CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở ngôn ngữ học Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt. Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”. Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ…của ngôn ngữ đó.
Còn năng lực giao tiếp đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp. Giao tiếp với tư cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củng cố mối quan hệ và được sử dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người. Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng được sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình huống ấy.
Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp. Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói nhất định hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn… 1. Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.Vư-gootsxki và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt.Từ đó suy ra đơn vị dạy- học ngôn ngữ phải là hành động lời nói. Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì?, Dạy để làm gì? và Dạy như thế nào?.
Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các mặt chức năng và hình thức của nó là đều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn 15 ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng. Nếu mục đích của việc dạy- học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lý học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
Tâm lý ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người. Quan hệ của phương pháp học Tiếng Việt và Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lý người nói chung và tâm lý học sinh trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em. Cơ sở giáo dục học Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này.
Mục đích của phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới. Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở. phương pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do Giáo dục học đề ra- phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động.
Trong phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… 1. Lý thuyết về giao tiếp và hoạt động giao tiếp 1. Giao tiếp và các hình thức của giao tiếp Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là hoạt động giữa 16 hai người hay hơn một người nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ hoặc thông tin cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự vật, hiện tượng nào đó.
“Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, qua những phương tiện khác nhau, như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, điệu bộ,…” (Sách GV TV 5, tập 1, trang 6). Nhưng giao tiếp ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người. Về nguyên tắc, giao tiếp ngôn ngữ mang tính chất xã hội, trong đó người tham gia giao tiếp phải có mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp. Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, tên cấu trúc xã hội và trên quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm người trong xã hội.
Giao tiếp ngôn ngữ có thể thực hiện bằng lời (giao tiếp miệng) hoặc bằng văn tự (giao tiếp viết).Trong hai dạng trên thì giao tiếp miệng là cơ sở. Chức năng của giao tiếp a) Chức năng thông tin: Thông tin là chức năng thường gặp nhất của giao tiếp, có thể được thực hiện qua nhiều phương tiện. Trong chức năng này, giao tiếp giúp những người tham gia hoạt động trao đổi cho nhau những tin tức dưới dạng nhận thức, những tư tưởng có được từ hiện thực. Các cuốn giáo trình, bài giảng của giáo viên, bài thi của học sinh, hệ thống biển báo,…là những ví dụ về chức năng thông tin của giao tiếp.
b) Chức năng tạo lập quan hệ: Nhiều khi trò chuyện với nhau không phải vì muốn thông báo với người khác một nội dung trí tuệ, một hiểu biết, một nhận thức, mà vì muốn thiết lập một mối quan hệ mới hoặc duy trì một mối quan hệ đã được thiết lập từ trước. Thậm chí, vì ta muốn phá vỡ một mối quan hệ đã có nhưng nay không muốn duy trì nữa. Chức năng tạo lập quan hệ bao hàm cả tác dụng phá vỡ quan hệ. Còn trò chuyện được có nghĩa là có thể tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu giữa những người tham gia giao tiếp.
Nhưng cũng có khi giao tiếp lại góp phần phá vỡ mối quan hệ vốn có giữa họ. Sự phá vỡ này có thể do những người trong cuộc cố tình tạo ra, nhưng cũng có bao gồm mối quan hệ bị phá vỡ một cách vô tình do ta “chậm miệng” hay lỡ lời, người ta vẫn hay nói: sảy chân còn đỡ được chứ sảy miệng thì làm sao mà đỡ nổi! 17 Tạo lập quan hệ là chức năng giao tiếp cộng tác giữa người với người. Có thể nhiều người không biết đến, nhưng ngôn ngữ vẫn luôn đảm nhận chức năng này một cách lặng lẽ, rất cần cho sự tồn tại của xã hội. c) Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình.
Một cách có ý thức hoặc không có ý thức, qua lời nói, ta có thể để lộ tình cảm, sở thích, khuynh hướng, trạng thái tâm hồn, nguồn gốc địa phương, trạng thái sức khỏe.của bản thân. d) Chức năng giải trí: Nghỉ ngơi, giải trí là một nhu cầu của con người, giao tiếp cũng nằm trong những mục giải trí dó nhưng dễ thực hiện và đỡ “tốn kém” hơn cả, không yêu cầu cao về hoạt động tổ chức, không cần nhiều thời gian.Nhiều lúc,sau buổi làm việc căng thẳng, ta nói chuyện phiếm với bạn bè, nhưng câu chuyện lúc tán gẫu, những bài thơ vui hay những câu chuyện cười mà ta sưu tầm được,.đều làm cho tinh thần ta thư giãn, thoải mái. e) Chức năng hành động: Hành động là chức năng thông qua giao tiếp mà người ta thúc đẩy nhau hành động. Không phải người nghe mới hành động mà người nói cũng phải hành động dưới sự thúc đẩy của lời nói trong giao tiếp.
Sự thúc đẩy này không phải khi nào cũng được thực hiện một cách chủ động từ nhân vật giao tiếp, mà có thể xuất hiện một cách tự nhiên trong tình huống giao tiếp cụ thể. Mặt khác, chức năng hành động của giao tiếp còn thể hiện ở chỗ, qua cuộc giao tiếp, các nhân vật có thể thay đổi về nhận thức, tình cảm, những thay đổi này, ở những mức độ khác nhau, sẽ tác động đến hành động của họ. Các nhân tố giao tiếp Nhân tố giao tiếp là những yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp đó. Hiện thực được nói tới, ngôn ngữ được sử dụng, nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là những nhân tố giao tiếp thông thường.
f) Hiện thực được nói tới Hiện thực được nói tới bao gồm những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, những tâm trạng, cảm xúc,…được đưa vào ngôn bản. Đó là những hiện thực được đề cập tới 18 trong ngôn bản hoặc những điều người nói, người viết muốn gởi gắm tới người nghe, người đọc. Khi thực hiện một cuộc giao tiếp để xác định hiện thực được nói tới.