CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC TƯƠNG TÁC Ở TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về dạy học tương tác và dạy học tương tác ở tiểu học DHTT đã được đề cập và nghiên cứu từ rất lâu. Về cơ bản, những nghiên cứu về DHTT chủ yếu được thực hiện theo 2 hướng: (1) Nghiên cứu các vấn đề lí luận của DHTT; (2) Nghiên cứu vận dụng DHTT cho các đối tượng cụ thể.
Các vấn đề lí luận cơ bản của DHTT đã được đề cập ít nhiều trong các nghiên cứu của các tác giả Bruce Joyce & Marsha Weil (1986) [64], Moore M. Trong đó, nghiên cứu của Jean Marc Denomme & Madeleine Roy được xem là tiêu biểu với một hệ thống lí luận phong phú về DHTT. Hai tác giả đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa ba nhân tố người học, người dạy và môi trường bằng việc mô tả vai trò riêng của từng nhân tố và sự tương tác lẫn nhau giữa chúng. Trong nghiên cứu này, Jean Marc Denomme & Madeleine Roy đã khẳng định ảnh hưởng của nhân tố môi trường đồng thời tiến hành phân tích cơ sở thần kinh nhận thức (bộ máy học) và các điều kiện khác (vốn sống, xúc cảm, phong cách học, .) ở người học để làm cơ sở cho các tác động sư phạm có hiệu quả.
Điểm chung cơ bản của các nghiên cứu kể trên là: - Nhấn mạnh tính tích cực và tự lực của người học trong mối tương tác đa dạng với các thành phần khác trong môi trường dạy học cụ thể. - Xem bộ ba nhân tố người học, người dạy và môi trường là các tác nhân chính tham gia vào quá trình DHTT. Ngày nay, khi mà CNTT và truyền thông phát triển mạnh thì các nghiên cứu lí luận về DHTT với sự hỗ trợ của CNTT cũng được thực hiện với nhiều mức độ và tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, nghiên cứu “Phương pháp và công nghệ dạy học trong môi trường sư phạm tương tác” (2011) [19] đã chỉ ra các PPDH tích cực áp dụng trong môi trường sư phạm tương tác và những cách thức ứng dụng CNTT trong tổ chức DHTT; hay nghiên cứu “Interactive teaching with interactive technology” (2015) [78] mô tả các chức chức năng của CNTT trong DHTT và chỉ ra cách tích hợp CNTT để DHTT 8 trong lớp học.
Cùng hướng tiếp cận này có các nghiên cứu “Interactive instruction: Creating interactive learning environments through tomorrow’s teachers” (2008) [94], “Interactive learning in the ICT based classroom environment” (2015) [101]. Các nghiên cứu đều khẳng định môi trường đa phương tiện là một xu hướng tất yếu của DHTT. Các nghiên cứu lí luận về DHTT đã tạo tiền đề cho hàng loạt các nghiên cứu vận dụng trên các đối tượng khác nhau. Hướng nghiên cứu này có các tác giả tiêu biểu như Smith F.
Tuy các công trình có quan niệm DHTT được nghiên cứu, vận dụng ở nhiều bình diện với đối tượng người học khác nhau, nhưng đều khẳng định giá trị và hiệu quả của DHTT. Xem xét riêng ở bậc tiểu học, các nghiên cứu vận dụng DHTT cho bậc học này cũng đã được một số tác giả quan tâm. - Tác giả Dragos Viorel (2011) trong luận án “Interactive teaching and learning in primary school (Applications in the curricular area of Mathematics and Sciences)” [71] đã nghiên cứu về chiến lược tổ chức DHTT ở tiểu học trên cơ sở sử dụng các PPDH tích cực hướng đến giúp HS học khám phá và giải quyết các tình huống có vấn đề. Theo tác giả, trong DHTT, HS cần được hoạt động tự lực, tích cực để phát huy tiềm năng và khả năng học tập của mình, GV có vai trò tổ chức các tình huống học tập, thúc đẩy sự tương tác giữa HS với nội dung học tập.
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng nhấn mạnh đến sự hỗ trợ của các dạng thông tin, các hành động có tính hướng dẫn và các phương tiện dạy học trong việc tối ưu hóa các hoạt động tương tác. - Nghiên cứu “Interactive teaching in the primary school: Digging deeper into meanings” của Janet Moyles et al. (2003) [84] dựa trên các can thiệp thực tế lớp học và quan sát các hoạt động tương tác của HS, GV để chỉ ra các đặc điểm có tính chất bề mặt và bề sâu của DHTT ở tiểu học. Qua đó, Janet Moyles et al.
đã phân tích các lợi ích của DHTT trong tổ chức dạy học ở tiểu học và cách thức để HS và GV tương tác có hiệu quả trong giờ học. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ thực hiện giới hạn trong giờ học đọc của HS lớp 1 và lớp 2. - Nghiên cứu trên đối tượng HSTH ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hằng (2010) với luận án “Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác ở trường tiểu học” [14] đã khẳng định khả năng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học ở tiểu học, đồng thời đề xuất được 3 nhóm biện pháp với 11 biện pháp cụ thể để tổ chức 9 DHTT cho HSTH và tiến hành minh họa trên 2 phân môn (Địa lí lớp 4 và Tập làm văn lớp 5). Tuy nhiên, theo chúng tôi: + Do tác giả đứng trên quan điểm đề cao nhân tố môi trường đối với QTDH [14, 58] nên các biện pháp đề xuất tập trung chủ yếu vào việc cải thiện vai trò của môi trường đối với người học.
Các biện pháp tác động vào nhân tố người học, người dạy không được tác giả quan tâm đúng mức. + Với 11 biện pháp cụ thể của nghiên cứu này, nếu áp dụng các hỗ trợ của CNTT thì sẽ giúp tối ưu quá trình thực hiện đồng thời tạo ra hiệu quả dạy học rõ rệt hơn. Song, vấn đề này hoàn toàn không thấy tác giả đề cập đến. + So với các bậc học khác, HSTH có đặc điểm tâm lí và nhận thức khác biệt, do đó tổ chức DHTT cho đối tượng này cần chú ý đến các đặc điểm và nguyên tắc tương ứng, phù hợp.
Việc chỉ ra các đặc trưng cũng như các nguyên tắc tổ chức DHTT riêng có là cần thiết khi thực hiện các tác động sư phạm trên đối tượng HSTH. Song, vấn đề này cũng chưa được tác giả làm rõ trong nghiên cứu của mình. Nghiên cứu xây dựng các loại HLĐT sử dụng trong dạy học ở tiểu học Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy học ở các bậc học đã và đang được tiến hành một cách nhanh chóng và có hệ thống. Ở bậc tiểu học, các nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học và đổi mới PPDH được rất nhiều tác giả quan tâm, có thể nhắc đến một số nghiên cứu của Chris Campbell (2006) [67], Đào Thái Lai (2007) [31], Ivan Webb (2007) [76], Lê Thị Hồng Chi (2014) [4], Slameto (2014) [96].
Trong đó, nghiên cứu xây dựng các loại HLĐT ứng dụng trong dạy học các môn học là một trong những hướng nghiên cứu có tần suất tăng dần cùng với sự phát triển của công nghệ. Trên thế giới, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, Knowledge Adventure (Anh) đã nghiên cứu bộ tài nguyên giáo dục cho trẻ tiểu học và mầm non JumpStart. Các phiên bản dành cho đối tượng tiểu học đầu tiên được xuất bản năm 1995, các phiên bản mới nhất cho đối tượng tiểu học tính đến năm 2014 bao gồm: JumpStart 1st Grade, JumpStart 2nd Grade (2007); JumpStart 3rd Grade, JumpStart 4th Grade (2000); JumpStart 5th Grade (2001). Các phiên bản này bao gồm các bài học, bài tập, video, trò chơi giáo dục, các ứng dụng iPad và các phương tiện khác với tính tương tác cao.
MathFacts in a Flash của Wisconsin Rapids (2006) [111] là phần mềm hỗ trợ tính toán được thiết kế trên nền tảng Flash. Phần mềm cung cấp các công cụ hỗ trợ cộng, trừ, nhân, chia, và một số phép tính toán toán học khác. Nó cho phép HS làm việc theo tốc độ của riêng của mình và cung cấp thông tin phản hồi ngay lập tức sau mỗi hoạt động của HS. 10 Một bộ phần mềm hữu ích khác là GCompris.
Đây là một bộ phần mềm giáo dục toàn diện và nền tảng cho trẻ tiểu học, là một phần của dự án GNU. Nó bao gồm các hoạt động vui chơi giúp trẻ phát triển các kỹ năng như nhận ra chữ cái và con số, cách sử dụng chuột và bàn phím, học đại số tiểu học, đọc trên một đồng hồ analog, vẽ vector, học ngôn ngữ thông qua các trò chơi và một số kỹ năng khác. Tính đến năm 2014, GCompris bao gồm hơn 140 trò chơi, được gọi là "hoạt động" và được đóng gói thành các nhóm: Khám phá máy tính; Toán; Khoa học; Địa lý; Trò chơi; Đọc; Khác (học cách xem giờ, câu đố về bức tranh nổi tiếng, vẽ vector, làm phim hoạt hình,. Chương trình Science Bug (Anh) cung cấp các tài liệu giảng dạy tương tác có chứa video, hình ảnh động và các hoạt động vui chơi gắn với những khái niệm khoa học cơ bản.
Chương trình được xây dựng nhằm hướng dẫn và hỗ trợ các hoạt động tìm hiểu khoa học của trẻ. Ngoài ra thông qua website, một số công ty nước ngoài đã và đang giới thiệu các PMDH dành cho HS lứa tuổi tiểu học với nhiều kiến thức bổ ích và lí thú về nhiều lĩnh vực. Một số website tiêu biểu có thể nhắc đến như là: http://www.org (cung cấp các PMDH với 7 mảng kiến thức là Toán, Sức khỏe, Tin học, Kỹ năng sống, Tiếng Anh, Văn học, Khoa học), http://www.com (cung cấp các PMDH được xây dựng trên nền tảng web), http://www. Một số học liệu kể trên được thiết kế với nhiều ưu điểm về nội dung và hình thức thể hiện, song đa phần vẫn mang tính đặc thù của từng quốc gia, và việc vận dụng chúng cho đối tượng HSTH của Việt Nam còn nhiều khó khăn và hạn chế.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong hỗ trợ dạy học các môn học ở tiểu học được tiến hành rộng rãi. Trong đó, việc thiết kế, xây dựng các HLĐT, phương tiện hỗ trợ dạy học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Với nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học hỗ trợ luyện tập môn Toán ở trường tiểu học”, tác giả Nguyễn Sỹ Đức (2002) [9] đã làm sáng tỏ những căn cứ luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng PMDH hỗ trợ môn toán ở trường tiểu học. Tác giả đã làm sáng rõ ý nghĩa đổi mới PPDH của việc sử dụng PMDH trên các phương diện: Tổ chức học tập trong hoạt động và bằng hoạt động; tăng cường yếu tố tự học của HS; sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học; đổi mới kiểm tra đánh giá.