CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC KHÁC BIỆT 1. Tổng quan những nghiên cứu về dạy học khác biệt Theo giáo trình “Phương pháp dạy học môn Toán” [9]: Dạy học khác biệt có chức năng làm cho quá trình và hệ thống dạy học thích ứng cao hơn với cá nhân người học, với những đặc điểm của nhóm đối tượng để đảm bảo chất lượng học tập, đồng thời đáp ứng hiệu quả mục tiêu giáo dục, nhu cầu và lợi ích xã hội. Về luận văn, ngoài các đề tài như đã trình bày ở mục 1.4 trang 2, có thể kể ra thêm một số luận văn khác, chẳng hạn luận văn của Ngần Văn Thanh (2017) về “Dạy học khác biệt cho học sinh phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sơn La về phương trình, bất phương trình” [16] Về bài báo khoa học, có bài: “Phát triển năng lực dạy học phân hóa - Nội dung quan trọng trong đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” của Lê Thị Thu Hương (2016) [6]; bài báo “Một số biện pháp dạy học phân hóa trong dạy học môn toán ở trường THCS” của Bùi Thị Hạnh Lâm và Lê Minh Sơn [11]; bài báo “Vai trò của dạy học phân hóa trong dạy học toán” của Phạm Văn Công [4]. Dạy học khác biệt 1.
Quan niệm về dạy học khác biệt Theo nghĩa từ điển: “Phân hóa (differentiate) là chia một khối thành nhiều phần có tính chất đối lập nhau: Phân hóa giai cấp; Phân hóa địch. Sự phân hóa (differentiation) là chia thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau.” [15] Theo nghĩa này, trong giáo dục nói chung, trong dạy học nói riêng, sự phân hóa trong đối tượng học sinh mang một nghĩa của sự phân loại, sự tách rời giữa các học sinh với nhau. Theo PPDH phân hóa ngoài, “dạy học theo nhóm đối tượng (phân hóa đối tượng HS) sẽ giúp cho tất cả HS đều tích cực học tập” (Nguyễn Bá Kim, 1994, [9]). Trong luận văn này, thuật ngữ tiếng Anh “Differentiated Instruction” được dịch là sự dạy dỗ khác biệt, hay dạy học khác biệt, không dịch là “Dạy học phân 5 hóa” để tránh sự mặc cảm về “sự phân loại học sinh”.
Thuật ngữ này được sử dụng ở nhiều quốc gia, đặc biệt ở Hoa Kỳ, trong công trình của một số tác giả như: Hall và các cộng sự (2003) [19], Tomlinson (1999) [20], Ogle D. Tại Việt Nam, hầu như tất cả các công trình nghiên cứu (sách, báo, luận án, luận văn.) đều sử dụng thuật ngữ “Dạy học khác biệt” khi nghiên cứu về PPDH này (xem trong mục tổng quan 1. Theo Tomlinson: “Dạy học khác biệt là một cách tiếp cận để giảng dạy kết hợp nhiều chiến lược. Giáo viên có thể phân biệt nội dung, quy trình, và sản phẩm đối với từng học sinh.
Sự khác biệt của nội dung đối với từng học sinh được giáo viên chỉ dẫn trong tài liệu học tập. Sự khác biệt còn thể hiện trong cách thức mà học sinh tiếp cận với tài liệu. Một học sinh có thể khám phá tri thức tại một tài liệu học tập, trong khi một học sinh khác có thể thu thập thông tin từ internet. Sự khác biệt của sản phẩm thể hiện ở cách thức mà học sinh có được và học được”.
[20] Theo Hall, Strangman và Meyer (2003) “Dạy học khác biệt là một kiểu dạy học trong đó giáo viên tăng cường học tập của học sinh bằng cách hướng dẫn và đánh giá phù hợp đặc điểm của mỗi học sinh. Phương pháp này cho phép tất cả học sinh được tiếp cận cùng một chương trình giảng dạy trong lớp học, nhưng bằng những cách tiếp cận, nhiệm vụ học tập khác nhau, kết quả học tập cũng khác nhau. đã nghiên cứu về một số PP thực hiện dạy học khác biệt. (1986) đã nghiên cứu về các hai tiêu chí cơ bản của DHKB, đó là dựa vào kết quả học tập của học sinh và dựa vào tính tích cực độc lập nhận thức của học sinh.
Có thể nói dạy học khác biệt là kiểu dạy học chú trọng đến tính cá thể của mỗi học sinh trong lớp, hướng vào năng lực cá nhân. [20], [22] Trong luận văn này, DHKB được hiểu là PPDH có chú ý đến sự khác biệt của người học (cá nhân) hoặc nhóm người học. Luận văn không đề cập đến những PP DHPH ngoài như tổ chức các lớp dành riêng cho HS khá và giỏi hay phụ đạo HS yếu kém. Ở tiểu học, DHKB thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản.
Kế hoạch DHKB phải chú ý tới mục tiêu giúp HS yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi được phát triển ở mức cao hơn. Quan niệm này xuất phát từ yêu cầu đối với học sinh vừa có sự giống nhau về những đặc điểm cơ bản của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau về trình độ nhận thức, khuynh hướng nghề nghiệp và tài năng của từng người.Học sinh trong cùng một lớp học vừa có sự giống nhau vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhau đối với quá trình dạy học. Sự giống nhau và khác nhau về yêu cầu xã hội và về trình độ phát triển nhân cách từng người đòi hỏi một quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp DHKB.
Đặc điểm, tư tưởng chủ đạo về dạy học khác biệt Đặc điểm của DHKB là dạy phù hợp với năng lực của người học. Người GV cần phải phát huy được khả năng, khơi gợi được niềm đam mê, hứng thú đối với những HS khá, giỏi. Đối với HS trung bình thì làm thế nào để tạo được động lực cho các em cố gắng vươn lên. Còn đối với HS yếu, kém thì người dạy phải giúp các em nắm được các kiến thức cơ bản nhất.
DHKB nhằm tạo cơ hội cho tất cả các đối tượng học sinh đều trở nên thích thú, say mê với mỗi nhiệm vụ được giao: HS khá, giỏi thì được nâng cao, mở rộng kiến thức; HS yếu kém thì được rèn luyện từ những bài tập vừa sức và dần dần làm chủ được những kiến thức cơ bản. Việc kết hợp giữa giáo dục diện “đại trà” với giáo dục diện “mũi nhọn”, giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học toán học ở trường phổ thông cần được tiến hành theo các tư tưởng chủ đạo sau: + Lấy trình độ chung trong lớp làm nền tảng 7 Trong việc dạy học toán cho HS, người dạy phải lấy trình độ và điều kiện phát triển chung của mọi đối tượng học sinh trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những mục tiêu cơ bản. GV phải biết lựa chọn nội dung, vận dụng các hình thức tổ chức và PPDH phù hợp với HS của lớp mình. + Sử dụng các biện pháp DHKB để đưa HS yếu kém lên trình độ chung.
Giáo viên cần có kế hoạch cụ thể cho mỗi bài dạy, áp dụng những biện pháp phù hợp để giúp các em HS yếu kém nắm được các kiến thức cơ bản, để có thể hoà nhập vào các hoạt động học tập chung trên lớp. + Cần có những nội dung bổ sung và biện pháp DHKB giúp học sinh khá, giỏi đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản. Trong cùng một giờ dạy giáo viên có thể bổ sung những kiến thức nâng cao cho diện HS khá, giỏi sau khi đã hoàn thành xong những yêu cầu cơ bản của giờ học. Ý nghĩa của dạy học khác biệt DHKB là phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập; biến niềm đam mê trong cuộc sống thành động lực trong học tập; DHKB là con đường ngắn nhất để đạt mục đích của dạy học đồng loạt.
Dạy học khác biệt có thể thực hiện ở 2 cấp độ: Phân hóa ở cấp vĩ mô (phân hóa ngoài), là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chức các loại hình trường, lớp khác nhau cho các đối tượng HS khác nhau, xây dựng các chương trình giáo dục khác nhau (trường chuyên, lớp chọn); phân hóa ở cấp vi mô (phân hóa trong, đặc biệt quan trọng), là tổ chức quá trình dạy học trong một tiết học, một lớp học có tính đến đặc điểm cá nhân HS, là việc sử dụng những biện pháp phân hóa thích hợp trong một lớp học, cùng một chương trình và sách giáo khoa. DHKB là một nguyên tắc sư phạm. Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính đến những khác biệt của học sinh và đặc điểm tâm - sinh lý, sở trường, nguyện vọng, hứng thú, điều kiện sống v. để đạt được hiệu quả đối với mỗi cá nhân.
Để tạo điều kiện phát huy năng lực cá nhân người học, cần tiến hành dạy học khác biệt trong nhà trường. Bản chất của việc phân hóa trong dạy học là tạo 8 ra những khác biệt nhất định trong nội dung và phương thức hoạt động (nghĩa chung bao gồm mục tiêu, phương pháp, phương tiện, môi trường, kết quả, thời gian) của Chương trình giáo dục (tổng thể hoặc ở từng cấp học, môn học) bằng cách thiết kế và thực hiện Chương trình giáo dục theo nhiều hướng khác nhau dựa vào năng lực, hứng thú hoặc nhu cầu học tập của người học và mục tiêu giáo dục của xã hội. DHKB cũng góp phần thực hiện yêu cầu đào tạo và phân công lao động xã hội theo nguyên tắc mỗi thành viên sẽ đóng góp có hiệu quả nhất đối với những việc đã chọn hoặc được giao trên cơ sở đã được chuẩn bị tốt theo định hướng từ nhà trường, đây thực chất là đáp ứng yêu cầu phân luồng lao động của xã hội mà nhà trường phải thực hiện. DHKB căn cứ vào quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm bộc lộ thiên hướng, sở trường và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kỹ năng nhất định.
DHKB ở cấp độ vi mô là tìm kiếm các phương pháp, kỹ thuật dạy học sao cho mỗi cá thể hoặc mỗi nhóm, với nhịp độ học tập khác nhau trong giờ học đều đạt được kết quả mong muốn. Cấp độ phân hóa này liên quan đến tổ chức dạy học trực tiếp đối tượng học sinh ở các môn học, bài học trong khuôn khổ lớp học. DHKB ở cấp độ vĩ mô thể hiện ở các hình thức tổ chức dạy học với những nội dung khác nhau cho từng lớp đối tượng khác nhau cũng nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát triển tốt nhất về năng lực và thiên hướng.