết chặt chẽ với các mức độ đánh giá theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và khung phân tích chính sau:
- Dạy học phân hóa (DHPH): Là chiến lược dạy học trong đó người học được chủ động, tự giác, tự do khám phá, lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp trong bối cảnh nội dung học tập mới, trên cơ sở giáo viên đã thiết kế các hoạt động học tập đa dạng đáp ứng sự khác biệt về năng lực, phong cách học tập, kiểu trí tuệ, trình độ nhận thức, sở thích và điều kiện học tập. Phân hóa được tiếp cận ở 2 cấp độ: phân hóa vĩ mô (phân hóa ngoài về mặt tổ chức, trường chuyên, lớp chọn, phân ban, hoạt động ngoại khóa, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém) và phân hóa vi mô (phân hóa nội tại trong từng tiết học, lớp học thống nhất).
- Bài tập phân bậc (BTPB): Hệ thống bài tập có cấu trúc tăng dần theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, thực hiện chức năng củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực tự học và tư duy sáng tạo, đồng thời đóng vai trò công cụ đo lường mức độ tiếp thu của học sinh.
- Thang nhận thức Bloom và Bloom tu chính: Khung phân loại 6 cấp độ nhận thức (Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo), đóng vai trò công cụ chuẩn hóa để phân tầng độ khó và yêu cầu tư duy của hệ thống bài tập.
Luận án sử dụng 3 hướng tiếp cận phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Tiếp cận hoạt động: Đặt giáo viên và học sinh vào các hoạt động dạy - học cụ thể để phát hiện bản chất và quy luật vận động của quá trình nhận thức, lấy hoạt động sáng tạo bài tập của giáo viên và hoạt động giải bài tập của học sinh làm trung tâm.
- Tiếp cận thực tiễn: Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở trường tiểu học để phát hiện vấn đề, đưa quy trình vào thử nghiệm thực tế và lấy kết quả thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm chứng.
- Tiếp cận hệ thống: Xem xét quá trình dạy học phân hóa trong mối quan hệ tổng thể giữa giáo viên, học sinh, mục tiêu giáo dục, chương trình sách giáo khoa, cơ sở vật chất và môi trường giáo dục.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm kiếm, thu thập, phân tích, tổng hợp và diễn dịch các tài liệu lý luận về dạy học phân hóa, bài tập phân bậc, thang nhận thức Bloom và Chương trình GDPT 2018.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (anket): Thu thập dữ liệu khảo sát từ 2.130 giáo viên, cán bộ quản lý và 3.039 học sinh tại 50 trường tiểu học.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá trực tiếp của các chuyên gia giáo dục tiểu học về tính khoa học, tính khả thi và tiêu chí đánh giá quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo 2 vòng (vòng 1 thực nghiệm hình thành, vòng 2 thực nghiệm tác động có nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng) trên môn Toán lớp 5 và môn Khoa học lớp 4.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích, khái quát hóa kinh nghiệm thực tế của giáo viên tiểu học.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích số liệu định lượng bằng phần mềm SPSS 22 và phần mềm R. Sử dụng thống kê mô tả (Mean, Mode, Median, Skewness, biểu đồ tần suất Histogram) và thống kê suy luận (kiểm định Independent Samples T-test để so sánh giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng, kiểm định Paired-Samples T-test để so sánh trước và sau tác động, kiểm định p-value, đánh giá mức độ ảnh hưởng Effect Size d và mức độ tương quan Hopkins).
| Tiêu chí | Mô tả số liệu thực tế trong luận án |
|---|---|
| Quy mô trường khảo sát | 50 trường tiểu học (28 trường Hà Nội, 12 trường Lào Cai, 10 trường Ninh Bình) |
| Mẫu giáo viên và cán bộ quản lý | 2.130 người tham gia khảo sát thực trạng |
| Mẫu học sinh | 3.039 học sinh tham gia khảo sát và thực nghiệm |
| Thời gian khảo sát thực trạng | Năm học 2018 – 2019 |
| Môn học thực nghiệm | Môn Toán lớp 5 và Môn Khoa học lớp 4 |
| Phần mềm xử lý dữ liệu | Phần mềm SPSS 22 và phần mềm thống kê R |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa theo thang Bloom ở tiểu học
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học phân hóa và bài tập phân bậc. Tác giả phân tích nguồn gốc tư tưởng dạy học phân hóa từ lịch sử giáo dục phương Đông và phương Tây, làm rõ các lý thuyết nền tảng bao gồm Thuyết Vùng phát triển gần của L. Vygotsky và Thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner. Chương này phân tích chi tiết bản chất của dạy học phân hóa ở hai cấp độ: vĩ mô (tổ chức trường, lớp, chương trình ngoại khóa, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém) và vi mô (phân hóa trong từng bài học, tiết học).
Tác giả xác lập các đặc điểm cốt lõi của dạy học phân hóa: tích cực hóa hoạt động của người học; giáo viên giữ vai trò thiết kế và định hướng trong khi học sinh là chủ thể thi công quá trình học tập; cân bằng giữa sự đa dạng của học sinh với sự phong phú của hoạt động học tập; đảm bảo mọi học sinh dù đi theo các con đường học tập khác nhau đều đạt được mục tiêu bài học. Về mặt công cụ, chương 1 phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng và các loại bài tập phân bậc, chỉ ra ưu điểm trong việc kích thích động cơ học tập và hạn chế khi giáo viên thiếu quy trình thiết kế chuẩn xác.
Tác giả đối chiếu thang nhận thức 6 cấp độ của Bloom (và Bloom tu chính) với yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đồng thời so sánh với các quy định đánh giá học sinh tiểu học tại Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT (4 mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng, Vận dụng nâng cao) và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT (3 mức độ: Nhận biết/nhắc lại, Kết nối/sắp xếp, Vận dụng giải quyết vấn đề mới). Qua đó, tác giả khẳng định thang Bloom là công cụ khoa học phù hợp nhất để lượng hóa và xây dựng hệ thống bài tập phân bậc cho học sinh tiểu học.
Chương 2: Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng trên diện rộng tại 50 trường tiểu học thuộc thành phố Hà Nội (các quận Ba Đình, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và các huyện Đông Anh, Phú Xuyên), tỉnh Lào Cai và tỉnh Ninh Bình trong năm học 2018–2019, với sự tham gia của 2.130 giáo viên, cán bộ quản lý và 3.039 học sinh.
Kết quả điều tra cho thấy:
- Về nhận thức: Đa số giáo viên và cán bộ quản lý đã nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng và mục đích của dạy học phân hóa cũng như bài tập phân bậc trong việc nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực học sinh tiểu học. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết sâu về thang Bloom và cách thức mã hóa bài tập theo từng cấp độ nhận thức của thang Bloom còn nhiều hạn chế và có sự chênh lệch giữa các vùng miền (giữa khu vực nội thành Hà Nội với ngoại thành và các tỉnh miền núi như Lào Cai).
- Về thực hành thiết kế và sử dụng: Tỉ lệ giáo viên xây dựng và sử dụng bài tập phân bậc theo quy trình bài bản còn thấp. Việc thiết kế bài tập phân bậc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân, sao chép từ sách tham khảo hoặc phân chia bài tập một cách cảm tính mà không theo một thang đo chuẩn tắc.
- Khó khăn của giáo viên: Giáo viên gặp trở ngại lớn trong việc phân định ranh giới giữa các cấp độ nhận thức của thang Bloom khi soạn bài tập; thiếu thời gian chuẩn bị học liệu cho nhiều nhóm đối tượng học sinh trong một tiết dạy; sĩ số lớp học quá đông gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động học tập phân hóa và theo dõi tiến độ từng học sinh; thiếu nguồn bài tập phân bậc mẫu và tài liệu hướng dẫn quy trình thực hiện cụ thể.
Chương 3: Quy trình thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa theo thang Bloom ở tiểu học
Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã khảo sát, Chương 3 đề xuất 4 nguyên tắc sư phạm và quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom ở cấp tiểu học.
Bốn nguyên tắc thiết kế bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu dạy học: Bài tập phải bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của chương trình môn học.
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống: Bài tập phải được sắp xếp theo logic nội dung, có sự liên kết chặt chẽ và tăng tiến về mức độ nhận thức.
- Nguyên tắc đảm bảo tính phân hóa và vừa sức đối với học sinh: Phù hợp với vùng phát triển gần của từng nhóm đối tượng học sinh, từ học sinh chưa đạt chuẩn đến học sinh khá, giỏi.
- Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của học sinh: Kích thích tính chủ động, tư duy độc lập và khả năng tự đánh giá của người học.
| Bước trong quy trình | Nội dung thao tác thực hiện |
|---|---|
| Bước 1: Xác định mục tiêu học tập | Xác định rõ yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực của bài học theo chương trình. |
| Bước 2: Phân tích nhu cầu học tập của học sinh | Đánh giá trình độ xuất phát, phong cách học tập, sở thích và mức độ sẵn sàng của học sinh thông qua khảo sát hoặc bài kiểm tra chẩn đoán. |
| Bước 3: Lựa chọn nội dung học tập | Xác định mạch kiến thức trọng tâm, nội dung cốt lõi cần tổ chức luyện tập và phân hóa. |
| Bước 4: Mã hóa nội dung học tập theo thang Bloom | Thiết kế các câu hỏi, bài tập tương ứng với 6 cấp độ nhận thức của thang Bloom (từ Nhận biết đến Sáng tạo). |
| Bước 5: Lựa chọn phương thức sử dụng bài tập | Quyết định hình thức tổ chức giao bài (cá nhân, nhóm, phiếu học tập, góc học tập, hợp đồng học tập). |
| Bước 6: Tổ chức hoạt động thực hành cho học sinh | Triển khai cho học sinh thực hiện bài tập trên lớp theo tiến trình dạy học phân hóa đã thiết kế. |
| Bước 7: Phản hồi và điều chỉnh | Thu thập kết quả thực hiện, nhận xét, đánh giá sự tiến bộ của học sinh và điều chỉnh kế hoạch dạy học tiếp theo. |
Quy trình 7 bước đã được lấy ý kiến chuyên gia và được đánh giá cao về tính khoa học, tính khả thi và cấu trúc thứ bậc tiêu chí. Để chứng minh tính ứng dụng, tác giả đã xây dựng hệ thống bài tập phân bậc minh họa chi tiết theo quy trình cho 2 môn học:
- Môn Toán lớp 5: 7 chủ đề (Ôn tập về phân số, Hình thang, Thể tích hình hộp chữ nhật, Hình tròn – đường tròn, Diện tích hình tam giác, Vận tốc, Trừ số đo thời gian).
- Môn Khoa học lớp 4: 6 chủ đề (Hỗn hợp, Sự biến đổi hóa học, Sự sinh sản của côn trùng, Sự sinh sản của ếch, Tác động của con người đến môi trường rừng, Tác động của con người đến môi trường đất).
Chương 4: Tổ chức thực nghiệm sư phạm
Chương 4 mô tả toàn bộ quá trình tổ chức và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của quy trình 7 bước đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành qua 2 vòng:
- Vòng 1 (Thực nghiệm hình thành): Triển khai dạy học thực nghiệm trên môn Toán lớp 5 và môn Khoa học lớp 4 tại một số trường tiểu học thuộc các quận/huyện Cầu Giấy, Ba Đình, Đông Anh (Hà Nội). Mục tiêu của vòng 1 là thử nghiệm tính khả thi của quy trình 7 bước, đánh giá khả năng thực hiện của giáo viên, đo lường điểm số trước và sau thực nghiệm hình thành, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện quy trình.
- Vòng 2 (Thực nghiệm tác động): Mở rộng quy mô thực nghiệm trên toàn bộ các trường thuộc mẫu nghiên cứu tại thành phố Hà Nội, tỉnh Lào Cai và tỉnh Ninh Bình. Thiết kế thực nghiệm so sánh song song giữa lớp Thực nghiệm (TN - giáo viên áp dụng quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom) và lớp Đối chứng (ĐC - giáo viên dạy học theo phương pháp thông thường).
Dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 và ngôn ngữ R:
- Phân tích thống kê mô tả (điểm trung bình, số trội, trung vị, độ lệch skewness, biểu đồ phân phối điểm Histogram) cho thấy phân phối điểm số của lớp thực nghiệm có xu hướng lệch phải rõ rệt (nhiều điểm khá, giỏi) so với lớp đối chứng.
- Phân tích thống kê suy luận qua kiểm định T-test độc lập (Independent Samples T-test) giữa nhóm TN và ĐC, cùng kiểm định T-test bắt cặp (Paired-Samples T-test) giữa trước và sau thực nghiệm cho thấy sự khác biệt về điểm số đạt mức ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$).
- Tính toán hệ số mức độ ảnh hưởng (Effect Size d) và mức độ tương quan Hopkins khẳng định việc sử dụng bài tập phân bậc thiết kế theo quy trình 7 bước có tác động tích cực rõ rệt đến kết quả học tập và năng lực nhận thức của học sinh ở cả hai môn Toán 5 và Khoa học 4.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:
-
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dạy học phân hóa và thiết kế bài tập phân bậc trong giáo dục tiểu học; làm rõ bản chất, đặc điểm, chức năng, vai trò và phân loại bài tập phân bậc trong mối quan hệ với thang nhận thức Bloom và Bloom tu chính.
- Xác lập mối liên hệ khoa học giữa các cấp độ nhận thức của thang Bloom với yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh tiểu học trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và các văn bản chỉ đạo đánh giá học sinh tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT).
-
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng toàn diện và có giá trị thực tiễn về nhận thức, mức độ sử dụng, các bước thực hiện và khó khăn của giáo viên tiểu học khi thiết kế bài tập phân bậc tại 50 trường tiểu học thuộc 3 địa phương đại diện (Hà Nội, Lào Cai, Ninh Bình).
- Xây dựng và chuẩn hóa quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học (từ xác định mục tiêu, phân tích nhu cầu, lựa chọn nội dung, mã hóa theo thang Bloom, lựa chọn phương thức, tổ chức thực hành đến phản hồi và điều chỉnh).
- Xây dựng hệ thống bài tập phân bậc minh họa chi tiết theo thang Bloom cho môn Toán lớp 5 (7 chủ đề) và môn Khoa học lớp 4 (6 chủ đề), đã được kiểm định thực nghiệm sư phạm chứng minh tính khả thi và hiệu quả nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
-
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Đối với cơ quan quản lý giáo dục cấp nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo): Xây dựng và ban hành các tài liệu hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật thiết kế bài tập phân bậc trong dạy học phân hóa; đổi mới nội dung các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học theo hướng rèn luyện kỹ năng thực hành thiết kế bài tập phân tầng nhận thức đáp ứng Chương trình GDPT 2018.
- Đối với cơ quan quản lý giáo dục cấp Quận/Huyện/địa phương và nhà trường: Tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường và chuyên đề về dạy học phân hóa; đầu tư cơ sở vật chất, giảm sĩ số học sinh/lớp để tạo không gian thuận lợi cho giáo viên triển khai các hình thức tổ chức dạy học phân hóa; khuyến khích giáo viên chủ động ứng dụng quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom vào các môn học khác nhau.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu, luận án chỉ tập trung xây dựng và thực nghiệm sư phạm hệ thống bài tập phân bậc trên 2 môn học cụ thể là môn Toán lớp 5 và môn Khoa học lớp 4; địa bàn khảo sát và thực nghiệm giới hạn tại 50 trường tiểu học thuộc 3 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Lào Cai, Ninh Bình).
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định gồm:
- Vận dụng và mở rộng quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom sang các môn học khác trong chương trình tiểu học (như Tiếng Việt, Lịch sử và Địa lý, Tin học, Đạo đức, Công nghệ) và các khối lớp khác (từ lớp 1 đến lớp 3).
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại các tỉnh, thành phố thuộc các vùng địa lý khác nhau trên cả nước nhằm tiếp tục kiểm chứng và hoàn thiện quy trình trong các điều kiện dạy học đặc thù.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu giáo dục học: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu về khung lý thuyết dạy học phân hóa, phương pháp tiếp cận thang Bloom trong thiết kế công cụ dạy học và phương pháp luận nghiên cứu kết hợp khảo sát thực tiễn diện rộng với phân tích thống kê định lượng trên SPSS 22 và R.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Cung cấp tư liệu giảng dạy cho các học phần Lí luận dạy học tiểu học, Phương pháp dạy học môn Toán, Phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội/Khoa học, cũng như chuyên đề Kiểm tra đánh giá trong giáo dục tiểu học.
- Giáo viên tiểu học: Quy trình 7 bước tại Chương 3 và hệ thống bài tập minh họa chi tiết tại các Phụ lục (Toán 5 và Khoa học 4) là tài liệu hướng dẫn thực hành trực tiếp giúp giáo viên thiết kế kế hoạch bài dạy và phiếu học tập phân hóa hàng ngày.
- Cán bộ quản lý giáo dục cấp trường và cấp phòng/sở: Cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn để chỉ đạo chuyên môn, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy trình thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom gồm những bước cụ thể nào? Luận án đề xuất quy trình gồm 7 bước: Bước 1: Xác định mục tiêu học tập; Bước 2: Phân tích nhu cầu học tập của học sinh; Bước 3: Lựa chọn nội dung học tập; Bước 4: Mã hóa nội dung học tập theo thang Bloom; Bước 5: Lựa chọn phương thức sử dụng bài tập; Bước 6: Tổ chức hoạt động thực hành cho học sinh; Bước 7: Phản hồi và điều chỉnh.
2. Bốn nguyên tắc sư phạm bắt buộc khi thiết kế bài tập phân bậc trong luận án là gì? Bốn nguyên tắc được xác lập tại Chương 3 bao gồm: (1) Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu dạy học; (2) Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống; (3) Nguyên tắc đảm bảo tính phân hóa và vừa sức đối với học sinh; (4) Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của học sinh.
3. Khảo sát thực trạng của luận án được thực hiện trên quy mô mẫu và địa bàn nào? Khảo sát thực trạng được thực hiện trong năm học 2018–2019 trên quy mô 2.130 giáo viên (cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học) và 3.039 học sinh tại 50 trường tiểu học thuộc 3 địa phương: 28 trường tại Hà Nội (Ba Đình, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm, Đông Anh, Phú Xuyên), 12 trường tại Lào Cai và 10 trường tại Ninh Bình.
4. Thang đo Bloom được tác giả liên hệ và đối chiếu với các văn bản đánh giá học sinh tiểu học nào của Bộ Giáo dục và Đào tạo? Tác giả đối chiếu thang nhận thức 6 cấp độ của Bloom với Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT (đề kiểm tra thiết kế theo 4 mức: Nhận biết, Hiểu, Vận dụng mức độ quen thuộc, Vận dụng mức độ mới linh hoạt) và Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT (đề kiểm tra thiết kế theo 3 mức: Nhận biết/nhắc lại, Kết nối/sắp xếp, Vận dụng giải quyết vấn đề mới) nhằm đảm bảo tính pháp lý và tính ứng dụng của bài tập phân bậc trong nhà trường tiểu học hiện nay.
5. Kết quả thực nghiệm sư phạm được kiểm định bằng những kỹ thuật thống kê toán học nào? Dữ liệu thực nghiệm được phân tích bằng phần mềm SPSS 22 và ngôn ngữ R, thông qua các phương pháp: thống kê mô tả (Mean, Mode, Median, Skewness, biểu đồ tần suất Histogram) và thống kê suy luận (kiểm định Independent Samples T-test cho nhóm thực nghiệm và đối chứng, Paired-Samples T-test cho trước và sau tác động, kiểm định giá trị p, tính toán hệ số mức độ ảnh hưởng Effect Size d và kiểm luận mức độ tương quan Hopkins).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thiết kế bài tập phân bậc theo thang Bloom trong dạy học phân hóa ở tiểu học" của tác giả Vũ Thu Hằng đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học phân hóa vi mô, khảo sát toàn diện thực trạng tại 50 trường tiểu học và đề xuất thành công quy trình 7 bước thiết kế bài tập phân bậc theo 6 cấp độ nhận thức của thang Bloom. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên môn Toán lớp 5 và môn Khoa học lớp 4 đã khẳng định tính khả thi, tính khoa học của giả thuyết và giá trị thực tiễn của quy trình trong việc nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.