Phần mở đầu, (2) Nội dung, (3) Kết luận và khuyến nghị, (4) Danh mục công trình liên quan tới luận án, (5) Tài liệu tham khảo; (6) Phụ lục. Phần nội dung của luận án bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học theo tiếp cận kĩ năng sống. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học theo tiếp cận kĩ năng sống. Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học theo tiếp cận kĩ năng sống.
Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN KĨ NĂNG SỐNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về xâm hại tình dục trẻ em XHTD trẻ em đã và đang trở thành vấn nạn của toàn cầu, luôn thu hút sự quan tâm của các khoa học đến từ nhiều quốc gia trên thế giới.
Các nghiên cứu của Baker và Ducan (1985); Danya Glaser và Stephen Frosh (1993) [110]; Karin Heissler [120]; Finkelhor [137]; Child Welfare Information Gateway, 2009); Radda Bamen Save the Children Sweden… về XHTD trên khía cạnh và góc độ khác nhau song các định nghĩa này đều thống nhất ở một điểm chung: XHTD bao gồm bất kì hành động nào từ phía người lớn tác động lên trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của họ. Các nghiên cứu giải thích hành vi XHTD là kết quả ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan (Đại diện: Finkelhor [137]; Tony Ward và Richard J.Ho, 1993…); ảnh hưởng của yếu tố văn hóa và tôn giáo (Đại diện: theo John Frederick, 2010, UNICEF, 2002; Kelvin Lalor và Rosaleen Meletvaney, 2010 [119]); ảnh hưởng của yếu tố môi trường (Đại diện: Kelvin Lalor và Rosaleen Meletvaney, 2010; Laura Murray và Gilbe Burnham, 2009) [113]; RaFH, 2006 – 2007 [98]… Tổ chức Action Aid phân chia bạo hành tình dục trẻ em nữ thành 2 loại: Quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục. Trong đó có những kiến giải sự khác nhau giữa hai khái niệm quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục cũng nhƣ các biểu hiện, dấu hiện nhận biết và các hậu quả nghiêm trọng quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục đối với tâm lí, thể chất của trẻ [1]. Nghiên cứu của Allan Jonh Kemboi, 2003 thông qua khảo sát 5 trƣờng tiểu học ở vùng Lorroki, vùng nông thôn nghèo khó của Châu Phi đã cho thấy: Hậu quả HS bị lạm dụng sẽ dẫn tới ảnh hƣởng tiêu cực đến học tập, suy giảm hứng thú và mức độ đọc viết của dân số trong vùng từ đó làm gia tăng số học sinh bỏ học.
Nghiên cứu của Lê Thị Lâm, Phạm Văn Tƣ đã khảo sát 394 khách thể là HS, sinh viên tại các trƣờng trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng và đại học trên địa 9 bàn thành phố Đà Nẵng về trải nghiệm của họ (bị/chứng kiến) liên quan tới quấy rối tình dục phụ nữ và trẻ em gái nơi công cộng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bất kể thời gian, địa điểm nào cũng có thể xảy ra quấy rối tình dục nơi công cộng, đặc biệt nguy cơ cao là buổi tối, nơi vắng vẻ, ít ngƣời qua lại. Đối tƣợng nào cũng có thể nằm trong nhóm thủ phạm gây nên hành vi quấy rối, đặc biệt là ngƣời lạ. Một số khuyến nghị đƣợc đề xuất nhằm góp phần giúp HS, sinh viên phòng ngừa với quấy rối tình dục [44; tr.
“Một số cách tiếp cận nghiên cứu xâm hại tình dục trẻ em qua các nghiên cứu nước ngoài” của tác giả Trần Thị Cẩm Nhung đã đóng góp vào việc xem xét vấn đề XHTD ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề trẻ em ở Việt Nam [57]. Phát hiện trong hầu hết các nghiên cứu cho thấy: Kẻ XHTD đều có mối quan hệ quen biết với trẻ bị xâm hại. Họ có thể là thành viên của gia đình (cha mẹ, ông, chú, bác, anh em họ hàng), bạn bè thân quen, có thể là hàng xóm. Trong nghiên cứu của UNICEF đã khẳng định: 88.2% các vụ hiếp dâm, cƣỡng bức tình dục không xác định đƣợc thủ phạm, chỉ có 9.2% xác định đƣợc thủ phạm là ngƣời họ hàng, 1.3% vụ xác định thủ phạm là cha, cha dƣợng hoặc bạn trai của mẹ.
Tƣơng tự, 87% vụ XHTD bằng hành vi sờ mó, đụng chạm vào các bộ phận kín của trẻ; 3.1% vụ xác định là ngƣời họ hàng [92];… Báo cáo “Tổng quan nghiên cứu về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây” của nhóm tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo, Trần Qúy Long, Trần Mai Hƣơng thực hiện năm 2008 đã đi sâu tìm hiểu một số nội dung cơ bản: Kinh nghiệm giải quyết vấn đề XHTD trẻ em của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài và các tổ chức bảo vệ trẻ em trên toàn thế giới; tổng quan các nghiên cứu về tình trạng XHTD trẻ em ở nƣớc ta trong những năm gần đây. [75] Nhìn chung, XHTD trẻ em đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, đề cập trên các phƣơng diện cơ bản, đặc trƣng nhất về XHTD trẻ em. Đây sẽ là cơ sở cần thiết để luận án xây dựng khung cơ sở lý luận về XHTD cho HSTH. Tuy nhiên, điểm hạn chế của các công trình nghiên cứu là chƣa có sự thống nhất về cách hiểu XHTD mà thƣờng căn cứ vào các loại hình vi XHTD: Có nghiên cứu chỉ xem xét XHTD biểu hiện qua các hành vi vuốt ve, sờ mó vào bộ phận kín, sử dụng lời lẽ dâm đãng làm xúc phạm ngƣời khác, giao hợp; có nghiên cứu tính tới cả hành vi cho trẻ xem băng video, 10 sách báo, tranh ảnh hoặc các ấn phẩm kích dục, lấy trộm đồ lót, khiêu dâm qua giao tiếp (gọi điện, sử dụng ngôn ngữ quấy rối tình dục…) vì vậy, rất khó đƣa ra số liệu đầy đủ, chính xác về thực trạng XHTD cũng nhƣ rất khó so sánh các kết quả nghiên cứu từ các cuộc điều tra khi hành vi xâm hại không cùng dựa trên một tiêu chí, một quan điểm đánh giá.
Những nghiên cứu về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Chƣơng trình “Người bảo hộ của trẻ em” của tổ chức Darkness to light của Mỹ; với mục tiêu là nâng cao nhận thức trong phòng chống XHTD trẻ em nhằm chia sẻ và hỗ trợ trong việc xử lí các trƣờng hợp có nguy cơ XHTD [Dẫn theo 75]. Room to Read là một tổ chức phi chính phủ quốc tịch Mỹ và bắt đầu hoạt động dự án tại Việt Nam từ năm 2001 với 17 tỉnh thành trên cả nƣớc trong đó có hoạt động tập huấn phòng chống bạo hành và xâm hại trẻ em. Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision) và Cơ quan phát triển quốc tế Australia Aids mở lớp tập huấn về hoạt động du lịch an toàn cho trẻ em tại các điểm du lịch tại Bản Lác, Mai Châu (Hòa Bình), Tả Van, Sapa (Lào Cai), TP. Hải Phòng.
Đây là các điểm du lịch thu hút đông đảo khách du lịch trong nƣớc và quốc tế. Lƣợng khách du lịch ngày một tăng cũng kéo theo những nguy cơ vấn nạn du lịch tình dục trẻ em. Với thông điệp “Cùng nhau chúng ta có thể ngăn chặn du lịch tình dục trẻ em” và “Việt Nam không có chỗ cho du lịch tình dục trẻ em”, lớp tập huấn là hoạt động thiết thực, có ý nghĩa đối với cộng đồng dân cƣ và doanh nghiệp du lịch ở địa phƣơng [1]; [2]. Bộ tài liệu tập huấn “Tổ chức an toàn với trẻ em” của tác giả Sinart King & Lynne Benson đã đƣợc thử nghiệm, chỉnh sửa với hơn 30 tổ chức làm việc với trẻ em tại Thái Lan, với đội ngũ tình nguyện viên đến từ 6 nƣớc trong khu vực Sông Mê Kông và trong mẫu thu hẹp các tổ chức thành viên của ECPAT vùng Tây Phi và Châu Âu [68].
“Tổ chức an toàn với trẻ em - Cẩm nang tập huấn” của tổ chức cứu trợ trẻ em Anh (SCUK), ECPAT, UNICEF là một tƣ liệu đồ sộ gồm 317 trang xuất bản năm 2006. Một trong những nội dung đƣợc đề cập khá sâu sắc trong cuốn tƣ liệu này là các kiến thức cơ bản liên quan tới XHTD: Khái niệm, dấu hiệu, biểu hiện, đặc trƣng… của các hình thức lạm dụng tình dục trẻ em, đặc biệt nhấn mạnh vào việc dạy trẻ không giữ bí mật, nên chia sẻ với ngƣời mà trẻ cho là tin cậy nhất về những tình huống có nguy cơ hoặc đã bị XHTD [77]. 11 Hiệp ƣớc chống lƣu hành và buôn bán các văn hóa phẩm đồi trụy 1923 đã đƣợc 53 quốc gia ký kết thông qua ngày 31/12/1994; công ƣớc quốc tế về chống buôn bán ngƣời và bóc lột tình dục 1949; công ƣớc của hội đồng Châu Âu về bảo vệ trẻ em chống lại bóc lột và XHTD đặc biệt là công ƣớc của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em 1989, đã quy định rõ ràng: “Bảo vệ trẻ em khỏi tất cả mọi hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, bị tổn thương hay lạm dụng, bị bỏ mặc hay sao nhãng việc chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột gồm cả lạm dụng tình dục trẻ” (Điều 19)… Ở trong nƣớc: Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành Hiến pháp; Luật Bảo vệ, chăm sóc và GD trẻ em đặc biệt là Bộ luật hình sự Việt Nam quy định rõ ràng tội phạm về XHTD: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112); tội cƣỡng dâm trẻ em (Điều 114); tội giao cấu với trẻ em (Điều 115); tội dâm ô trẻ em (Điều 116); tội chứa mại dâm (Điều 254); tội môi giới mại dâm (Điều 225); tội mua bán ngƣời chƣa thành niên (Điều 256) [4]… Một số đề án cũng đã đƣợc triển khai nhƣ đề án “Phòng ngừa tình trạng trẻ em bị xâm hại nhân phẩm, danh dự bị XHTD” (Theo Quyết định số 1101/2000/ QĐ/BLĐTBXH); “Chương trình phòng ngừa và giải quyết trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm từ năm 2005 đến 2010” của Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em thực hiện năm 2006… Hiện nay, uỷ ban đã thành lập một tổng đài hỗ trợ tƣ vấn quốc gia và các trung tâm hỗ trợ ở 64 tỉnh thành bằng dịch vụ hỗ trợ qua điện thoại 18001567. Tại tổng đài quốc gia sẽ có 20 - 30 máy điện thoại với 50 - 60 nhân viên trực liên tục 24/24h, khi cần thiết sẽ kết nối với các địa phƣơng và các cơ quan chức năng để hỗ trợ can thiệp.