Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lí luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu. Thực trạng hòa nhập xã hội của trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS và Làng trẻ em Birla, thành phố Hà Nội.
Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ và tăng cường hòa nhập xã hội cho trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS và Làng trẻ em Birla, thành phố Hà Nội. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu liên quan tới học tập của trẻ em mồ côi sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội Các công trình nghiên cứu có liên quan tới chủ đề học tập của trẻ mô côi sinh sống tại các cơ sở chăm sóc không đề cập riêng biệt về vấn đề hòa nhập trong học tập của trẻ mồ côi, ngoại trừ một công trình nghiên cứu của Nguyễn Hong Kiên, 2017 về hòa nhập xã hội của trẻ mồ côi được nuôi dưỡng ở các cơ sở bảo trợ xã hội tại trường tiểu học. Các khía cạnh về hòa nhập xã hội trong học tập của trẻ mồ côi tại các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam chủ yêu được phản ánh qua các phân tích về kết quả giáo dục trẻ mồ côi, tinh thần học tập, ý thức học tập, khả năng học tập, khó khăn trong học tập, phân biệt đối xử tại trường học, mô hình giáo dục cũng như sức khỏe tâm thần và vấn đề tâm lý xã hội của trẻ tại các cơ sở chăm sóc.
Trẻ mồ côi thường có điều kiện và đặc điểm giáo dục kém hơn so với nhóm trẻ khác. Trẻ thường bỏ học vì không có tiền đóng học phí, bị kỳ thị, sự tập trung và chú ý kém trong học tập, bị loại trừ xã hội, môi trường học tập tiêu cực, có nhiều rào can khi tham gia học tập, nhu cầu giáo dục đặc biệt, khó tập trung và học tập, ưu tiên từ gia đình và xã hội thấp, sợ bạo lực tại học đường, thụ động trong học tập do có nhiều phiền muộn và lo lắng, sự trải qua mat mát của bố mẹ dẫn tới tổn thương tâm lý và tác động tới việc học tập tại trường (Tania Boler & Kate Carrol, 2003). Nghiên cứu Tania Boler & Kate Carrol đã chỉ ra được đặc điểm về học tập tại trường của trẻ mồ côi và trẻ em dễ bị tổn thương, tuy nhiên, không nêu lên đặc điểm riêng của trẻ mồ côi. Bên cạnh đó, các đặc điểm được mô tả là của trẻ mồ côi nói chung, không phải đối tượng trẻ m6 côi sinh sống tại các cơ sở chăm sóc tập trung.
Tại các nước Châu Phi, nghiên cứu của Anne Case và cộng sự chỉ ra rằng, trẻ mồ côi ít có cơ hội đến trường. Tỷ lệ trẻ mồ côi nhập học thấp hơn so với trẻ khác do phụ thuộc vào gia đình sống cùng, thường là họ hàng xa hoặc những người chăm sóc không có mối quan hệ ruột thịt (Anne Case, Christina Paxon and Joseph Ableidingder, 2004). Bên cạnh điều kiện và đặc điểm giáo dục kém, trẻ m6 côi thường gặp phải vấn đề về cảm xúc và hành vi khi tham gia vào việc học tập tại trường học. Nghiên cứu của Zeynep Simseka et al về cảm xúc và hành vi của 461 trẻ sống trong các trại trẻ mồ côi tại Thổ Nhĩ Ky có độ tuổi từ 6 đến 18 tuổi và 2280 trẻ được nuôi dưỡng tại cộng đồng ở cùng độ tuổi dé so sánh về van đề cảm xúc và hành vi của hai nhóm đối tượng này đã chỉ ra rằng, trẻ sống trong trại trẻ m6 côi gặp nhiều van dé liên quan tới học tập so với trẻ em sống ngoài cộng đồng như không thé tập trung, chú ý lâu trong học tập, hiếu động, dễ bị phân tâm, khả năng làm theo các hướng dẫn thấp và việc học tập tại nhà trường thường kém.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân viên chăm sóc tại các trại trẻ mồ côi với giáo viên các trường học sẽ giúp giảm các nguy cơ về tâm lý và các vấn đề về học tập của trẻ (Zeynep Simseka et al, 2006). Ngoài giáo dục về tri thức, việc giáo dục văn hóa, đạo đức cũng là một vấn dé quan trọng đối với nhóm trẻ em mồ côi. Để trẻ mồ côi phát triển toàn diện thì một số vấn đề cần thiết trong giáo dục trẻ cần phải được chú trọng như giáo dục đạo đức, giáo dục tri thức và giáo dục các định hướng giá trị (Dương Thị Thúy Hà, 2009). Tác giả đồng thời cũng nêu lên các lý do cho việc định hướng các vấn đề giáo dục văn hóa, đạo đức đó của trẻ.
Như đối với van dé đạo đức, xuất phát từ đặc điểm tâm lý xã hội của trẻ trước khi vào các cơ sở chăm sóc đã trải qua một quá trình phát triển tự do, thiếu sự định hướng giáo dục của gia đình và người thân dẫn tới tâm lý thiếu tự tin, mặc cảm nên cần phải được giáo dục đạo đức. Giáo dục tri thức và định hướng giá trị được tác giả đề cập tới như là một tiền đề quan trọng dé giúp trẻ chuẩn bị cho cuộc sống tự lập khi trưởng thành và có khả năng thích ứng cao với môi trường sống. Trong nghiên cứu này, tác giả không đề cập tới quá trình học tập, sự hòa nhập trong học tập của trẻ sống tại các cơ sở chăm sóc. Đặc điểm tâm lý — xã hội là một trong các yếu tố quan trọng có tác động tới quá trình hòa nhập học tập của trẻ mô côi.
Một số công trình nghiên cứu về đặc điểm tâm lý — xã hội, sức khỏe tâm thần của trẻ tại các cơ sở chăm sóc và so sánh giữa hai nhóm trẻ sông tại các cơ sở chăm sóc và nhóm trẻ sông tại cộng đông từ năm 2010 tới 2015 cho thấy, trẻ mồ côi sống tại các cơ sở chăm sóc có khả năng hòa nhập thấp hơn so với trẻ được chăm sóc tại cộng đồng do sự hạn chế các kỹ năng xã hội và khó khăn trong việc tìm ra các giải pháp sinh tồn (Hong et al. Trong các nhu cầu tâm ly xã hội của trẻ mồ côi từ 12-15 tuổi, nhu cầu tư van được đánh giá cao nhất, tiếp đến là dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đứng thứ ba là nhu cầu giáo dục (Zabibu Khamis Mabangwa, 2013). Trong báo cáo nghiên cứu cua Faith To Action Intiative năm 2014, các tác giả đã có sự so sánh về trẻ em mồ côi trên bình diện toàn thế giới. Báo cáo đã nêu lên đặc điểm dễ bị tôn thương của trẻ mồ côi sống tại các cơ sở chăm sóc và tầm quan trọng của hình thức chăm sóc thay thế tại gia đình.
Các hạn chế về tâm lý xã hội của trẻ sông tại cơ sở chăm sóc được đưa ra gồm có khả năng hư hỏng, sự tàn phá về tâm lý — xã hội do thiếu thốn tình cảm gia đình. Mức độ rối nhiễu tâm lý của nhóm trẻ mồ côi sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội cũng được đánh giá là cao hơn so với nhóm trẻ sống cùng gia đình. Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở nhóm trẻ mồ côi sống ở các trung tâm bảo trợ xã hội và nhóm trẻ sống cùng gia đình và mối liên hệ giữa tâm lý và kết quả học tập của trẻ em mồ côi sống tại các trung tâm của tác giả Trần Thị Tú Anh (2014) cũng chỉ ra rang, trẻ em mồ côi song tai các trung tâm bao trợ xã hội có tỷ lệ bi roi nhiễu tâm lý cao hơn so với trẻ sống tại các gia đình và do vậy nhà trường cần phải có sự giúp đỡ đối tượng trẻ em mồ côi này trong quá trình học tập dé các em có thé đạt thành tích cao hơn. Như vậy có thể thấy, các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam từ năm 2010 tới 2015 về đặc điểm tâm lý — xã hội của trẻ em mồ côi kê trên không đưa ra các kết quả nghiên cứu trực tiếp về việc học tập của trẻ em mồ côi mà nhắn mạnh tới nhu cầu giáo dục của trẻ, kết quả giáo dục tại các cơ sở tạo nên đặc điểm tâm lý xã hội khó hòa nhập hơn so với trẻ sống tại cộng đồng trong hoạt động sống và học tập.
Cũng trong thời gian này, một số tác giả có nghiên cứu liên quan tới vấn đề của trẻ mô côi tại trường học đã đưa ra các kết quả về hòa nhập của trẻ mô côi khi tham gia vào môi trường học tập. Adem Ocal et al., trong một nghiên cứu về loại trừ xã hội của học sinh phố thông cơ sở là trẻ m6 côi qua khảo sát 100 trẻ có độ tuổi từ 11 tới 16 tuổi tại bốn cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi tại Thổ Nhĩ Kỳ Aksaray, Konya, Kirsehir and Kayseri đã nêu lên mối liên hệ giữa hòa nhập xã hội của trẻ mồ côi tại trường học với giới tính, tuổi và số anh chị em trong gia đình. Theo đó, có sự khác biệt về hòa nhập của trẻ m6 côi tại trường hoc theo giới, trẻ nữ thường có hòa nhập tại trường học tốt hơn so với trẻ nam. Trẻ mồ côi khi theo học tại các trường học thường phải đối mặt với sự ky thị tại trường hoc.
Không có sự khác biệt về độ tuổi cũng như số anh chị em trong gia đình trẻ với sự loại trừ xã hội đối với trẻ em mồ côi (Adem Ocal et al. Đây là một nghiên cứu về trẻ mồ côi tại môi trường học. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đề cập tới vấn đề loại trừ xã hội của trẻ mồ côi tại trường học trong mối liên hệ với gidi, tuổi va số anh chi em, cha mẹ còn song ma chua dé cập tới các khía cạnh khác như kha năng hòa nhập, khả năng học tập, kết quả học tập của trẻ em mồ côi tại trường học. Trẻ em m6 côi là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và thường gặp các van dé về hành vi, kỹ năng sống, khả năng hòa nhập vào học tập tại trường, do vậy, cần có sự hỗ trợ về dịch vụ tư van, các kỹ năng song va cả sự hỗ trợ từ cha mẹ hoặc người giám hộ.
Đồng thời, trẻ cũng thiếu các kỹ năng sống cần thiết như chăm sóc bản thân khi bị ốm, làm các công việc vặt tại nhà, áp lực từ bạn cùng trang lứa, lạm dụng tình dụng v.v do không được giáo dục bởi thầy cô tại trường. Trẻ cũng gặp khó khăn trong việc làm bài tập về nhà do không có cha mẹ hoặc người giám hộ hướng dẫn làm bài tập.