Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.01), do nghiên cứu sinh Hồ Thị Thuý Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thu Hương tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2018).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hành vi hung tính là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới xung đột và các biểu hiện mang tính bạo lực như gây gổ, hung hăng, dễ bị kích động, cáu kỉnh, bực bội, cứng đầu và thù địch. Mối quan hệ của trẻ có hành vi hung tính với gia đình, bạn bè và giáo viên thường xuyên rơi vào tình trạng căng thẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Nếu không được can thiệp sớm, hành vi này có nguy cơ trở thành nét tính cách ổn định, tác động xấu đến quá trình phát triển nhân cách và hòa nhập xã hội. Các nghiên cứu theo chiều dọc cho thấy khoảng 50% số trẻ bộc lộ hành vi hung tính ở lứa tuổi mẫu giáo sẽ tiếp tục duy trì hành vi này ở tuổi thiếu niên và có nguy cơ cao tham gia vào các hành vi chống đối xã hội, lạm dụng chất, điều chỉnh cảm xúc kém và thất bại trong học đường (Campbell, 1995, 2000; William Bor và cộng sự, 2001).

Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ đầu năm học 2009 - 2010 cho thấy cả nước xảy ra 1.598 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài nhà trường; các cơ sở giáo dục đã xử lý kỷ luật khiển trách 881 học sinh, cảnh cáo 1.558 học sinh và buộc thôi học có thời hạn đối với 735 học sinh (bình quân 11,1 học sinh thì có 1 em bị kỷ luật thôi học có thời hạn vì đánh nhau). Việc giải quyết bạo lực học đường đòi hỏi phải can thiệp sớm ngay từ lứa tuổi mầm non - giai đoạn trẻ bắt đầu hình thành ý thức về thế giới, các giới hạn chuẩn mực và tính kỷ luật. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về hành vi hung tính ở Việt Nam trước đây phần lớn tập trung vào học sinh tiểu học, trung học cơ sở hoặc sinh viên; mảng nghiên cứu có hệ thống về hành vi hung tính ở trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) và các biện pháp can thiệp tâm lý - giáo dục tại nhà trường mầm non vẫn còn là một khoảng trống khoa học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở lý luận và chỉ rõ thực trạng hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm giảm thiểu hành vi hung tính một cách hiệu quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Khái quát hoá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hành vi, hành vi hung tính phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài luận án.
  2. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới hiện tượng tâm lý này.
  3. Làm rõ thực trạng biểu hiện và mức độ hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay; phân tích mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan tới hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn.
  4. Đề xuất biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm giảm thiểu hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn một cách hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay.
  • Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung vào biểu hiện và các nhân tố tác động đến hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong thời gian sinh hoạt và học tập tại trường; nghiên cứu biểu hiện ra bên ngoài qua 2 hình thức là hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ; tiếp cận dưới góc độ tâm lý học (không đi sâu vào khía cạnh sinh lý); đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục (không tổ chức thực nghiệm kiểm chứng biện pháp).
  • Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Khảo sát tại 2 trường mầm non công lập đại diện cho hai khu vực kinh tế - văn hóa - xã hội đặc trưng của thành phố Đà Nẵng:
    1. Trường Mầm non 20/10 (thuộc quận Hải Châu - địa bàn trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, giáo dục nội thành).
    2. Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 (thuộc huyện Hoà Vang - địa bàn ngoại thành, người dân chủ yếu làm nông nghiệp).
  • Phạm vi khách thể nghiên cứu: 207 trẻ mẫu giáo lớn ($N=207$), cùng đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp và cha mẹ của các trẻ được khảo sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về hành vi hung tính trên thế giới

  1. Nghiên cứu biểu hiện và sự biến đổi theo độ tuổi:

    • Shentoub và Soulairac (1961) chỉ ra các biểu hiện hung tính ở trẻ sơ sinh gồm tự làm đau mình hoặc gây hấn với người khác; các hành vi này giảm dần và biến mất quanh mốc 24 tháng tuổi; đến 4 tuổi có khoảng 42% trẻ lặp lại các hành vi giậm chân, ném đồ vật, đánh bạn.
    • Goodenough (1931) và Walters (1957) quan sát thấy từ 4 tuổi trở đi, biểu hiện hung tính bằng ngôn ngữ xuất hiện nhiều hơn biểu hiện vận động; biểu hiện vận động ở trẻ trai xuất hiện nhiều hơn trẻ gái và gia tăng trong giai đoạn 2 đến 4 tuổi.
    • Sand và cộng sự (1973) nghiên cứu trường diễn trên 99 trẻ từ 3 đến 9 tuổi, chỉ ra các cơn giận dữ bộc lộ nhiều trong 3 năm đầu và giảm dần đến 7 - 9 tuổi; hành vi phá hủy đột nhiên xuất hiện khoảng 4 tuổi và giảm sau đó; trong khi hành vi không vâng lời có tính bền vững nhất.
    • Smith và Green (1975) khảo sát 40 trẻ tiền tiểu học, nhận thấy cãi vã xuất hiện nhiều ở mốc 3 tuổi và giảm dần từ 3 đến 5 tuổi; các hành vi thiên về thể chất chiếm ưu thế lúc 2 - 3 tuổi và chuyển dần sang ngôn ngữ ở 4 - 5 tuổi.
    • Michel Born (1988, 2014) lập danh mục các thành tố gây hấn ở trẻ mẫu giáo và phân chia thành 5 nhóm yếu tố: (1) Mưu toan sử dụng sự chi phối, uy quyền, lãnh đạo; (2) Hung tính trực tiếp, biểu đạt sức mạnh thể chất nam tính; (3) Hung tính thể chất trực tiếp mang tính nguyên thủy (kéo tóc, cào, cấu, cắn...); (4) Hung tính bị động (thái độ đối lập, im lặng, từ chối thực hiện yêu cầu); (5) Hung tính không định hướng (gào thét, đóng sập cửa, lăn ra đất, nói lời thô tục).
  2. Nghiên cứu về sự khác biệt giới tính:

    • E. Maccoby và Carol Jacklin (1978) quan sát trẻ vui chơi tại Mỹ, Thụy Điển và Ethiopia, xác nhận bé trai có nhiều hành vi xô đẩy, đánh nhau hơn; bé gái bày tỏ sự hung tính kín đáo hơn, chủ yếu qua hình thức gián tiếp và ngôn ngữ.
    • Stattin và Magnusson (1989), Bogard (1990), Harris (1992, 1994) và Osterman cùng nhóm nghiên cứu (1998) khẳng định nam giới có tần suất gây hấn nhiều hơn và thường tấn công trực diện vào đối tượng gây ức chế, trong khi nữ giới có xu hướng gây hấn gián tiếp.
  3. Nghiên cứu diễn tiến và hậu quả phát triển lệch chuẩn:

    • Tremblay và cộng sự (1991, 1999) theo dõi trường diễn 916 và 1.037 trẻ trai tại Montreal từ 5 tuổi đến tuổi thanh thiếu niên, phát hiện 5,1% trẻ duy trì bạo lực ổn định gặp khó khăn nghiêm trọng trong thích ứng học đường (chỉ 31,9% học bình thường lúc 11 tuổi, 25,5% phải vào lớp/trường giáo dục đặc biệt); Nagin và Tremblay (1999) chỉ ra 6 quỹ đạo phạm pháp từ 11 đến 17 tuổi.
    • West và Farrington (1973), Farrington (1989, 1991) tại Đại học Cambridge theo dõi 411 trẻ trai từ 8 - 9 tuổi (sinh năm 1953 tại London) đến năm 32 tuổi; White, Moffitt, Earls, Robins, Silva (1990) theo dõi 1.000 đối tượng tại Dunedin (New Zealand) ghi nhận 5,4% trẻ kéo dài hành vi chống đối xã hội; Boët và Born (2001) khảo sát 350 trẻ tại Liege; Loeber và Farrington (1997) nghiên cứu sự suy giảm tính tăng động giữa 3 - 4 tuổi và 4 - 8 tuổi.
  4. Nghiên cứu nguyên nhân và yếu tố tác động:

    • Roger Barker, Tamara Dembo và Kurt Lewin (1941) chứng minh mức độ thất vọng tỷ lệ thuận với cường độ hành vi hung tính.
    • Friedrich và Stein (1973) nghiên cứu tác động của phương tiện truyền thông bạo lực đối với trẻ mẫu giáo, đặc biệt là nhóm trẻ trai.
    • Marry Haskett và Janet Kiner, cùng các nghiên cứu của Eron và Patterson chứng minh ảnh hưởng của việc bị bạo hành gia đình, thiếu sự quan tâm và các biện pháp trừng phạt bằng đòn roi đối với sự gia tăng hành vi hung tính. Mackenzie và cộng sự (2014) khảo sát 1.900 trẻ tại 20 thành phố ở Mỹ, chỉ ra việc cha mẹ đánh đòn lúc 5 tuổi khiến trẻ trở nên hung hăng hơn và đạt điểm kiểm tra từ vựng thấp hơn ở tuổi lên 9.
  5. Nghiên cứu xây dựng công cụ đo lường và can thiệp:

    • Các công cụ đo lường: Bảng kiểm CBCL của Thomas Achenbach (phiên bản CBCL/1½-5), Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV (1984), Tiêu chí Baker, Thang MOAS (Yudofsky và cs, 1988; Kay và cs, 1988), Trắc nghiệm tranh vẽ "Con vật không có thật" (Maia Zakharovna Dukarevich, 1990), Bảng kiểm DBC (Einfeld và Tonge, 1992), Thang CSBS (Ladd G. M, 1996), Thang CAS (Halperin và McKay, 2002 gồm CAS-P và CAS-T), Thang CBRS (C. Keith Conners, 2008), các trắc nghiệm phóng chiếu CAT, Patte Noire, Rorschach.
    • Các mô hình can thiệp: Chương trình Making Choices (Fraser và cs, 2001 - 31 bài học), Mô hình GREAT (Pamela Orpinas và Arthur M. Horne, 2013), Can thiệp gia đình (Patterson), Chương trình tâm lý giáo dục 4 buổi tại Nhật Bản (Mikayo Ando và cs, 2007), Trị liệu nghệ thuật Adlerian (Froeschle và Mark Riney), Liệu pháp Nhận thức - Hành vi 10 buổi (Paul, 2013).

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Phạm Mạnh Hà phân tích khái niệm hung tính dưới góc độ hành vi tấn công gây tổn hại và vi phạm chuẩn mực xã hội.
  • Trần Thu Hương và Đặng Hoàng Ngân (2012) phân tích 3 dạng cấu trúc tâm lý của trẻ hung tính: nhiễu tâm, loạn tâm và các trạng thái giới hạn.
  • Trần Thị Minh Đức (2010) công bố công trình nghiên cứu về hành vi gây hấn dưới góc độ tâm lý học xã hội, phân loại và đánh giá thực trạng trên học sinh, sinh viên.
  • Nguyễn Thị Minh Hằng (2012) nghiên cứu khái niệm, nguồn gốc, các yếu tố ảnh hưởng và quy trình 7 giai đoạn chẩn đoán, can thiệp hung tính ở trẻ.
  • Đinh Thị Kim Thoa (2000, 2002) tìm hiểu xung đột tâm lý của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi và đề xuất biện pháp đồng cảm để giải quyết xung đột.
  • Nguyễn Thị Trâm Anh (2012) nghiên cứu nguyên nhân, các mặt biểu hiện hành vi hung tính ở học sinh tiểu học và bước đầu ứng dụng trắc nghiệm tranh vẽ "Con vật không có thật".
  • Phan Thị Mai Hương (2012), Nguyễn Thị Mùi và Nguyễn Thị Nhân Ái (2012) tiến hành thích nghi thang đo Conner CBRS trên học sinh Việt Nam.
  • Bahr Weiss, Đặng Hoàng Minh và cộng sự thích nghi chương trình can thiệp sức khỏe tâm thần trường học RECAP ("Nối kết"); Knud S. Larsen và Lê Văn Hảo (2010), Nguyễn Văn Đồng (2012) bàn về các biện pháp tâm lý và kỹ năng xã hội nhằm giảm thiểu hành vi hung tính ở trẻ nhỏ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trong nước tập trung vào học sinh phổ thông hoặc tiếp cận ở mức độ lý luận chung. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: hệ thống hóa lý luận chuyên biệt về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi); xây dựng bộ công cụ thu thập dữ liệu đa nguồn (nhà nghiên cứu quan sát, giáo viên và phụ huynh đánh giá); khảo sát thực trạng biểu hiện qua hai kênh ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tại địa bàn đô thị và nông thôn thành phố Đà Nẵng; từ đó đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục can thiệp sớm phù hợp với môi trường mầm non công lập.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản

Luận án vận dụng các lý thuyết tâm lý học nền tảng để giải thích nguồn gốc và cơ chế vận hành của hành vi hung tính:

  • Thuyết tiến hóa và bản năng: Darwin giải thích tính gây hấn qua chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn; Konrad Lorenz (1960, 1966) xem hung tính là bản năng bẩm sinh nhằm đảm bảo sinh tồn; Sigmund Freud giải thích hung tính bắt nguồn từ sự đổi hướng năng lượng của "xung năng chết" (Thanatos) ra các đối tượng bên ngoài nhằm chống lại "xung năng sống" (Eros).
  • Thuyết động lực (Frustration - Aggression): Dollard và cộng sự (1939) khẳng định sự thất vọng (khi mục tiêu bị cản trở) tạo ra động cơ dẫn đến hành vi gây hấn; L. Berkowitz (1987) bổ sung rằng các trải nghiệm tiêu cực, khó chịu kích thích khuynh hướng hung hãn tùy thuộc vào kích thích của hoàn cảnh.
  • Thuyết hành vi và Thuyết nhận thức - hành vi: Thuyết hành vi cổ điển (Watson, Thorndike, Skinner) tiếp cận theo mô hình kích thích - phản ứng ($S \rightarrow R$); Thuyết nhận thức - hành vi hiện đại mở rộng thành mô hình $S \rightarrow M \rightarrow R$ (trong đó $M$ là quá trình nhận thức, cảm xúc, đánh giá chủ quan); Beck (1998) lý giải hành vi thô lỗ xuất phát từ nhận thức lệch lạc xem môi trường xung quanh là mối đe dọa.
  • Thuyết học tập xã hội và Mô hình gây hấn phổ quát: Albert Bandura (1973, 1986) khẳng định hành vi hung tính được hình thành do trẻ quan sát và bắt chước các mẫu hành vi sai lệch trong môi trường; Anderson và Bushman (2002) đưa ra Mô hình GAM (General Aggression Model) tích hợp các biến số sinh học, nhân cách và tình huống tác động lên trạng thái bên trong (nhận thức, cảm xúc, sinh lý).
Khái niệm Định nghĩa tổng hợp của tác giả luận án
Hành vi Cách xử sự của con người trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định; có hai đặc điểm cơ bản là tính có ý thức và tính biểu hiện.
Hung tính Một phẩm chất tâm lý trong cấu trúc nhân cách của con người, có mục đích gây tổn thương cho người khác hoặc cho bản thân.
Hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn Cách xử sự có ý thức của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoàn cảnh cụ thể ở trường mầm non, biểu hiện trực tiếp ra bên ngoài qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm gây tổn thương về thể chất hoặc tinh thần cho đối tượng khác.

Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế dựa trên 3 nguyên tắc phương pháp luận:

  1. Nguyên tắc hoạt động: Nghiên cứu hành vi hung tính thông qua các hoạt động chủ đạo và giao tiếp thực tế của trẻ mẫu giáo với bạn bè, cô giáo tại trường mầm non.
  2. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng: Xem xét hành vi hung tính như sự phản ánh hiện thực khách quan vào tâm lý trẻ thông qua chủ thể; đặt trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường gia đình, nhà trường và các quá trình nhận thức, tình cảm.
  3. Nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu hiện tượng tâm lý trong trạng thái vận động, biến đổi theo lứa tuổi và xác định các quy luật chuyển hóa để đề xuất giải pháp tác động.

Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu

Luận án kết hợp các phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Tổng quan các công trình lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước.
  • Phương pháp quan sát: Sử dụng bảng quan sát trực tiếp của nhà nghiên cứu đối với 207 trẻ mẫu giáo lớn trong các hoạt động học tập, vui chơi, sinh hoạt tại trường để ghi nhận các hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên mầm non và phụ huynh của 207 trẻ nhằm đánh giá đa chiều về tần suất và mức độ biểu hiện hành vi hung tính.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giáo viên và cha mẹ trẻ để tìm hiểu sâu hơn về hoàn cảnh gia đình, cách ứng xử sư phạm và nguyên nhân nảy sinh hành vi.
  • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia tâm lý học, giáo dục học mầm non về tiêu chí đánh giá và tính khả thi của các biện pháp can thiệp.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích chân dung tâm lý sâu của một số trẻ có biểu hiện hành vi hung tính đặc thù.
  • Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê để tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định sai khác giữa các nhóm (giới tính, địa bàn, thứ tự sinh, nghề nghiệp phụ huynh) và phân tích hồi quy xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu hành vi hung tính từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích có hệ thống các nhánh đề tài: nghiên cứu bản chất lý luận, nghiên cứu biểu hiện theo độ tuổi và giới tính, nghiên cứu hậu quả lệch chuẩn trường diễn, các bộ công cụ sàng lọc - chẩn đoán và các chương trình can thiệp tâm lý - giáo dục trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, các công trình chủ yếu tiếp cận ở học sinh lớn tuổi hơn, thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm và chẩn đoán đồng bộ trên trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), từ đó khẳng định tính cần thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn

Chương này tập trung phân tích các trường phái lý thuyết (thuyết bản năng, thuyết động lực hẫng hụt - gây hấn, thuyết nhận thức - hành vi, thuyết học tập xã hội, mô hình GAM). Tác giả phân tích cấu trúc tâm lý của hành vi hung tính, làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm "hung tính" (phẩm chất nhân cách) và "gây hấn" (hành vi cụ thể). Đồng thời, chương 2 xây dựng hệ thống các biểu hiện đặc thù của trẻ mẫu giáo lớn theo hai nhóm:

  • Hành vi ngôn ngữ: Đe dọa, la hét, chửi mắng, lăng mạ, gièm pha, mách lẻo, đòi hỏi độc quyền...
  • Hành vi phi ngôn ngữ: Đánh, đấm, đá, xô đẩy, cắn, cào cấu, kéo tóc, ném đồ vật, giậm chân, đóng sập cửa, thái độ chống đối thụ động... Chương này cũng phân loại các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (nhận thức, cảm xúc, tính khí) và yếu tố khách quan (phương pháp giáo dục của cha mẹ, quan hệ gia đình, phong cách ứng xử của giáo viên, môi trường trường mầm non và phương tiện truyền thông).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn; xác lập địa bàn nghiên cứu tại Trường Mầm non 20/10 (quận Hải Châu) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 (huyện Hoà Vang) với dung lượng mẫu $N=207$ trẻ mẫu giáo lớn. Tác giả thiết kế hệ thống tiêu chí, thang đánh giá mức độ biểu hiện hành vi hung tính, xây dựng bảng quan sát của nhà nghiên cứu, phiếu khảo sát giáo viên và phụ huynh. Đồng thời, chương này thuyết minh chi tiết các nguyên tắc phương pháp luận khoa học, các phương pháp thu thập thông tin định tính, định lượng và quy trình xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn trong các trường công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 4 trình bày và phân tích dữ liệu thực nghiệm thu được từ 207 trẻ mẫu giáo lớn. Một số kết quả nổi bật bao gồm:

Nhóm nội dung khảo sát Dữ liệu và phát hiện chính trong luận án
Mức độ biểu hiện chung Đa số trẻ mẫu giáo lớn hiếm khi hoặc thỉnh thoảng bộc lộ hành vi hung tính ở trường. Hành vi hung tính bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ và cử chỉ, điệu bộ thay vì các dạng hành vi ẩn tàng.
So sánh theo giới tính Có sự khác biệt rõ rệt giữa bé trai và bé gái: bé trai thể hiện hành vi hung tính phi ngôn ngữ (thể chất, vận động) cao hơn; bé gái bộc lộ xu hướng ngôn ngữ và gián tiếp nhiều hơn.
So sánh theo địa bàn Có sự khác biệt giữa trẻ theo học ở trường nội thành (Trường Mầm non 20/10, quận Hải Châu) và ngoại thành (Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2, huyện Hoà Vang) do điều kiện văn hóa - xã hội và đặc điểm môi trường gia đình chi phối.
Yếu tố gia đình Tần suất hành vi hung tính có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo thứ tự con (con một so với trẻ có anh chị em) và nghề nghiệp của mẹ.
Phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng Hành vi hung tính của trẻ chịu sự chi phối tổng hợp của nhóm yếu tố chủ quan (khả năng kiểm soát cảm xúc, nhận thức) và khách quan (cách đối xử, trừng phạt của cha mẹ và cách ứng xử sư phạm của giáo viên).

Chương 4 cũng phân tích các trường hợp nghiên cứu điển hình nhằm làm rõ động cơ, hoàn cảnh nảy sinh hành vi hung tính ở trẻ cá biệt, đánh giá cách xử lý của giáo viên khi trẻ có hành vi hung tính, và đề xuất 4 nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục can thiệp giảm thiểu hành vi hung tính cho trẻ mẫu giáo lớn trong nhà trường.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa các lý thuyết tâm lý học về hành vi hung tính nói chung và hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn nói riêng, làm rõ cấu trúc tâm lý, đặc điểm, dạng biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng.
  2. Bổ sung nguồn tư liệu lý luận chuyên sâu về hành vi hung tính của trẻ 5 - 6 tuổi cho phân ngành Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tại Việt Nam.
  3. Bước đầu chứng minh khả năng ứng dụng của bảng quan sát hành vi hung tính kết hợp điều tra đa nguồn trong nghiên cứu tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Nhận diện rõ thực trạng, phạm vi và mức độ biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn tại các trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua hai hình thức ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
  2. Chỉ ra các khác biệt có ý nghĩa thống kê về biểu hiện hành vi hung tính giữa các nhóm trẻ theo giới tính (trai/gái), khu vực sinh sống (nội thành/ngoại thành), cơ cấu gia đình (con một/có anh chị em) và nghề nghiệp của cha mẹ.
  3. Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan (đặc điểm tâm lý trẻ) và khách quan (phương pháp giáo dục của gia đình, ứng xử của giáo viên).
  4. Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục có cơ sở khoa học nhằm giúp trẻ kiểm soát cảm xúc, củng cố hành vi tích cực, cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo giáo viên mầm non và hướng dẫn phụ huynh.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cha mẹ: Nâng cao nhận thức về đặc điểm tâm lý lứa tuổi của trẻ có biểu hiện hung tính; loại bỏ việc sử dụng đòn roi và các biện pháp trừng phạt thể xác; xây dựng môi trường gia đình hòa thuận, yêu thương; hướng dẫn trẻ cách kiềm chế cảm xúc tức giận và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn.
  • Đối với nhà trường và giáo viên mầm non: Nâng cao nhận thức và kỹ năng xử lý tình huống sư phạm khi trẻ có biểu hiện hung tính; xây dựng trường học thân thiện, an toàn; bố trí không gian lớp học và đồ chơi hợp lý nhằm hạn chế xung đột tranh giành đồ chơi; lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, tinh thần hợp tác, chia sẻ và sự đồng cảm vào các hoạt động vui chơi, học tập hàng ngày.
  • Đối với công tác quản lý và đào tạo: Đưa nội dung nhận diện và can thiệp hành vi hung tính vào chương trình giảng dạy môn Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm; tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu thực tiễn được tiến hành trên phạm vi 2 trường mầm non công lập tại thành phố Đà Nẵng với quy mô 207 trẻ ($N=207$), chưa bao quát các trường ngoài công lập và các tỉnh/thành phố khác.
  • Đề tài chỉ giới hạn khảo sát biểu hiện hành vi hung tính của trẻ trong thời gian ở trường, chưa theo dõi liên tục hành vi của trẻ tại môi trường gia đình và cộng đồng.
  • Nghiên cứu chỉ tập trung vào khía cạnh tâm lý của biểu hiện hành vi bên ngoài (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ), chưa có điều kiện nghiên cứu sâu các chỉ số sinh lý - thần kinh liên quan.
  • Đề tài dừng lại ở việc đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục trên cơ sở lý luận và thực trạng, chưa tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và định lượng hiệu quả can thiệp trên diện rộng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều địa bàn, vùng miền và các loại hình cơ sở giáo dục mầm non khác nhau (công lập, tư thục, nhóm trẻ gia đình).
  • Thiết kế và triển khai các chương trình can thiệp thực nghiệm tâm lý - giáo dục cụ thể tại trường mầm non để đánh giá tính hiệu quả thực tế của từng biện pháp.
  • Mở ra các hướng nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế tâm lý bên trong, đặc điểm nhận thức xã hội và các yếu tố sinh lý thần kinh quy định hành vi hung tính ở lứa tuổi mầm non.

Giá trị tham khảo

  • Giảng viên và sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục Mầm non: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho môn học Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Tâm lý học phát triển, cũng như tham khảo phương pháp thiết kế công cụ quan sát hành vi ở trẻ nhỏ.
  • Giáo viên và cán bộ quản lý trường mầm non: Tham khảo hệ thống tiêu chí nhận diện sớm các biểu hiện hành vi hung tính qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, từ đó điều chỉnh phương pháp ứng xử sư phạm, quản lý lớp học và tổ chức môi trường hoạt động không bạo lực.
  • Cha mẹ học sinh: Tiếp cận các luận cứ khoa học về tác hại của việc trừng phạt thể xác, nắm bắt các nguyên tắc ứng xử và phương pháp giáo dục hành vi tích cực cho trẻ tại gia đình.
  • Các nhà nghiên cứu tâm lý học lâm sàng và học đường: Tham khảo khung tổng quan tài liệu phong phú, các thang đo quốc tế đã được tổng thuật và định hướng xây dựng các mô hình can thiệp sức khỏe tâm thần học đường.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực tiễn trên khách thể nào và tại những địa bàn cụ thể nào?

Luận án tiến hành khảo sát thực tiễn trên khách thể gồm 207 trẻ mẫu giáo lớn ($N=207$), cùng giáo viên đứng lớp và phụ huynh của các trẻ này. Địa bàn khảo sát là 2 trường mầm non công lập tại thành phố Đà Nẵng đại diện cho hai bối cảnh kinh tế - xã hội khác nhau: Trường Mầm non 20/10 (quận Hải Châu, đại diện cho khu vực đô thị trung tâm) và Trường Mẫu giáo Hoà Tiến 2 (huyện Hoà Vang, đại diện cho khu vực ngoại thành nông nghiệp).

2. Tác giả phân loại các biểu hiện hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn theo những hình thức nào?

Tác giả phân loại hành vi hung tính của trẻ thành 2 hình thức biểu hiện ra bên ngoài:

  • Hành vi ngôn ngữ: Bao gồm la hét, đe dọa, chửi mắng, lăng mạ, mách lẻo, nói xấu, ra lệnh, đòi hỏi đặc quyền, gièm pha điểm yếu của bạn.
  • Hành vi phi ngôn ngữ: Bao gồm các hành vi thể chất trực tiếp (đánh, đấm, đá, xô đẩy, cắn, cào, cấu, kéo tóc, ném đồ vật), hung tính không định hướng (gào thét, giậm chân, đóng sập cửa, lăn đùng ra đất) và hung tính bị động (im lặng, căng cứng, từ chối tuân thủ chỉ dẫn của cô giáo).

3. Những nguyên tắc phương pháp luận nào được sử dụng làm nền tảng cho nghiên cứu?

Nghiên cứu được xây dựng trên 3 nguyên tắc phương pháp luận:

  1. Nguyên tắc hoạt động: Nghiên cứu hành vi hung tính thông qua quá trình trẻ hoạt động và giao tiếp thực tế với người xung quanh.
  2. Nguyên tắc quyết định luận duy vật của các hiện tượng tâm lý: Xem xét hành vi hung tính là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông qua chủ thể, gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử và các mối quan hệ xã hội cụ thể.
  3. Nguyên tắc phát triển: Xem xét hiện tượng tâm lý trong quá trình nảy sinh, vận động, biến đổi để tìm ra quy luật và đề xuất hướng can thiệp phù hợp.

4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những khác biệt nào về biểu hiện hành vi hung tính giữa các nhóm trẻ?

Dữ liệu nghiên cứu chỉ ra:

  • Theo giới tính: Bé trai thể hiện hành vi hung tính qua hành động thể chất (phi ngôn ngữ) nhiều hơn; bé gái thể hiện kín đáo hơn và chủ yếu qua hành vi ngôn ngữ, gián tiếp.
  • Theo khu vực trường học: Có sự khác biệt về mức độ và dạng biểu hiện giữa trẻ ở trường nội thành (quận Hải Châu) và ngoại thành (huyện Hoà Vang).
  • Theo yếu tố gia đình: Có sự khác biệt về biểu hiện hành vi hung tính giữa trẻ là con một so với trẻ có anh chị em, cũng như giữa các nhóm trẻ có cha mẹ làm các ngành nghề khác nhau.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp tâm lý - giáo dục trọng tâm nào?

Luận án đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Nâng cao nhận thức cho cha mẹ và giáo viên về đặc điểm tâm lý của trẻ có hành vi hung tính và phương pháp ứng phó phù hợp (loại bỏ trừng phạt bạo lực).
  • Xây dựng môi trường gia đình tích cực, an toàn và hòa thuận.
  • Xây dựng trường mầm non thân thiện, an toàn, lành mạnh, tạo khoảng không gian chơi giảm thiểu tranh chấp đồ chơi.
  • Giáo dục kỹ năng quản lý cảm xúc, phát triển kỹ năng xã hội, sự thấu cảm và tinh thần hợp tác, chia sẻ cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thị Thuý Hằng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi hung tính và hành vi hung tính của trẻ mẫu giáo lớn dưới góc độ tâm lý học phát triển và tâm lý học xã hội. Dựa trên dữ liệu khảo sát thực nghiệm trên 207 trẻ tại thành phố Đà Nẵng, luận án đã làm rõ thực trạng mức độ, các dạng biểu hiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ cũng như phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến hành vi này. Hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục can thiệp sớm được đề xuất mang tính đồng bộ giữa gia đình và nhà trường mầm non, góp phần định hướng phòng ngừa bạo lực học đường ngay từ lứa tuổi mầm non. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục mầm non, giáo viên và các bậc cha mẹ trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em.