Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tƣợng, khách thể, giả thuyết, phƣơng pháp và giới hạn của đề tài. Phần nội dung trình bày - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non. - Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục tính tự lập cho trẻ tại trƣờng mầm non 106 Biên Hòa, Đồng Nai. - Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập cho trẻ tại trƣờng mầm non 106 Biên Hòa, Đồng Nai.
Kết luận và kiến nghị -6- Luan van NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ MẦM NON 1. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 1. Giáo dục tính tự lập cho trẻ ở các nƣớc trên thế giới Ở các nƣớc phát triển, tiêu chí để đánh giá sự thành công của một con ngƣời đó là tự lập. Ngƣời nào tự lập sớm ngƣời đó đƣợc đánh giá là thành công.
Vì vậy mọi gia đình đều giáo dục tự lập cho con trẻ từ khi còn rất bé. Giáo dục trẻ tự lập của người Mỹ[10],[19]. Ngƣời Mỹ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi ngƣời. Vì thế, ngay từ khi còn rất nhỏ, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ bản thân.
Họ cho rằng trẻ em nắm bắt đƣợc các kỹ năng tự phục vụ bản thân sẽ giúp trẻ có thể tăng cƣờng đƣợc tính tự lập, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho ngƣời lớn. Những ngƣời làm công tác giáo dục mẫu giáo ở Mỹ đều nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía ngƣời lớn cũng phải tạo cho trẻ cơ hội để rèn luyện những kỹ năng tự lập. Đồng thời, giáo dục tự lập cho con trẻ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ đƣợc học ở lớp đƣợc rèn luyện và thực hành tại nhà.
Kỹ năng tự phục vụ của trẻ bao gồm: buộc dây giày, mặc quần áo, cài cúc áo, rửa mặt, đánh răng, chải đầu, ăn cơm. Những giáo viên mẫu giáo ở Mỹ khi rèn cho trẻ tự lập thƣờng dùng phƣơng pháp là rèn luyện và luyện tập. Bên cạnh đó, ngƣời giáo viên cũng đề ra các nhiệm vụ, những điều kiện để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn: để dạy trẻ tự mang giày, họ thƣờng đƣa cho trẻ những đôi giày to hơn một chút so với cỡ chân của trẻ.
Hoặc để dạy trẻ tự rót sữa, họ đƣa cho trẻ những bình sữa có miệng rộng giúp trẻ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Cách làm nhƣ vậy sẽ gây cho trẻ hứng thú cũng nhƣ tự tin trong việc hoàn thành các nhiệm vụ. -7- Luan van Trẻ con Mỹ luôn rất tự lập và dũng cảm. Các bé thƣờng ngủ một mình vào ban đêm, đi ra ngoài mà không sợ bóng tối hay côn trùng, thậm chí các bé có thể tự mình sửa chữa những món đồ chơi bị hỏng hoặc tự kiếm tiền chi trả học phí.Có đƣợc những phẩm chất này là nhờ phƣơng pháp giáo dục ƣu việt của cha mẹ ngƣời Mỹ.
Họ không chỉ là bạn mà còn là ngƣời thầy ở bên con trong suốt cuộc đời. Cha mẹ Mỹ biết lúc nào nên để bé tự lập làm việc. Vì vậy từ nhỏ trẻ em Mỹ đã biết tự mặc quần áo, đƣa báo đến từng nhà khi trời còn chƣa sáng, thậm chí có thể tự đi picnic cùng bạn bè.Đó là những minh chứng cho hiệu quả của phƣơng pháp giáo dục con đặc biệt. Chính bởi những phƣơng pháp này mà trẻ con Mỹ luôn trƣởng thành tự tin, độc lập và thành công nhƣ thƣờng thấy[10],[19].
Giáo dục tính tự lập cho trẻ của người Do Thái [11] Ngƣời Do Thái yêu con nhƣng tuyệt đối không nuông chiều con, tôn trọng quyết định của con, bồi dƣỡng ý thức độc lập cho con, kiên quyết từ chối những yêu cầu không hợp lý của con, từ nhỏ con đã có thể tự mình tiến lên phía trƣớc. Kỹ năng sống độc lập là tiền đề để trẻ sống tự lập, chỉ có nắm đƣợc kỹ năng này trẻ mới có thể sống độc lập, đồng thời giảm tốithiểu thói sống dựa dẫm vào bố mẹ. Từ nhỏ, cha mẹ ngƣời Do Thái đã hƣớng dẫn cho con trẻ tham gia vào các việc trong gia đình nhƣ: đổ rác, gấp quần áo, lau nhà… để rèn luyện tính tự lập cho trẻ. Mặc dù, viêc dạy những kỹ năng này mất nhiều thời gian hơn so với việc bố mẹ tự làm, nhƣng cha mẹ ngƣời Do Thái luôn kiên trì chỉ bảo cho trẻ đến cùng.
Ngƣời Do Thái hiểu rằng khi để trẻ học đƣợc kỹ năng sống độc lập, trẻ mới có thể tự tách khỏi bố mẹ, thích nghi với cuộc sống, với xã hội. Cho nên khi dạy con kỹ năng sống, các bậc cha mẹ cần học theo cha mẹ ngƣời Do Thái. Giáo dục con tính tự lập của người Nhật[28], [22] Ở Nhật Bản ngay từ khi còn nhỏ trẻ em đã đƣợc học cách trở nên độc lập và tự chăm sóc bản thân. Một trong những bài học đầu đời về tính tự lập của trẻ em Nhật Bản chính là tự đi một mình đến trƣờng bằng chính đôi chân của mình.
Ngƣời Nhật luôn dạy cho con họ tính tự lập ngay từ khi còn rất sớm (từ 0 - 3 tuổi). Họ đã rèn luyện tƣ duy cho bé và dạy trẻ tự lập, để con tự làm mọi việc có thể.Từ việc tự xúc -8- Luan van ăn, làm vệ sinh cá nhân, cất đồ chơi, làm việc giúp mẹ. Từ 2 tuổi trở lên, mẹ bắt đầu để con tập tự làm các công việc có thểdạy trẻ học gắn liền với thực tế. Để giúp trẻ hiểu rằng không nên lãng phí đồ ăn, cô giáo không giảng “một hạt thóc vàng chín hạt mồ hôi, nên các em không đƣợc lãng phí…” mà cô sẽ cho các bé đƣợc trực tiếp trồng lúa hoặc các loại rau củ trong vƣờn cây hoặc bồn hoa của trƣờng.
Các bé sẽ tự gieo hạt, chăm sóc, cho tới khi thu hoạch, tất nhiên là vẫn có giáo viên hƣớng dẫn nhƣng chủ yếu là các bé tự làm. Qua đó, trẻ hiểu đƣợc để làm ra đƣợc một củ cải hoặc một củ khoai cho các bé ăn, các bác nông dân đã vất vả nhƣ thế nào. Thời kỳ này cho bé thời gian hoạt động một mình để bé tự trải nghiệm, tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Cha mẹ chỉ nên ở bên cạnh quan sát, giúp đỡ bé một phần mà thôi.
Cho bé đi nhiều nơi, quan sát nhiều vật nhƣ: đi công viên, vƣờn bách thú, viện bảo tàng, thƣ viện…Sau khi đi, cha mẹ hãy hỏi trẻ để bé kể lại những sự vật, sự việc đã thấy và nêu lên cảm nhận của bé. Trẻ em Nhật có khả năng tự lập, quyết đoán, đặc biệt tính tự giácrất cao. Từ 2 -3 tuổi trẻ em Nhật đã có thể tự làm vệ sinh cá nhân, ngồi nghiêm chỉnh vào bàn ăn, tự xúc ăn…Các em ý thức đƣợc rằng đâu là công việc mình phải làm chứ không cần nhờ ngƣời khác hay phải đợi cha mẹ nhắc nhở. Giáo dục tính tự lập cho con của người Đức [21],[30],[31] Ngƣời Đức thƣờng đƣợc đánh giá là sống và làm việc theo “kỷ luật thép”, tự lập và rất trách nhiệm.
Cha mẹ ngƣời Đức “huấn luyện” con tự lập rất tài tình, hiệu quả. Ngƣời Đức quan niệm, mỗi đứa trẻ có ƣu-nhƣợc điểm khác nhau và lớn lên theo cách riêng của chúng. Bởi thế, nếu con có chậm phát triển hơn so với bạn bè đồng lứa về một hành vi nào đó, cha mẹ cũng không bao giờ so sánh khiến con cảm thấy mình kém cỏi, nản chí. Cha mẹ Đức dạy con tính tự lập từ những việc nhỏ nhất và từ rất sớm.
Họ không bao giờ từ chối cơ hội “huấn luyện” con tính tự lập tốt nhƣ thế. Khi mẹ Đức làm bánh, trẻ sẽ đƣợc sắp xếp đứng kế bên xem. Đôi ba lần, mẹ Đức sẽ hƣớng dẫn và tập cho trẻ cùng làm bánh. Họ không nói: “Con đừng sờ vào, để yên -9- Luan van mẹ làm cho nhanh”.
Mẹ làm thì nhanh thật nhƣng bé sẽ không học đƣợc gì nếu cha mẹ cứ làm hộ mãi. Vì thế, khi mẹ giặt đồ hãy để bé tự cho quần áo của mình vào máy giặt. Dọn nhà, hãy đƣa cho bé cái khăn, khoanh vùng và nói: “Đây là việc con cần hoàn thành”… Trẻ em học rất nhanh và nhớ cũng rất lâu, chỉ cần hƣớng dẫn một lần, lần sau trẻ sẽ tự giác làm việc. Điểm đáng học tập trong cách rèn con của ngƣời Đức nữa là việc tập cho con có thói quen ăn uống lành mạnh, tự lập.
Cha mẹ Đức “ra luật” với con ngay từ những bữa ăn đầu tiên. Họ tập cho bé ngồi vào bàn ăn cùng bố mẹ và phải đợi khi bàn đầy đủ mọi ngƣời thì mới đƣợc ăn. Bởi thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi ở Đức, trẻ 1 tuổi đã tự xúc ăn, tuy lúc đầu tập tự ăn sẽ không tránh khỏi vụng về rơi vãi, nhƣng dần trẻ sẽ tự làm đƣợc. Mặc dù dạy con tính tự lập và kỷ luật nhƣng ngƣời Đức không ép buộc con làm theo ý muốn của cha mẹ.
Ở Đức không có cảnh khi đi chơi, cha mẹ xách lỉnh kỉnh bao nhiêu đồ còn trẻ thì đủng đỉnh. Trẻ em ở Đức từ 2-3 tuổi đi đâu cũng phải tự xách đồ của mình, cha mẹ không xách hộ, trừ trƣờng hợp trẻ mệt, ốm. [21], [30] Trẻ con Đức, từ những em bé một, hai tuổi đã có ý thức kỷ luật và tự lập một cách đáng kinh ngạc: không hề có cảnh trẻ con khóc lóc, bám bố mẹ, không có cảnh bố mẹ dỗ dành, quát nạt, bú mớm, cho con ăn uống, tay xách nách mang. Trẻ em ở đây đƣợc tôn trọng nhƣ những cá thể độc lập và có ý thức, cho nên chúng đƣợc đối xử trên tinh thần nhƣ thế; và chúng cƣ xử lại cũng với tinh thần nhƣ thế.
Không có sự bảo bọc, nuông chiều, cung phụng hoặc hách dịch với trẻ. Luôn tạo cơ hội để con đi ra ngoài, nhất là ra ngoài một mình, để con tự lập[31], [21]. Giáo dục tính tự lập cho con của người Pháp [19] Mẹ Pháp để dạy con về tính tự lập, ngay từ lúc trẻ lọt lòng, các mẹ Pháp đã cho con nằm riêng và rất hạn chế việc bế ẵm, ôm ấp. Nếu bé có khóc trong đêm thì mẹ Pháp cũng không lao tới vỗ về ngay lập tức, ngƣợc lại, họ để con trẻ tự bình tĩnh lại và… tự nín.