Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Sử dụng phần mềm Violet thiết kế TCHT trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 13 Luan van NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề TCHT là phương pháp và là hình thức học tập mang lại nhiều hiệu quả trong việc thu hút sự hứng thú, tập trung học tập của HS nên được sử dụng rất phổ biến ở nhà trường, đặc biệt là trường TH. Có rất nhiều tài liệu bàn về vấn dề này.
Một số cuốn sách về TCHT ở TH như: - Trò chơi phát triển trí tuệ - Bộ giáo dục và Đào tạo - Nxb Giáo dục (1993), - Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh - Hà Nhật Thăng (chủ biên) – Nxb Giáo dục - Học mà vui vui mà học - Vũ Xuân Đỉnh – Nxb Giáo dục (2006) - Trò chơi học tập Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 - Bùi Phương Nga (chủ biên) – Nxb Giáo dục (2009) - Dự án phát triển giáo viên Tiểu học- NXB Giáo dục Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề này như: - Sử dụng hình thức trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1,2,3 – Lê Thị Thắm – Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, 2011 - Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 ở Tiểu học – Trần Thị Mận – Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, 2013 - Khảo sát một số trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học – Nguyễn Phúc Khánh Châu – Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, 2012 Hầu hết các đề tài đều thiết kế TCHT bằng MS Powerpoint. Đề tài này đi sâu về nghiên cứu thiết kế các TCHT bằng Violet trong các chủ đề của môn Tự nhiên và xã hội lớp 3. Một số vấn đề về trò chơi học tập 1. Trò chơi Trong Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1994 [10], chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người.
chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính. Từ đó, trò chơi được hiểu theo nghĩa chung nhất, đó là sự giải trí nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người. Theo cách hiểu này, trò chơi chỉ được xem là một trong những hoạt động sống của con người, tương ứng với hoạt động lao động, hoạt động học tập, hoạt động chính trị -xã hội, mà chưa nhấn mạnh đến vai trò và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển nhận thức. Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống.
Đối với trẻ em, trò chơi là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội. Trong trò chơi, nhu cầu và các phẩm chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí được hình thành, thỏa mãn, thể hiện và phát triển. Trẻ em do được chơi nên phát triển. Do vậy, chơi là hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ em.Piaget cho rằng: Trò chơi trẻ em là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ và sự phát triển ấy chính là sự thích nghi [7, tr.
Do vậy, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, khi chơi chính là lúc trẻ phát huy tính tự lực, tư duy, tưởng tượng, những xúc cảm tích cực.Vui chơi giúp cho nhân cách trẻ được phát triển toàn diện, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ vì vậy việc tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ lứa tuổi này là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa giáo dục to lớn. Trò chơi học tập. Về tên gọi, tùy thuộc vào tác giả nhìn nhận trò chơi theo chức năng và ý nghĩa giáo dục mà có các khái niệm khác nhau: 15 Luan van Theo A. Leonchiev: “Trò chơi đó được gọi là TCHT hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi khi tổ chức phải có tài liệu dạy học kèm theo phù hợp với mục đích của trò chơi” [8].
Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về trò chơi dạy học của các nhà nghiên cứu Xô Viết, tác giả Trương Thị Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ em học toán lớp 1”, khẳng định rằng trò chơi dạy học được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục, trò chơi dạy học là trò chơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ [6] Các quan điểm này đều có một điểm chung là: TCHT là tất cả những trò chơi có nội dung gắn với nội dung học tập, nó được sử dụng như một phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập cho học sinh. Hay nói cách khác TCHT là dạng trò chơi có luật chặt chẽ mang tính định hướng đối với sự phát triển trí tuệ. Phân loại Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về việc phân loại trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng. Theo nghiên cứu của nhà giáo dục học Xô - Viết P.Xamarucôva [13], dựa vào tính chất sử dụng đồ chơi và tài liệu học tập, TCHT được phân thành các nhóm sau: - Trò chơi học tập với các đồ vật: là những TC với các đồ vật học tập dân gian, với các hình ghép, với các đồ vật thiên nhiên….Đây là những TC giúp trẻ phát triển tri giác màu sắc, tri giác độ lớn và tri giác hình dạng.
- Trò chơi học tập in ấn - trên bàn: Được thiết kế theo nội dung nhất định. Hướng đến việc làm chính xác thêm các biểu tượng về thế giới xung quanh, hệ thống hóa các kiến thức, phát triển các thao tác tư duy ( phân tích, tổng hợp, phân loại…). Những TC theo loại này như: TC ghép tranh, TC lôtô, đôminô… - Những trò chơi bằng lời: Trong nhóm TC này, có một lượng lớn là TC dân gian. Nhóm TC này chủ yếu giúp trẻ phát triển khả năng chú ý, trí thông minh, phản ứng nhanh.
Ngoài ra còn có thể phân loại TCHT theo các yếu tố như chủ đề, dạng bài, mục đích sử dụng,. Hầu hết các GV đều thiết kế trò chơi theo mục đích sử dụng. 16 Luan van Trong tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM [6], Nguyễn Thị Bích Hồng đã phân TCHT thành 3 loại theo mục đích sử dụng: Loại TC Khởi động Kích thích học tập Khám phá tri thức Tạo hưng phấn trước Kích thích tính tích Khám phá tri thức Mục tiêu khi học cực học tập Thư giãn, kích hoạt Học hào hứng, sôi Trải nghiệm, tạo tình Tác dụng tâm thế học tập động huống có vấn đề Chơi ra chơi, học ra Thao tác chơi là hình Thao tác chơi là nội Đặc điểm học thức học tập dung học tập Trò chơi đa dạng Sử dụng kĩ thuật, Sáng tạo Yêu cầu công nghệ Tùy vào mục đích của GV muốn trẻ lĩnh hội tri thức mà có thể sử dụng các loại TCHT khác nhau trong quá trình giáo dục. Tuy nhiên trò chơi khám phá tri thức mang lại hiệu quả cao nhất trong việc khích thích tính tích cực của HS.
Vai trò Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh tiểu học. Vì vậy, giáo viên phải tạo cho các em môi trường học tập: chơi mà học, học mà chơi. Mỗi dạng trò chơi đều có những đặc điểm và có tác dụng nhất định đối với sự hình thành và phát triển tâm lí - nhân cách của trẻ em. Về phương diện phát triển trí tuệ, TCHT có thế mạnh hơn cả.
Nhiệm vụ giáo dục chủ yếu của TCHT là phát triển trí tuệ cho trẻ em. TCHT được xem như là dạng hoạt động mang tính thực hành của trẻ. Trong đó, trẻ vận dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm và năng lực tư duy của mình để giải quyết nhiệm vụ thông qua hoạt động vui chơi hấp dẫn, không bị gò bó. TCHT tạo nên nhiều tính huống đòi hỏi trẻ phải vận dụng tri thức một cách đa dạng, thúc đẩy sự hoạt động trí tuệ.
Thêm vào đó, tri thức của trẻ cũng được củng cố, chính xác hơn và phát triển các quá trình chú ý, ghi nhớ có chủ định. 17 Luan van Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là giải pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp [12, tr14]. Khi chơi, học sinh luôn sử dụng các giác quan (5 giác quan: xúc giác, thính giác, thị giác, vị giác và khứu giác) để phân tích, so sánh, tổng hợp, qua đó ngôn ngữ và tư duy được phát triển. Tổ chức trò chơi khoa học hợp lí còn giúp học sinh phát triển về mặt thể chất một cách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám đông.
Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát triển tư duy khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển chuẩn xác. Việc tổ chức TCHT trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực góp phần tạo không khí hào hứng thoả mãn tâm sinh lí HS lứa tuổi TH, thúc đẩy tính tích cực hoạt động sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng. Ngoài ra, sân chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cần thiết: kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh giá. Thiết kế trò chơi học tập bằng các phần mềm CNTT a.
MS Powerpoint Microsoft PowerPoint (gọi tắt là PowerPoint) là một phần mềm trình diễn do hãng Microsoft phát triển. PowerPoint là một phần của gói ứng dụng văn phòng Microsoft Office có chức năng hỗ trợ việc thiết kế, soạn thảo và định dạng nội dung tài liệu, rất thuận tiện cho việc trình bày trong giảng dạy, thuyết trình. Là một công cụ để tạo và trình diễn các bài giảng, bài thuyết trình với các tính năng hiện đại giúp GV tạo các bài giảng đa phương tiện bằng cách hỗ trợ văn bản, hình ảnh (động và tĩnh), âm thanh.