Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NHI ĐỒNG TỈNH HẬU GIANG 1. Khái niệm - Văn hóa Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.
UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. 12 Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
[40] Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. [62] Văn hóa ngày càng trở nên quan trọng đối với con người và xã hội; ngày nay, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Mặc dù văn hóa là một khái niệm đa nghĩa và phức tạp, vì vậy tùy thuộc mục tiêu và góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu nhưng có thể thấy, các định nghĩa đó gặp nhau ở chỗ xác định bản chất của văn hóa trên hai khía cạnh mà tác giả Cao Thanh Phước đã xác định: (1) Văn hóa gắn với sự thể hiện, phát huy, giải phóng “năng lực bản chất người” trong tất cả mọi dạng hoạt động và quan hệ của con người, văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; (2) Văn hóa bao gồm thế giới các giá trị được kết tinh trong “thiên nhiên thứ hai” - với tư cách là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của con người. - Hoạt động đọc Theo Johnson W. cho rằng việc đọc là một hiện tượng xã hội hơn là một hiện tượng đơn lẻ, nó phát triển không ngừng theo thời gian, với gốc rễ bám sâu trong truyền thống của mỗi dân tộc. Việc đọc không phải là một hoạt động, hay thậm chí một quá trình, mà là một hệ thống, một hệ thống văn hóa rất phức tạp, ảnh hưởng tới nhiều cách hiểu khác nhau trong việc người đọc giải mã ngôn từ của tác giả.
cho rằng có thể coi việc đọc là một hoạt động nhận thức đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành văn hóa thông tin của con người: hiểu được các ý tưởng phát minh, tiếp nhận, lưu giữ, cải biến và tổ chức thông tin, sáng tạo ra tri thức mới và áp dụng chúng trong thực tiễn, ở cấp độ cá nhân, văn hóa đọc phản ánh năng lực nhận thức và khuynh hướng tinh thần giúp cho việc nhận dạng các biểu tượng chữ in bằng võng mạc tạo nên các cảm xúc tinh thần. [55] Theo Bách khoa toàn thư mở thì đọc hay đọc hiểu là một quá trình "nhận thức" phức tạp của việc giải mã các biểu tượng để tạo ra ý nghĩa. Đọc sách là cách tiếp thu ngôn ngữ, giao tiếp và chia sẻ thông tin và ý tưởng. Giống như ngôn ngữ, nó là một sự tương tác phức tạp giữa các văn bản và người đọc được định hình bởi kiến thức của người đọc, kinh nghiệm, thái độ, và cộng đồng ngôn ngữ, vốn phụ thuộc vào văn hóa và xã hội cụ thể.
Quá trình đọc đòi hỏi phải liên tục thực hành, phát triển, và tinh chỉnh. Ngoài ra, đọc đòi hỏi sự sáng tạo và phân tích bình luận. Người đọc văn chương thường chìm vào nội dung tác phẩm, nói cách khác là chuyển đổi ngôn ngữ thành các hình ảnh mô phỏng các địa điểm mà văn chương đã mô tả. Bởi vì đọc là một quá trình phức tạp như vậy, nó không thể được kiểm soát hoặc định nghĩa bằng các giải thích giản đơn.
Không có luật cụ thể về đọc, nhưng đọc đã cho phép các độc giả một lối thoát để tạo ra các tác phẩm nội tâm của riêng họ. Điều này thúc đẩy việc thăm dò sâu sắc văn bản trong quá trình giải nghĩa từ vựng. Hoạt động đọc là hoạt động tinh thần bên trong con người, bắt nguồn từ nhu cầu đọc. Hoạt động đọc có sự tham gia trực tiếp của các yếu tố tâm lý như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ.
Vì thế đọc là quá trình tâm lý đặc biệt của con người, trong đó không chỉ có sự tham gia của các quá trình nhận thức cảm tính, lý tính mà còn có sự chi phối của các trạng thái tâm lý và các 14 thuộc tính tâm lý cá nhân. Sự khác nhau trong việc đọc được quy định bởi trình độ văn hóa, sự hiểu biết và năng lực tư duy của mỗi người. - Văn hóa đọc Văn hóa đọc là một thuật ngữ mới xuất hiện trong những năm gần đây. Hiện nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính học thuật về văn hóa đọc được công bố.
Thuật ngữ văn hóa đọc đến thời điểm hiện tại chưa có một định nghĩa hay khái niệm hoàn chỉnh và thống nhất. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật phát triển, văn hóa đọc không chỉ giữ phương thức đọc truyền thống (sách in) mà chuyển sang phương thức hiện đại (đọc trên các thiết bị điện tử máy tính, internet, điện thoại.) đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của bạn đọc trong đó có giới trẻ. Điều này cho thấy văn hóa đọc cần khẳng định vị thế và tầm ảnh hưởng lớn đến xã hội. Nhà ngôn ngữ học Phạm Văn Tình khẳng định: “văn hóa đọc chính là thái độ, là cách ứng xử của chúng ta đối với tri thức sách vở.
Phải biết đọc sao cho hợp lý và bổ ích. Đọc sao cho hợp với quy luật tiếp nhận tri thức”. [41] Tác giả Hoàng Nam cho rằng văn hóa đọc được hình thành từ lâu đời trong lịch sử, là một bước tiến quan trọng trong lịch sử văn minh nhân loại. Điều kiện tiên quyết cho văn hóa đọc phải biết chữ và biết tiếng mà chữ đó thể hiện.
Ông cho rằng văn hóa đọc gắn liền với chữ viết và nghề in. [27] Tác giả Nguyễn Hữu Viêm: “Văn hóa đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực của cộng đồng và của các nhà quản lí và cơ quan quản lý nhà nước… còn ở nghĩa hẹp, đó là cách ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân… Nghĩa là văn hóa đọc gắn liền với ứng xử đọc, giá trị và chuẩn mực đọc của cá nhân và xã hội”. [60] Theo tác giả Thủy Linh thì “Văn hóa đọc, nôm na hiểu rằng, biết cách đọc, biết cách cảm thụ, biết thu lượm những tri thức, lối sống từ những điều chuyển 15 tải sau con chữ, để biết sống tốt đẹp hơn, xây dựng một xã hội văn hóa và những con người văn hóa”.
[59] Tác giả Nguyễn Quang A trong bài tham luận của mình cho rằng “tập quán thói quen về đọc sách, cách đọc, cách ứng xử với sách, báo. tạo thành văn hóa đọc”. [57] Tóm lại, văn hóa đọc trước hết phải được hiểu đó là một hoạt động văn hóa, hoạt động nhằm biến đổi con người trở nên tốt đẹp hơn. Hoạt động văn hóa này mang tính đặc thù.
Trước hết nó được tiến hành thông qua việc giải mã chữ viết. Thứ hai, khi tiến hành hoạt động văn hóa này, con người có thể tiến hành đồng thời các hoạt động văn hóa khác như hoạt động nhận thức, hoạt động tu dưỡng, hoạt động sản xuất, hoạt động giải trí. Vì vậy, có thể xem văn hóa đọc là một hoạt động văn hóa đặc biệt, một hoạt động văn hóa thuộc diện tầm cao. Văn hóa đọc cũng phải được hiểu là cách thức tiến hành hoạt động đọc.
Văn hóa đọc chỉ có thể đạt được mục đích tối thượng của nó với tư cách là một hoạt động văn hóa là làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn khi hoạt động đọc được tiến hành một cách văn hóa. Nghĩa là hoạt động đọc phải hướng về những mục đích, nội dung, phương pháp, thái độ… đọc đúng đắn, cao đẹp. Văn hóa đọc cũng có thể được hiểu như là một thú tiêu khiển tao nhã, khi người ta đọc sách, trước hết người ta đã có được niềm vui, có được niềm hạnh phúc còn những lợi ích khác như đạo đức, kiến thức, năng lực… là những điều xuất hiện sau đó một cách tự nhiên. Tóm lại, không nên hiểu “văn hóa đọc” chỉ theo một định nghĩa, hay một quan điểm nhất định nào đó, vì như thế sẽ là phiến diện, khiên cưỡng, là bó hẹp một phạm trù vô cùng đa dạng và rộng lớn.
- Nhu cầu đọc Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.