mở đầu, diễn biến, kết thúc) và sản phẩm tạo ra mang tính mới mẻ, độc đáo. Bản chất của quá trình sáng tạo là quá trình con ngƣời xây dựng, kiểm nghiệm giả thuyết để cho ra sản phẩm. +Dƣới góc độ nhân cách: Theo nhà tâm lý học ngƣời Đức Pippig: “Tính sáng tạo là thuộc về nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con ngƣời đứng trƣớc hoàn cảnh có vấn đề. Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý, mà nhờ đó con ngƣời trên cơ sở kinh nghiệm của mình, bằng tƣ duy độc lập tự tạo ra những ý tƣởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội.” Nhƣ vậy để có sản phẩm sáng tạo cần có sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của nhân cách bao gồm phẩm chất và năng lực.
Nhờ có phẩm chất và năng lực, các giải pháp mới tối lợi để giải quyết các vấn đề đƣợc xuất hiện, giúp cá nhân tạo ra sản phẩm sáng tạo. Urban: “Tính sáng tạo của con ngƣời là thuộc tính nhân cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo, tối lợi, gây ngạc nhiên cho bản thân và cũng mới mẻ gây ngạc nhiên cho ngƣời khác.” + Dƣới góc độ sản phẩm: Theo tác giả Ghiselin: “Sản phẩm sáng tạo là cấu dạng mới nhất của thế giới kinh nghiệm, đƣợc tạo nên bằng sự cấu trúc lại của những kinh nghiệm đã có trƣớc đó, thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ thể sáng tạo về thế giới và bản thân cũng nhƣ quan hệ giữa anh ta và thế giới ấy.” Một trong những tiêu chí để đánh giá một cá nhân sáng tạo là sản phẩm của hoạt động cá nhân. Một sản phẩm đƣợc coi là sáng tạo khi nó mới, độc đáo và có giá trị. Hạn chế của tác giả này là chỉ bàn đến sản phẩm sáng tạo ở dạng vật chất.
Khắc phục hạn chế đó, tác giả Guilford đã khẳng định: “Sản phẩm sáng tạo bao gồm sản phẩm sáng tạo cụ thể có thể cảm nhận đƣợc và sản phẩm tồn tại dƣới dạng tƣ duy - ý tƣởng. Nhƣ vậy, mỗi cách tiếp cận vấn đề sáng tạo đều có khái niệm khác nhau. Tuy nhiên trong tâm lý học thì định nghĩa sáng tạo dƣới góc độ nhân cách đƣợc sử dụng nhiều hơn cả, bởi lẽ nó phản ánh đƣợc bản chất của sự sáng tạo, trong đó sáng tạo đƣợc tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau và đƣợc khẳng định nhƣ một tiềm năng vốn tồn tại ở mọi ngƣời, mọi lứa tuổi. Vậy sáng tạo là những giá trị về vật chất và tinh thần do con người tạo ra, dựa trên quy luật khách quan của thực tiễn nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người.
Nó đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất. 7 Luan van b) Các tiêu chí và cấp độ của sáng tạo - Dựa trên giá trị sản phẩm + Cấp độ 1: Những sản phẩm có giá trị một cách khách quan: Sản phẩm đƣợc tạo ra mang giá trị độc đáo là có ý nghĩa xã hội, thực sự khách quan nghĩa là những sản phẩm này có thể là những phát minh, sáng kiến, khuynh hƣớng hoặc là những sản phẩm, ý tƣởng mà trƣớc kia chƣa từng có. + Cấp độ 2: Những sản phẩm có giá trị chủ quan: Đặc điểm nổi bật của cấp độ này là những sản phẩm tạo ra chuẩn có giá trị xã hội hay ý nghĩa xã hội. Các sản phẩm sáng tạo có đƣợc của học sinh đều luôn có giá trị với chính bản thân chúng.
Vì vậy, nếu những sản phẩm sáng tạo đó đƣợc đánh giá một cách đúng mức thì sẽ có tác dụng khích lệ, động viên, kích thích trẻ tạo ra cái mới. Nói cách khác, hai cấp độ sáng tạo có thể liên hệ chặt chẽ với nhau và sự phân chia cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối. - Dựa trên tính chất của sản phẩm sáng tạo Có thể chia sáng tạo thành 5 cấp độ, bao gồm: + Sáng tạo biểu hiện: Đây là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi tính độc đáo hay kĩ năng quan trọng nào. Đặc trƣng là tính bộc phát “hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt.
Theo Irving Taylor, đây là bậc quan trọng nhất của sáng tạo, vì nếu không có nó thì sẽ không có sáng tạo nào cao hơn. + Sáng tạo chế tạo: Là bậc cao hơn của sáng tạo biểu hiện, đòi hỏi có kĩ năng nhất định để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân. Tính tự do, hứng khởi bộc phát nhƣờng chỗ cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của ngƣời sáng tạo. + Sáng tạo phát kiến: Là sự phát hiện, tìm ra do “nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trƣớc đây.
Đây là cấp độ chế biến lại các thông tin cũ, sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến. + Sáng tạo cải tiến: Là bậc sáng tạo cao, thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học, kĩ thuât, nghệ thuật, đòi hỏi một sự thông tuệ nhất định. Từ đó xây dựng đƣợc các ý tƣởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội, văn hóa, khoa học – kĩ thuật. + Sáng tạo trí tuệ đặc biệt: Đây là bậc sáng tạo cao nhất, là những ý tƣởng làm nảy sinh ngành mới, nghề mới, trƣờng phát mới,vƣợt qua cả trí tuệ đƣơng thời.
Đại diện cho những ngƣời ở cấp bậc này đó là Einstein trong Vật lí học, Picasso trong lĩnh vực Hội họa và nhiều sản phẩm sáng tạo khác mang một giá trị trí tuệ đặc biệt của một cá nhân hay nhóm có đẳng cấp cao trên phƣơng diện ý nghĩa xã hội. 8 Luan van Nhƣ vậy, mặc dù nhìn từ góc độ truyền thống văn hóa xã hội, tính sáng tạo ở cấp độ cá nhân là tiền đề của tính sáng tạo xã hội, cấp độ sáng tạo mà cái mới do nó tạo ra dẫn đến sự phát triển của một nền văn hóa. Trong quan niệm này thì giáo dục tính sáng tạo ở cấp độ cá nhân là con đƣờng, điều kiện tất yếu để dẫn đến tính sáng tạo cấp độ xã hội. Tiềm năng sáng tạo có trong mỗi cá nhân và đƣợc huy động trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Đƣợc gọi là sự sáng tạo cá nhân khi cái mới nằm trong thế giới kinh nghiệm của một ngƣời và sáng tạo xã hội khi cái mới liên quan đến một nền văn hóa. Sáng tạo cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền đề của sáng tạo xã hội, là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của xã hội, của một nền văn hóa.2 Năng lực tư duy sáng tạo a) Khái niệm Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con ngƣời”. Còn theo tác giả Hồ Bá Thâm có quan niệm ngắn gọn hơn: “Năng lực sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới về chất hợp quy luật”. Theo Tôn Thân quan niệm: “Tƣ duy sáng tạo là một dạng tƣ duy độc lập tạo ra ý tƣởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao”.
Nhà tâm lí học ngƣời Đức Mehlhow cho rằng: “Tƣ duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân, đồng thời là mục tiêu cơ bản của giáo dục”. Tƣ duy sáng tạo theo ông đƣợc đặc trƣng bởi mức độ cao của chất lƣợng, hoạt động trí tuệ nhƣ tính mềm dẻo, tính chính xác, tính nhạy cảm, tính kế hoạch. DanTon cho rằng: “Tƣ duy sáng tạo đó là những năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối quan hệ, là một chức năng của kiến thức, trí tƣởng tƣợng và sự đánh giá, là một quá trình, một cách dạy và học bao gồm những chuỗi phiêu lƣu, chứa đựng những điều nhƣ: sự khám phá, sự phát sinh, sự đổi mới, trí tƣởng tƣợng, sự thí nghiệm, sự thám hiểm”. Quá trình sáng tạo của con ngƣời thƣờng đƣợc bắt đầu từ một ý tƣởng mới, V.
Cruxtexki đã thể hiện những mối quan hệ giữa tƣ duy sáng tạo, tƣ duy tích cực và tƣ duy độc lập dƣới các vòng tròn đồng tâm nhƣ sau: 9 Luan van Có thể hiểu rằng, tƣ duy sáng tạo là sự kết hợp cao nhất, hoàn thiện nhất của tƣ duy độc lập và tƣ duy tích cực. Tạo ra những cái mới có tính giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, chất lƣợng. Tƣ duy sáng tạo là tƣ duy độc lập vì nó không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có. Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích, vừa trong việc tìm giải pháp.
Mỗi sản phẩm của tƣ duy sáng tạo đều mang đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó. b) Các thành phần của tư duy sáng tạo Qua quá trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học…thì tƣ duy sáng tạo có 5 thành phần nhƣ sau: - Tính mềm dẻo: Đây là khả năng di chuyển dễ dàng từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, từ góc độ khái niệm này sang góc độ khái niệm khác; vận dụng linh hoạt các hoạt động tổng hợp, phân tích, khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, cụ thể hóa và các phƣơng pháp suy luận nhƣ quy nạp, suy diễn, tƣơng tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời suy nghĩ khi gặp trở ngại. Năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ khái niệm này sang góc độ khái niệm khác; định nghĩa lại sự vật, hiện tƣợng, gạt bỏ sơ đồ tƣ duy có sẵn và xây dựng phƣơng pháp tƣ duy mới, tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của sự vật, điều phán đoán. Không rập khuôn, không áp dụng máy móc các kiến thức, kĩ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hƣởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những phƣơng pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trƣớc.
Đó là nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, thấy đƣợc chức năng mới của đối tƣợng quen biết. - Tính nhuần nhuyễn: 10 Luan van Đƣợc thể hiện ở năng lực có thể tạo ra một cách nhanh chóng sự tập hợp các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đƣa ra giả thuyết mới. Đƣợc đặc trƣng bởi khả năng tạo ra một số lƣợng nhất định các ý tƣởng.