Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Mô hình lớp học đảo ngược 1. Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược LHĐN nói về sự đảo chiều của phương pháp giảng dạy truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng, sau đó thời gian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận. Bản chất giờ học trên lớp học đảo ngược tập trung giải quyết các nội dung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và dành nhiều thời gian hơn cho việc thảo luận, đào sâu kiến thức.
Phương pháp này được chính thức áp dụng từ năm 2006, khi GS. Bill Brantley đưa ra hình thức học tập đảo ngược ở hội thảo DH chính trị, khoa học của Mỹ. Trước đó, từ năm 2004, khái niệm về lớp học đảo ngược cũng đã được Tenneson và McGlass đưa ra trong DH thực tiễn. Ở môi trường học tập này GV hướng dẫn HS áp dụng các khái niệm vào thực tế và tham gia các hoạt động sáng tạo trong các chủ đề.
Đồng thời tổ chức này còn đưa ra 4 trụ cột của học tập đảo ngược được thể hiện theo các chữ cái đầu tiên trong thuật ngữ F-L-I-P. Yếu tố thứ nhất là môi trường linh hoạt (Flixible environment). Học tập đảo ngược cho phép kết hợp nhiều cách thức học tập. GV thường sắp xếp lại không gian học tập trong lớp học để có thể hỗ trợ cho HS làm việc theo nhóm hoặc cá nhân.
Người học có thể chọn không gian để trao đổi, thảo luận và học tập. Việc đánh giá và tự đánh giá giúp cho người học và người dạy hiểu được các vấn đề để kịp thời điều chỉnh, khắc phục. 11 Yếu tố thứ hai là văn hóa học tập (Learning culture). Trong mô hình học tập truyền thống GV là trung tâm, là người cung cấp nguồn thông tin chính.
Trong mô hình học tập đảo ngược chuyển sang một cách tiếp cận ngược lại là lấy người học làm trung tâm, thời gian học tập trên lớp không còn là việc giảng giải thuần túy mà là nơi để người học được khám phá sâu hơn về chủ đề học. Qua đó, người học sẽ tích cực tham gia xây dựng kiến thức và đánh giá việc học của mình một cách ý nghĩa. Yếu tố thứ ba là nội dung có chủ ý. Người dạy thường xác định những gì họ cần để đưa HS tiếp cận bài học, để giúp HS tự mình khám phá.
Việc thiết kế nội dung bài học theo hướng cá nhân hóa hoặc một nhóm sẽ giúp việc học của HS được tốt hơn. Yếu tố thứ tư là chuyên gia giáo dục. Trong mô hình học tập đảo ngược, người thầy không phải là người truyền thụ kiến thức, mà đòi hỏi người thầy là những chuyên gia về tri thức và tâm lý học. Trong thời gian trên lớp, họ liên tục quan sát HS của mình, cung cấp cho họ thông tin phải hồi có liên quan và đánh giá người học [6].
Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược. Theo mô hình LHĐN, HS sẽ được xem trước các bài giảng ở nhà, giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu. HS sẽ chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết hơn, các em có thể tiếp cận video bất kỳ lúc nào, có thể dừng bài giảng lại, ghi chú và xem lại nếu cần (điều này là không thể nếu nghe giáo viên giảng dạy trên lớp). Công nghệ E- Learning giúp HS hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp.
Điều này giúp việc học tập hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn. Với LHĐN, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy (thông qua những bài giảng E-Learning đã được GV chuẩn bị trước cùng thông tin do HS tự tìm kiếm), nhiệm vụ của HS là tự học kiến thức mới này và làm 12 bài tập mức thấp ở nhà. Khi ở lớp các em được GV tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau. Các bài tập bậc cao cũng được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của GV và các bạn cùng nhóm.
Cách học này đòi hỏi HS phải dùng nhiều đến hoạt động trí não nên được gọi là “High thinking". Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò. Các mô hình của lớp học đảo ngược LHĐN chuẩn mực/thông thường: Người học được giao “bài tập về nhà” xem video các giờ giảng và đọc các tài liệu liên quan đến buổi học ngày hôm sau. Trong giờ học, người học thực hiện điều các em đã học được thông qua bài tập ở trường theo truyền thống, với GV được giải phóng, dành thời gian cho việc hỗ trợ thêm mang tính cá nhân.
LHĐN chú trọng vào thảo luận/Discussion-Oriented Flipped Classroom: GV giao các video bài giảng, cũng như các video hay tài liệu tham khảo khác liên quan đến giờ học hôm đó - hãy nghĩ đến những chương trình như TED Talks, YouTube videos và các nguồn khác. Khi đó, thời gian trên lớp học được dành cho thảo luận và khám phá về chủ đề/môn học. Đây là cách tiếp cận đặc biệt hiệu quả đối với những môn học mà bối cảnh có thể là bất cứ thứ gì - hãy nghĩ đến lịch sử, nghệ thuật hay tiếng Anh. LHĐN chú trọng vào việc thể hiện/trình diễn/Demonstration-Focused Flipped Classroom: Đây là dạng lớp học đặc biệt phù hợp đối với những môn học đòi hỏi người học phải ghi nhớ và lặp lại các hoạt động một cách chính xác - hãy nghĩ đến Hóa học, Vật lý, và mọi giờ Toán - sẽ rất hữu ích nếu có một video để có thể tua và xem lại.
Trong mô hình này, GV sử dụng phần mềm ghi lại màn hình (screen recording software) để trình diễn hoạt động theo cách cho phép HS/SV học theo tốc độ của chính các em. LHĐN Faux/The Faux-Flipped Classroom: Một ý tưởng tuyệt vời mà EducationDrive khám phá ra rất phù hợp với lứa tuổi nhỏ, độ tuổi mà bài tập về nhà theo đúng nghĩa là không thích hợp. Mô hình LHĐN theo cách này 13 thay bằng việc yêu cầu người học xem video ở lớp thì cho các em cơ hội đọc/xem tài liệu theo tốc độ của riêng mình, GV đi từ em này sang em khác và hỗ trợ mỗi HS nhỏ tuổi theo cách các em cần. LHĐN dựa vào nhóm/The Group-Based Flipped Classroom: Mô hình này bổ sung yếu tố mới để giúp SV/HS học được từ nhau/hỗ trợ nhau học.
Lớp học bắt đầu như mọi lớp học khác, với video bài giảng và những nguồn học liệu khác được chia sẻ từ trước đó. Sự thay đổi xảy ra khi SV/HS đến lớp, ghép thành nhóm để giải quyết bài tập ngày hôm đó. Hình thức này cho phép SV/HS học từ nhau và giúp nhau không chỉ tìm ra câu trả lời đúng mà còn học được cách giải thích cho bạn tại sao câu trả lời lại đúng. LHĐN ảo: Đối với những SV/HS lâu năm hơn và trong một vài khóa học, LHĐN có thể loại bỏ hoàn toàn nhu cầu về thời gian cho lớp học.
Một số giảng viên ở trường đại học và cao đẳng hiện nay chia sẻ bài giảng cho SV xem, giao bài tập và nhận bài thông qua các hệ thống quản lý trực tuyến và chỉ cần người học gặp trực tiếp một thầy một trò dựa trên nhu cầu của từng cá nhân. “Đảo ngược” giáo viên: Tất cả video được tạo ra cho LHĐN không nhất thiết phải bắt đầu và kết thúc với GV. HS cũng có thể sử dụng video để thể hiện tốt hơn trình độ và khả năng của mình. GV có thể giao nhiệm vụ cho mỗi SV/HS các hoạt động đóng vai/TH để thể hiện năng lực hoặc yêu cầu mỗi SV/HS quay phim bản thân trình bày một chủ đề hoặc kỹ năng mới như một cách để "dạy GV".
Điều quan trọng là người GV phải phân tích để áp dụng được mô hình LHĐN một cách hợp lý, khoa học đối với môn học của mình. Lợi ích của mô hình lớp học đảo ngược - Việc đảo ngược tạo điều kiện cho HS bận rộn; Việc đảo ngược giúp cho HS sở hữu tất cả các khả năng vượt trội; Việc đảo ngược giúp tăng cường sự tương tác giữa HS và GV; Việc đảo ngược cho phép GV hiểu rõ về HS của mình hơn; Việc đảo ngược tạo nên sự khác biệt thực sự; Việc đảo ngược làm thay đổi 14 cách quản lý lớp học; Việc đảo ngược thay đổi cách giáo viên trao đổi với phụ huynh; Việc đảo ngược giáo dục trong mối quan hệ phối hợp với phụ huynh; Việc đảo ngược khiến cho lớp học của bạn trở nên minh bạch. - Lớp học đảo ngược là sự thay đổi giáo dục “truyền thống”. Với lớp học đảo ngược, HS được tiếp cận trực tiếp với kiến thức và GV đóng vai trò như là một người hướng dẫn và cố vấn.
Với mô hình này, HS phải chuẩn bị những câu hỏi để trao đổi với GV của mình. Trong thời gian thảo luận, GV có thể xoáy sâu vào việc ứng dụng và xử lý cặn kẽ hơn các tài liệu học tập. Ở góc độ nào đó những yếu tố khác biệt với lớp học truyền thống nhưng trong cái nhìn đảo ngược lại là thế mạnh của LHĐN. - Mô hình này cũng giúp tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập bởi người học có cơ hội học tập theo nhịp độ của riêng mình và trở nên có trách nhiệm với việc xây dựng kiến thức thay vì chờ sự truyền đạt tri thức của thầy cô (tiếp nhận tri thức bị động).
Phương thức DH này giúp người học phát triển nhận thức qua từng cấp bậc: ghi nhớ, hiểu, vận dụng (giai đoạn tiếp cận với tài liệu), và sau đó là phân tích, đánh giá, sáng tạo (giai đoạn xử lý thông tin, xây dựng kiến thức thông qua các hoạt động học tập do GV tổ chức trên lớp). - Mô hình LHĐN có thể xem là mô hình DH kết hợp, là mô hình sử dụng CNTT để hỗ trợ giảng dạy nhằm thúc đẩy quá trình học tập “ở bên ngoài lớp học”. Hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược - Không phải bài học nào cũng có thể sử dụng hình thức học tập đảo ngược. - Phương pháp này gắn bó chặt chẽ với phương pháp E-learning nên GV phải giỏi về công nghệ, vững về phương pháp, bởi vậy khó áp dụng rộng rãi.