mở đầu) biến nội quy an toàn phòng thí nghiệm và một số lưu ý riêng với hệ thống thí nghiệm thực hành trong buổi học. GV nêu mục tiêu thực hành thí nghiệm hoặc GV 2 Xác định mục tiêu thực hướng dẫn HS xác định mục tiêu của bài thực hành thí nghiệm hành. GV cũng cần hướng dẫn cho HS đặc được các câu hỏi nghiên cứu, hình thành giả thuyết khoa học. GV cần thống nhất với HS về trình tự các bước thực hiện thí nghiệm.
GV có thể giải thích hoặc đặt các câu hỏi yêu cầu HS trình bày về cơ sở 3 Thống nhất tiến trình và khoa học các bước thực hiện. thao tác thực hành thí nghiệm Đối với những thí nghiệm có nhiều thao tác khó, GV có thể làm mẫu các bước (nếu cần thiết) hoặc sử dụng phim hướng dẫn cho HS. 4 HS tiến hành thí nghiệm - HS tiến hành các bước đã được thống nhất. - HS quan sát hiện tượng, các thông số đo lường (nhiệt độ, thể tích, pH…) và ghi chép kết quả.
- HS xử lý được kết quả thu được. Có thể sử dụng thống kê toán học, qua đó, xác định các kiến thức cơ sở để giải thích, rút ra các kết luận khoa học. -HS tự đối chiếu với giả thuyết đưa ra hoặc theo sự hướng dẫn của GV, từ đó rút ra kết luận chính 5 Xử lý số liệu, rút ra kết xác và viết báo cáo thu hoạch. luận khoa học/ Viết báo Trong giai đoạn này, GV có thể dặt những câu hỏi cáo thực hành để khai thác mức độ hiểu biết, kĩ năng thực hành, thí nghiệm của HS.
Các nhóm/ cá nhân tự đánh giá/ đánh giá lẫn 6 Đánh giá, tự đánh giá nhau. GV đánh giá chung Quy trình tổ chức hoạt động dạy học ở phòng thí nghiệm được tóm tắt trong bảng dưới đây: 6 skkn 1. Vai trò của dạy học thực hành – thí nghiệm với sự phát triển tư duy kinh tế cho học sinh phổ thông Sử dụng các bài tập lí thuyết bằng các bài tập thực hành, không những rèn luyện thêm cho học kỹ năng thực hành thí nghiệm mà còn bước đầu hình thành và phát triển tư duy kinh tế cho học sinh, giúp học sinh làm quen với việc lập kế hoạch, tiến hành các nhiệm vụ thực tế và linh hoạt xử lí các tình huống phát sinh. Qua những dạng bài tập này, học sinh phát triển được các tư duy: * Tư duy quản trị (phân công công việc, sắp xếp công việc…).
* Tư duy chiến lược (Dự kiến các phương án thực hiện, dự kiến kinh phí, nhân lực, các phương tiện cần thiết…), lựa chọn được phương án tối ưu phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện sẵn có. * Tư duy thực hiện quản trị (Tiến hành thức hiện dự án và có phương án để giải quyết các vấn đề phát sinh …. Dạy học dự án trong hóa học [10],[11],[14],[15] 1. Khái niệm dạy học dự án a.
Khái niệm dự án Thuật ngữ “dự án” trong tiếng Anh là “project” có nguồn gốc từ tiếng La tinh, có nghĩa là dự thảo, phác thảo, thiết kế. Trong quản lý, dự án được định nghĩa là một chuỗi các hoạt động liên kết được tạo ra nhằm đạt được kết quả nhất định trong phạm vi ngân sách và thời gian xác định. Dự án có một số đặc điểm như sau: - Mỗi dự án phải có mục tiêu rõ ràng, lượng hóa mục tiêu ra thành các chỉ tiêu cụ thể. - Mỗi dự án là một quá trình tạo ra kết quả sản phẩm cụ thể.
Nếu chỉ có kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải do cả một tiến trình tạo nên thì đó không gọi là dự án. - Mỗi dự án đều có một chu kỳ hoạt động, chu kỳ này gồm nhiều giai đoạn khác nhau: khởi đầu dự án (khái niệm, định nghĩa dự án, ý tưởng thiết kế, thiết bị vật liệu cần thiết, thẩm định, lựa chọn); triển khai dự án (hoạch định, lập tiến độ, tổ chức công việc, giám sát, kiểm soát); kết thúc dự án (báo cáo, đánh giá, chuyển giao). Như vậy, dự án được hiểu là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và tài chính. Khái niệm dạy học dự án Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dạy học dự án.
Theo dự án Việt –Bỉ: dạy học dự án là một chuỗi các hoạt động dựa trên động cơ bên trong của học sinh nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (các chuỗi hoạt động thực tế: Thực hiện nghiên cứu; Khám phá các ý tưởng theo sở thích; Tìm hiểu và xây dựng kiến thức; Học liên môn; Giải quyết các vấn đề; Cộng tác với các thành viên trong nhóm; Giao tiếp; Phát triển các kỹ năng, thái độ và sự đam mê). Theo Intel (Mỹ): dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được. Như vậy, dạy học dự án được hiểu là một hình thức dạy học trong đó một số nội dung kiến thức khoa học được thiết kế dưới dạng các dự án, yêu cầu người học giải quyết một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành liên quan đến thực tiễn.
Nhiệm vụ này được một nhóm người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định ý tưởng, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, giám sát, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Đặc điểm của dạy học dự án DHDA có những đặc điểm sau: - Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học. - Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội.
Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. 8 skkn - Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra hứng thú của HS cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. - Tính phức hợp: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
- Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. - Tính tự lực cao của người học: trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.
GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. - Cộng tác làm việc: các dự án hoc tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án.
Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội. - Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
Như vậy DHDA đã tạo cơ hội để HS được tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Với những đặc điểm này, DHDA là PPDH độc đáo, đa dạng và mang lại hiệu quả cao. Quy trình dạy học theo dự án Dạy học dự án được thực hiện gồm 6 bước: Lựa chọn chủ đề, lập kế hoạch, thu thập thông tin, xử lí thông tin, báo cáo kết quả, đánh giá. Để thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, 6 bước trên được gói lại thành 3 bước chính: * Bước 1: Lập kế hoạch Đây là bước đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong DHDA, GV cần tổ chức cho HS cùng tham gia vào các hoạt động: - Lựa chọn chủ đề dự án: được khởi đầu bằng một ý tưởng, liên quan với nội dung học tập, gắn với thực tiễn.
GV và HS cùng đề xuất xác định đề tài, chú ý đến những chủ đề liên hệ với thực tiễn gây được hứng thú và sự quan tâm của HS. Ví dụ: các chủ đề có liên quan đến đời sống hàng ngày (trường học, gia đình, chăm sóc vật nuôi…), văn hóa xã hội, các vấn đề thời sự cập nhật (an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường…), điạ lí và sinh thái… - Xây dựng tiểu chủ đề: từ các chủ đề lớn, GV hướng dẫn HS phát triển tìm các chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề). Đây là các vấn đề nghiên cứu cụ thể. GV có thể sử dụng sơ đồ tư duy, sơ đồ câu hỏi 5W1H để hướng dẫn HS xác định lựa chọn ý tưởng cũng như những vấn đề cần giải quyết xung quanh dự án.
HS lựa chọn tiểu chủ đề theo sở thích và thành lập nhóm nghiên cứu theo chủ đề. 9 skkn - Lập kế hoạch: Từ các chủ đề, tiểu chủ đề đã chọn HS thảo luận nhóm để lập kế hoạch dự án. HS sử dụng sơ đồ tư duy để lập kế hoạch: + Xác định các vấn đề nghiên cứu liên quan đến chủ đề nhằm tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu (câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học).