Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc bản thân của cha mẹ với con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Chương 2: Cơ sở lý luận về điều chỉnh cảm xúc bản th n của cha mẹ với con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Chương 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu điều chỉnh cảm xúc bản th n của cha mẹ với con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 8 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU CHỈNH CẢM XÚC BẢN THÂN CỦA CHA MẸ VỚI CON LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Các nghiên cứu về cảm xúc 1. Nghiên cứu cảm xúc của cá nhân trên cơ sở sinh lý thần kinh Theo I. Paplov, cơ sở sinh lý thần kinh của cảm xúc là quá trình hƣng phấn nảy sinh theo phƣơng thức phản xạ của vỏ não, sau đ sẽ đƣợc lan xuống các trung hu dƣới vỏ và xuống hệ thần kinh thực vật, ở đ sẽ quyết định nh ng biến đổi tƣơng ứng trong cơ thể và gây nên nh ng biểu hiện tƣơng ứng ở bên ngoài cảm xúc.
Nhƣ vậy, sự thể hiện các loại cảm xúc của con ngƣời là sự phối hợp gi a hoạt động của vỏ não với các trung khu thần inh dƣới vỏ, khi sự kiểm soát của vỏ não với bộ phận dƣới vỏ bị suy giảm thì con ngƣời dễ xúc động và khó kiểm soát đƣợc cảm xúc của mình (dẫn theo [20]). Travis Bradberry & Jean Greaver [5] đã chỉ ra hệ viền (hệ Limbic) - là nơi nh ng cảm xúc đƣợc tạo ra. Đ là nh ng hành vi xúc cảm, tình cảm đƣợc thể hiện qua các loại cảm xúc của con ngƣời, n đƣợc thể hiện qua các phản ứng của cơ thể nhƣ: tái mặt, run rẩy hay ngƣời đờ ra, đầu óc hoảng loạn, miệng thở hổn hển, mồ hôi vã ra…. Còn Daniel Goleman cho rằng: hi chúng ta suy nghĩ, cảm nhận, tƣởng tƣợng và mơ ƣớc.
Nh ng thông tin thần kinh - sinh học cho phép chúng ta hiểu rõ hơn trung t m não bộ có chức năng điều khiển cảm xúc gây ra sự giận d hay làm cho chúng ta h c, ích động, hiếu chiến hay làm cho chúng ta thánh thiện, hƣớng chúng ta trở lên tốt hơn hay xấu đi nhƣ thế nào. Tác giả còn cho rằng hạnh nh n là “chuyên gia” về xúc cảm, hạnh nhân không chỉ liên quan đến cảm xúc nó còn chỉ huy các cảm xúc, nh ng con vật bị cắt đi hạnh nhân sẽ mất đi các cảm xúc nhƣ sợ hãi, cuồng nộ hay nhu cầu đấu tranh, hợp tác. Nƣớc mắt của con ngƣời là biểu thị một cảm xúc nào đ đƣợc hạnh nhân và hồi não điều khiển. Không có hạnh nhân sẽ hông c nƣớc mắt hay không có nỗi buồn của con ngƣời [21, tr.
Ngoài ra Travis Bradberry & Jean Greaver còn cho rằng: tất cả nh ng gì chúng ta nhìn, ngửi, nghe, nếm, sờ m … đều đƣợc truyền đi hắp cơ thể bằng tín hiệu điện, các tín hiệu này truyền từ tế bào này sang tế bào hác cho đến 9 luan an điểm tận cùng là não bộ nhƣng bắt buộc phải qua thuỳ trán (nằm phía sau trán), trƣớc hi đến một nơi mà nh ng suy nghĩ logic và lý luận diễn ra thì chúng phải đi qua hệ viền. Hành trình này đảm bảo rằng chúng ta có thể trải nghiệm các sự việc bằng cảm xúc trƣớc khi lý trí có thể vào cuộc [5]. Trái ngƣợc với Travis Bradberry & Jean Greaver [5], W.James & Levesque cho rằng: nguyên nhân gây ra cảm xúc là nh ng biến đổi ở các nội quan của con ngƣời chứ không phải ở hệ thần inh trung ƣơng và cảm xúc là sự cảm thụ của cơ thể đối với nh ng biến đổi của các nội quan [84]. Bar-On [70] đã làm thí nghiệm bằng cách tiêm nh ng hoá chất đƣợc chỉ định vào máu.
Kết quả hoạt động của hệ thống tim mạch bị biến đổi nhƣng hông xuất hiện nh ng cảm xúc tƣơng ứng.E [83] đề cập đến vai trò của hạnh nhân trong thời thơ ấu. Tác giả cho rằng, hạnh nhân sẽ phát huy hiệu quả khi gặp tình huống nguy hiểm trong khi vỏ não chƣa ịp hiểu cái gì xảy ra, thậm chí chúng ta bị cảm xúc chiếm lĩnh thì hạnh nhân sẽ gây ra phản ứng cuồng nộ trƣớc khi vỏ não mới ph n tích đƣợc nh ng gì đang diễn ra.Luira [35], Gianotti [92] lại cho rằng vỏ não trán trƣớc c ý nghĩa căn bản đối với sự tự chủ và chế ngự cảm xúc: thuỳ trán trƣớc bên phải là nơi trú ngụ nh ng cảm xúc tiêu cực nhƣ sợ hãi, gây hấn, còn thuỳ trán trái thì kìm gi cảm xúc. Vì thế nh ng bệnh nhân bị tổn thƣơng thuỳ não trƣớc bên trái thƣờng cảm thấy lo âu và sợ hãi còn tổn thƣơng thuỳ phải lại “vui vẻ vô cớ” mà hông c tác nh n. Nhƣ vậy, mỗi cảm xúc của chúng ta đ ng một vai trò riêng biệt nhƣ nh ng dấu ấn đặc trƣng, nh ng điều diễn ra trong thân thể và bộ não cho thấy: mỗi cảm xúc sẽ chuẩn bị cho thân thể một kiểu phản ứng khác nhau, cảm xúc giúp chúng ta đƣơng đầu với nh ng cảnh ngộ và nh ng nhiệm vụ mà đôi hi trí tuệ không thể quyết định nổi đ chính là nh ng vấn đề thuộc về cảm xúc.
Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động Khi nghiên cứu về trí tuệ, E.Thorndike, cho rằng “trí tuệ xã hội” là năng lực hiểu ngƣời hác và hành động khôn ngoan trong nh ng quan hệ con ngƣời, là một phần IQ của mỗi cá nh n.Thorndi e đã đề nghị nh ng phƣơng pháp đánh giá trí tuệ xã hội trong phòng thí nghiệm nhƣng lúc đ quá trình đánh giá đơn giản 10 luan an và mới chỉ cố gắng làm cho sự phù hợp gi a nh ng bức tranh có nh ng khuôn mặt biểu lộ nh ng cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng với nh ng cảm xúc đ (dẫn theo [20]). Nhiều nhà nghiên cứu đã hẳng định, trí tuệ xã hội, mà một trong nh ng nội dung cốt lõi cuả n là điều chỉnh cảm xúc bản thân là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong công việc. Nh ng ngƣời có chỉ số thông minh (IQ) cao làm việc tốt hơn 25% so với nh ng ngƣời có chỉ số thông minh trung bình, trong hi đ nh ng ngƣời có chỉ số thông minh trung bình lại hoàn thành công việc tốt hơn nh ng ngƣời có chỉ số thông minh cao tới 75%. nếu có trí tuệ cảm xúc (EQ) cao [5,tr.
Nhƣ vậy, nh ng cảm xúc của cá nh n đƣợc gắn với năng lực hiểu và hành động khôn ngoan trong mối quan hệ với ngƣời khác và nó là hiện tƣợng tâm lý của cá nhân.Skinner chỉ ra rằng: các hành vi cảm xúc của con ngƣời đƣợc quyết định bởi các tác nhân củng cố, trong đ c cả tác nhân tích cực, tiêu cực hay sự trừng phạt [111]. Freud khi nghiên cứu về cảm xúc vô thức, động cơ hành động, gắn cảm xúc với các yếu tố cơ thể và cần đƣợc thỏa mãn [13]; [14]; [15]. Các nghiên cứu của Carrol E. đã hƣớng đến nh ng chức năng của cảm xúc đối với hành vi và nhận thức của cá nh n, trong đ nhấn mạnh đến động cơ hành động và chức năng điều chỉnh sự tƣơng tác xã hội.
Lúc đ , cảm xúc đã đƣợc coi nhƣ chất xúc tác để kết dính xã hội hoặc là tác nh n để con ngƣời xa lánh hay từ bỏ xã hội. Các nghiên cứu của Thomas Hatch và Howardn Gardner [99] đã chứng minh rằng: không có hình thức duy nhất của trí tuệ quyết định thành công trong cuộc đời, mà đúng hơn c cả một trang trí tuệ rộng lớn mà ngƣời ta có thể xếp vào bảy loại trí thông minh gồm: sự hoạt bát về ngôn ng nói và logic toán, trí thông minh làm chủ không gian, trí thông minh vận động, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh về tƣơng tác và một trí thông minh n a đƣợc các tác giả bổ sung, đ là nh ng tài năng hiểu biết gi a các cá nh n và năng lực “đi sâu vào tâm lý” hay đơn giản hơn, ở sự hài lòng nội tâm nhờ việc sống hoà hợp với tình cảm sâu sắc của mình mà hiện nay chúng ta gọi nó là trí tuệ cảm xúc “EQ”. Caruso, Peter Salovey [37] cũng chỉ ra rằng: ở mỗi ngƣời năng lực cảm xúc có sự khác nhau. Chẳng hạn, một số ngƣời có thể chế ngự lo lắng của mình nhƣng lại không biết làm dịu nh ng lo lắng của một 11 luan an ngƣời hác…và nh ng năng lực này là do nh ng thói quen và phản ứng mà ngƣời đ c thể thay đổi đƣợc.
Tiếp theo, việc nghiên cứu cảm xúc với tƣ cách là một động lực thúc đẩy tâm lý cá nhân đƣợc đề cập trong hầu hết công trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển. Từ các thực nghiệm của B. Izard [29], Allan và Barbara Pease [1] Daniel Goleman [19]; [20], [21] Virender Kapoor [31], Strongman [51]; [113]… Cụ thể, Carrol E. Izard [29] đã trình bày một cách hệ thống nh ng vấn đề cơ bản về cảm xúc, các loại cảm xúc của ngƣời, biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hƣởng của cảm xúc đến nhận thức, ý thức và hành vi của cá nhân v.
Cùng quan điểm đ Travis Bradberry & Jean Greaver [5] cũng chia các loại cảm xúc mà đƣợc bắt nguồn từ năm cảm xúc chính yếu: vui, buồn, giận d , sợ hãi và xấu hổ. Các mức độ của cảm xúc của năm loại cảm xúc trên. Hai tác giả còn cho rằng: trong guồng quay của cuộc sống thƣờng nhật – dù là đang làm việc, ăn uống, tập thể thao, thƣ giãn hoặc thậm chí trong giấc ngủ - chúng ta đều phụ thuộc vào một dòng chảy liên tục của cảm xúc và nh ng cảm xúc đ là do não bộ chi phối và cảm xúc là một hiện tƣợng tâm lý của cá nhân, nh ng biểu hiện của nó ảnh hƣởng trực tiếp đến tâm lý của cá nhân, nó đƣợc nhìn nhận là một động lực thúc đẩy tâm lý cá nh n hành động. Vì vậy, vấn đề là làm thế nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố nh ng cảm xúc của cá nhân là yếu tố cần thiết của con ngƣời và cần có nh ng ích thích tác động nào đ để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động của cá nhân.