Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một bộ phận quan trọng trong giáo dục học mầm non, đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo được xem là một trong những nhiệm vụ cơ bản trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Cùng với sự hình thành và phát triển của khoa học giáo dục mầm non, ngày càng có nhiều các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau: tâm lý học, xã hội học, giáo dục học….
quan tâm và tham gia nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Với những quan điểm khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu ở các lứa tuổi khác nhau và các góc độ khác nhau. Theo Nguyễn Đức Dân dẫn trong tác phẩm “Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnh vực – khái niệm”, trường phái ngôn ngữ học miêu tả Mỹ bắt đầu từ L.Bloomfield với công trình nổi tiếng “Language” – 1933 được xây dựng trên thuyết hành vi trong tâm lý học của J. Quan điểm ngôn ngữ học của ông cho rằng “mọi hành vi ngôn ngữ của con người đều tùy thuộc vào những chuỗi nguyên nhân và hậu quả có kích thích có phản ứng”, ngôn ngữ của trẻ được “hình thành thông qua sự bắt chước” [35].
Nhà giáo dục học người Nga - E.Tikhêva (1867 – 1943) đã mất rất nhiều năm cho việc nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo một cách có hệ thống. Tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em (dưới tuổi đến trường phổ thông)” là một thành tựu to lớn cho nền GDMN nói chung và cho sự nghiệp phát triển NN của trẻ MG nói riêng. Bà cho rằng để mở rộng vốn từ cho trẻ không có con đường nào khác ngoài con đường kinh nghiệm và quan sát bởi lẽ ứng với một từ là một khái niệm, một biểu tượng. Do đó, các phương pháp để giúp trẻ phát triển NN Luan van 6 dễ dàng nhất là phương pháp trực quan bao gồm tham quan, quan sát vật thật, tranh ảnh, đọc thơ, kể chuyện v.
và biện pháp sử dụng trò chơi. Thông qua việc làm quen với vật thể và các đặc tính của nó rồi nhân đó cho các em nhớ những từ chỉ vật thể và đặc tính của nó [30].Tikhêva, việc mở rộng khối lượng từ cho các em trước hết là từ - biểu tượng chứ không phải là từ - âm thanh. Vì vậy càng cung cấp cho trẻ nhiều biểu tượng bao nhiêu thì NN của trẻ càng phát triển bấy nhiêu. Tiếp tục kế thừa và phát triển công trình của bà, các nhà giáo dục trên thế giới bắt đầu quan tâm, nghiên cứu về các đặc điểm về vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp theo từng lứa tuổi và bước đầu xây dựng những phương pháp, biện pháp cho từng nhiệm vụ trong quá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ như A.
Xôkhina với tác phẩm “Phát triển lời nói cho trẻ mẫu giáo”, M. Kônxôva với “Dạy trẻ nói trước tuổi học”. Mối quan hệ giữa đặc điểm phát triển ngôn ngữ và đặc điểm giao tiếp của trẻ mầm non được tác giả E. Smirnôva đề cập đến trong bài viết “Phát trển lời nói cho trẻ - Nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên”.
Tác giả cho rằng trẻ lĩnh hội các chuẩn mực ngôn ngữ, tiếp thu và mở rộng vốn từ thông qua việc giao tiếp với người lớn. Tuy nhiên, những từ ngữ trẻ nghe thấy có thể trở nên thụ động và không bao giờ được sử dụng. Chính việc giao tiếp với bạn giúp cho vốn từ thụ động của trẻ trở nên tích cực thông qua những tình huống cụ thể nhất định. Theo Chomsky (1965) và một số tác giả khác cho rằng trẻ có khả năng lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh.
Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ phát triển một cách hiệu quả trong suốt những năm đầu đời của trẻ với tốc độ khá nhanh, vốn từ vựng mà trẻ tiếp nhận gia tăng từ 5 – 10 từ đến khoảng 24 tháng tuổi, mặc dù ngay tại thời điểm ấy trẻ chỉ mới nói được vài từ có nghĩa. Nhiều vấn đề khác liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi đã được đề cập trong quyển “Trẻ em và thế giới của chúng ta” do Đỗ Thanh Hương dịch của tác giả Kak – Hai – Nơdich. Phân tích về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget cho rằng ngôn ngữ và tư duy có sự tác động qua lại lẫn nhau, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đi từ lời nói có tính cá nhân đến lời nói có tính xã hội [4]. Theo Piaget, những thao tác vận động của trẻ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển Luan van 7 của tư duy và ngôn ngữ.
Có thể thấy, ông đề cao vai trò của các hành động thực tiễn đối với sự phát triển tư duy của trẻ. Tuy nhiên, đóng góp to lớn của ông trong việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ đó là J. Piaget cho ngôn ngữ của trẻ ở thời kì đầu có tính “duy kỉ”, là thứ ngôn ngữ mang tính cá nhân và dần dần mới được “xã hội hóa”. Đồng quan điểm với J.
Piaget, nghiên cứu về việc hình thành và phát triển lời nói, nhà tâm lí học người Nga L. Nhưng trong phát sinh lời nói cá thể, L.Vygotski cho rằng ngôn ngữ của trẻ ngay từ đầu đã mang tính “xã hội”. Ông đề cao vai trò của ngôn ngữ trong quá trình phát triển tư duy của trẻ. Thuyết “Vùng phát triển gần nhất”, giáo dục đảm bảo việc đi trước và đón đầu sự phát triển của trẻ là một trong những đóng góp quan trọng cho ngành giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ cho trẻ MN nói riêng.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về vấn đề phát triển NN đã được quan tâm từ rất lâu. Điển hình là những nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Huy Cẩn, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Hà Nguyễn Kim Giang, Lã Thị Bắc Lý, Lê Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thu Thủy, Ngô Thị Thái Sơn.; trong những năm gần đây đã xuất hiện những luận án tiến sĩ về lĩnh vực nghiên cứu này của các tác giả Lưu Thị Lan, Võ Phan Thu Hương, Hồ Lam Hồng, Trần Nguyễn Nguyên Hân. Tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của Nguyễn Xuân Khoa đề cập đến một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là những nội dung PTVT cho trẻ từ 3 – 6 tuổi. Theo ông, việc mở rộng vốn từ cho trẻ cần phải có một hệ thống các phương pháp, biện pháp để phát triển từ ngữ cho trẻ MG ở trường mầm non.
Dựa trên những thành tựu nghiên cứu trước đây và cập nhật những kết quả nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này, tác giả Đinh Hồng Thái đã cho thấy vai trò của việc phát triển NN đối với sự phát triển của trẻ trong giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em”. Trong nội dung hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ Luan van 8 mẫu giáo, tác giả yêu cầu cần nắm vững những đặc điểm, nhiệm vụ, mội dung và những biện pháp, hình thức phát triển vốn từ cho trẻ MG ở từng độ tuổi. Trong bài viết “Mở rộng vốn từ và dạy học nghĩa từ cho học sinh tiểu học” của tác giả Vũ Thị Ân trên tạp chí khoa học trường ĐHSP TP. HCM bàn về việc mở rộng vốn từ trong sự tích hợp với việc dạy học nghĩa từ, tác giả cho rằng “quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ nói chung.
là một quá trình liên tục, từ đơn giản đến phức tạp”, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và “sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy luật ấy”. Vì vậy, tác giả nhận định việc “vận dụng linh hoạt các cách thức cụ thể với thao tác đơn giản trong mở rộng vốn từ và dạy nghĩa của từ là những vấn đề mà giáo viên cần quan tâm một cách thường xuyên, liên tục và tích hợp trong. dạy học các môn học khác nói chung” [1]. TPVH được nhiều tác giả cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục trẻ.
Với những tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của Nguyễn Thu Thủy, giáo trình “Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học” của Ngô Thị Thái Sơn, giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học” của Lã Thị Bắc Lý và Lê Thị Ánh Tuyết .các tác giả đã cho thấy văn học có vai trò quan trọng trong việc góp phần mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, đồng thời góp phần phát triển năng lực trí tuệ. Có thể nói rằng, quá trình lĩnh hội và tiếp nhận TPVH cũng giúp trẻ phát triển khả năng nghe, nói và phát triển vốn từ cả về số lượng và chất lượng [24]. Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong “Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” đã khái quát những nét đặc trưng trong việc tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo, những nguyên tắc, hình thức, phương pháp cơ bản tổ chức hoạt động làm quen với TPVH, trong đó có đề cập đến việc tổ chức hoạt động dạy trẻ học ca dao, tục ngữ, đồng dao. Có thể nhận thấy rằng, phát triển NN cho trẻ mẫu giáo là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết ở trường mầm non hiện nay thông qua những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học từ trước đến nay.
Đồng thời, các công trình đóng góp đã khái quát những đặc điểm, nguyên tắc, sử dụng đa dạng các phương tiện và vận dụng hệ Luan van 9 thống những phương pháp, biện pháp hiệu quả trong việc giáo dục NN nói chung và PTVT cho trẻ mẫu giáo nói riêng. Lịch sử nghiên cứu về thể loại đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Có thể nói Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những tác giả nghiên cứu và sưu tầm đồng dao sớm nhất ngay từ năm 1943, ông đã đưa ra định nghĩa, bản chất đặc trưng của thể loại đồng dao, trong bài viết Trẻ con hát trẻ con chơi, ông không dùng thuật ngữ “đồng dao” mà gọi là “Trẻ con hát trẻ con chơi”. Năm 1968, Dương Quảng Hàm cũng đã bàn về thể loại đồng dao trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” và đồng nhất với Nguyễn Văn Vĩnh “đồng dao là các bài hát trẻ con”.