CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài 1. Quan niệm về hoạt động, hoạt động dạy học, hoạt động hình thành kiến thức mới * Hoạt động Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động: “Theo từ điển Tiếng Việt, hoạt động”là "tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [35, tr. “Nguyễn Quang Uẩn (2005) cho”rằng “Thông thường, người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người” [40].
“Về phương diện triết học, hoạt động được quan niệm là phương thức tồn tại của con người trong thế giới.”Hoạt“động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (đối tượng) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và con người”(dẫn theo [40]). “Về mặt tâm lí học, hoạt động là tính tích cực bên trong (trí lực) và bên ngoài (thể lực) của con người.”Hoạt“động được sinh ra từ nhu cầu và được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được.”Hoạt“động gắn liền với nhận thức và ý chí, dựa hẳn vào chúng và không thể xảy ra nếu thiếu chúng”(dẫn theo [40]). * Hoạt động dạy học “Theo Nguyễn Bá Kim (2005), “Quá trình dạy học gồm việc dạy (hoạt động và giao lưu của thầy) và việc học (hoạt động và giao lưu của trò) mà đối tượng chiếm lĩnh của việc học là nội dung môn học, còn bản thân môn học lại là đối tượng điểu khiển của việc dạy” [26, tr.8], theo ông “Hoạt động của HS là cốt lõi của PPDH. Học tập diễn ra trong hoạt động nhưng diễn ra như thế nào, theo cách nào là tùy thuộc cách tác động của các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục tiêu, phương tiện, kết quả của hoạt động học, và một yếu tố ảnh hưởng đặc biệt tới hoạt động học là thầy giáo” [26, tr.
Để tổ“chức dạy học hiệu quả, 13 các hoạt động của HS gồm có 4 thành tố:”động“cơ hoạt động, các hoạt động và hoạt động thành phần, tri thức trong hoạt động, phân bậc hoạt động [26].” Theo hướng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đồng nhất với quan điểm của tác giả Nguyễn Bá Kim. * Hoạt động HTKTM trong học tập “Nguyễn Bá Kim (2015) sử dụng thuật ngữ "làm việc với nội dung mới" để nói về hoạt động HTKTM, trong đó hoạt động này được hiểu”là “tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của HS để họ kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được các mục tiêu khác của bài học". Đồng thời, tác giả nhấn mạnh không gọi là "giảng bài mới" để tránh sự hiểu lầm cho rằng đây là khâu giáo viên giảng, còn HS chỉ thụ động nghe [26, tr. Vũ Quốc Chung (2019) lại sử dụng thuật ngữ "hoạt động khám phá" để chỉ hoạt động này, trong đó "GV tổ chức để tất cả HS đều được tham gia vào quá trình khám phá với những nhiệm vụ phù hợp và cuối cùng phải đưa ra được kết quả của khám phá là điều mong đợi của bài học" [10, tr.
Nhiệm vụ phù hợp có thể là "hệ thống câu hỏi, gợi ý, có thể kèm khích lệ hoặc các bài toán theo mức độ từ khó nhất giảm dần đến dễ và dễ nhất có thể phù hợp với trình độ học tập của các nhóm HS trong lớp". “Theo Công văn số 2345/BGDĐT-GDTH của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), hoạt động HTKTM bao gồm các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phân tích, hình thành kiến thức”mới. Các hoạt động học tập (.) tùy theo mục đích, tính chất của mỗi hoạt động, được tổ chức làm việc cá nhân, theo nhóm hoặc cả lớp; đảm bảo mỗi HS được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập hay trải nghiệm thực tế [6, tr. Như vậy, có thể hiểu hoạt động HTKTM là hoạt động thống nhất giữa giáo viên và HS nhằm thực hiện mục tiêu dạy - học, trong đó GV tổ chức, định hướng, chỉ đạo; HS chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động nhận thức nhằm khám phá, kiến tạo, chiếm lĩnh những kiến thức và kĩ năng mới.
GV đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động dạy học 14 mang tính định hướng, chỉ đạo, trong đó, cách thức tổ chức các hoạt động cần được thiết kế, đầu tư gia công sư phạm một cách linh hoạt, sáng tạo. HS thực hiện các nhiệm vụ học tập của cá nhân, nhóm, lớp dưới sự dẫn dắt của GV “sẽ hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Tư duy và năng lực tự học của HS được phát triển, đồng thời, HS tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân, tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại. “Hoạt động HTKTM trong học tập không phải là một quá trình mò mẫm như trong nghiên cứu khoa học mà là quá trình hoạt động tìm tòi có hướng dẫn của GV, trong đó GV khéo léo đặt HS vào vị trí khám phá lại những tri thức của nhân loại.”GV“không cung cấp những kiến thức mới thông qua phương pháp thuyết trình giảng giải mà bằng tổ chức hoạt động, thông qua các hoạt động khám phá, kiến tạo, trải nghiệm… để HS tự lực chiếm lĩnh tri thức mới [15], [21], [24].
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm năng lực “Năng lực là một khái niệm được đề cập đến trong nhiều tài liệu nghiên cứu về giáo dục trong và ngoài nước theo những cách tiếp cận khác nhau.” “Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường”(2014): “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sẵn sàng hành động” [1, tr. “Theo Nguyễn Quang Uẩn”(2005): “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [40, tr. “Theo cách tiếp cận tích hợp, F.
Weinert (2001) cho”rằng “Năng lực của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề”. 15 “Theo từ điển Tiếng”Việt “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [35, tr. “Theo chương trình Giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào”tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [4].
“”Như vậy, có thể thấy dù mỗi tác giả có cách phát biểu khác nhau, nhưng đều khẳng”định: “Năng lực là khả năng thực hiện, biết làm và làm có hiệu quả chứ không chỉ biết và hiểu.” “Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm năng lực của chương trình GDPT 2018 của Bộ GD&ĐT. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề - Giải quyết vấn đề “Đầu thế kỷ XXI, nhìn chung cộng đồng giáo dục quốc tế chấp nhận định nghĩa: “GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn” (dẫn theo [8]). “Người GQVĐ có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để giải quyết được vấn đề đó.”Sự“am hiểu tình huống vấn đề, lý giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở lập kế hoạch, suy luận tạo thành quá trình”GQVĐ. GQVĐ là một quá trình tư duy phức tạp bao gồm sự hiểu biết, đưa ra luận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp…để đưa ra một hoặc nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, thách thức của vấn đề.
Trong quá trình GQVĐ, chủ thể thường phải trải qua hai giai đoạn cơ bản. - Năng lực GQVĐ “Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), có hai cách tiếp cận về NL GQVĐ: Theo“cách truyền thống, NL GQVĐ được tiếp cận theo tiến trình GQVĐ và sự 16 thay đổi nhận thức của chủ thể sau khi GQVĐ. Theo“cách hiện đại, NL GQVĐ được tiếp cận theo quá trình xử lí thông tin nhấn mạnh đến các yếu tố: Suy nghĩ của người GQVĐ”hay “hệ thống xử lí thông tin”; vấn đề; không gian vấn đề (dẫn theo [7]). “Đến nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về NL GQVĐ.”Ví“dụ, theo PISA”2012, “GQVĐ là NL của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà phương pháp của giải pháp đó không phải ngay lập tức nhìn thấy rõ ràng.”Nó“bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công cụ có tính xây dựng và biết suy nghĩ”(dẫn theo [7]).
“Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương (2016), quan”niệm “Năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường” [27].3 Khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo “Theo Nguyễn Thị Thu Hiền”(2007): “sáng tạo có ý nghĩa là tạo ra, làm ra, sản xuất ra sản phẩm mới, đề ra cách giải quyết mới có giá trị”. Đối“với HS trường phổ thông, tất cả những gì mà”họ tự nghĩ ra được khi GV chưa dạy, HS chưa đọc trong sách, chưa biết được nhờ trao đổi với bạn đều coi như có mang“tính sáng tạo. Sáng“tạo là một bước nhảy vọt trong sự phát triển NL nhận thức của HS [21]. “Từ điển tiếng Việt định nghĩa sáng tạo là“tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”[35, tr.
“Theo Hoàng Chúng”(1969) “Sáng tạo là tạo ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh để tìm ra những giải pháp hoặc các khái niệm mới” [11, tr.